Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

 

 

Chú Giải BỘ PHÁP T
(Atthasālinī)

Tác giả: BUDDHAGHOSA
Bản tiếng Anh: PE. MAUNG TIN, M.A
Biên tập:  RHYS DAVIDS

Bản tiếng Việt: TỲ-KHƯU THIỆN MINH

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


 

MỤC LỤC

[00]

Lời nói đầu
KỆ NHẬP MÔN

[01]

Quyển I

PHẦN I - MẪU ÐỀ (MĀTIKĀ)
Chương I: MẪU ÐỀ TAM
Chương II: MẪU ÐỀ NHỊ
Chương III: NHỮNG BỘ KINH (SUTTAS)

PHẦN II: PHÂN TÍCH CÁC THUẬT NGỮ
Chương I: MẪU ÐỀ TAM VỀ THIỆN PHÁP

[02]

PHẦN III: PHÁP VỀ ‘MÔN’ (hoặc ‘CỔNG’)
Chương I: ‘MÔN’ CHÍNH LÀ THÂN NGHIỆP
Chương II: ‘MÔN’ THUỘC KHẨU NGHIỆP
Chương III: ‘MÔN’ THUỘC Ý NGHIỆP
Chương IV: NGHIỆP (KAMMA)
Chương V: BẤT THIỆN NGHIỆP ÐẠO
Chương VI: THIỆN NGHIỆP ÐẠO
Chương VII: KẾT LUẬN

[03]

PHẦN IV: KINH NGHIỆM TÂM THIỆN TRONG DỤC GIỚI
Chương I: BẢN TÓM TẮT TRẠNG THÁI TÂM
Chương II: BÀI PHÁP VỀ PHẦN CHÚ GIẢI
Chương III: PHẦN KẾT LUẬN
Chương IV: PHẦN NÓI VỀ TRỐNG RỖNG
Chương V: LOẠI TÂM THỨ HAI
Chương VI: LOẠI TÂM THỨ BA
Chương VII: LOẠI TÂM THỨ TƯ
Chương VIII: CÁC LOẠI TÂM THỨ NĂM, THỨ SÁU,  THỨ BẢY VÀ THỨ TÁM

[04]

PHẦN V: BÀI PHÁP TÂM THIỆN NƠI CÕI SẮC GIỚI
Chương I: HỆ THỐNG BỐN BẬC THIỀN
Chương II: ÐỆ NHỊ THIỀN .
Chương III: ÐỆ TAM THIỀN
Chương IV: ÐỆ TỨ THIỀN
Chương V:  ÐỆ  NGŨ THIỀN
Chương VI: BỐN ÐIỀU TIẾN HÀNH
Chương VII: BỐN ÐỐI TƯỢNG CỦA Ý
Chương VIII: MƯỜI SÁU ÐIỀU KẾT HỢP
Chương IX: ÐỀ MỤC HOÀN TỊNH (KASINA)
Chương X: NHỮNG ÐỀ MỤC KHÁC
Chương XI: BÀI PHÁP VỀ ÐỀ MỤC THẮNG XỨ
Chương XII: VỀ GIẢI THOÁT
Chương XIII: PHẠM TRÚ
Chương XIV: VỀ BẤT TỊNH

PHẦN VI: TÂM THIỆN VÔ SẮC GIỚI

PHẦN VII: TÂM THIỆN NƠI BA CÕI KHÁC NHAU

[05]

PHẦN VIII: TÂM SIÊU THẾ (LOKUTTARA)
Chương I: SƠ ÐẠO
Chương II: NHỊ ÐẠO
Chương III: TAM ÐẠO VÀ TỨ ÐẠO

 PHẦN IX: PHÁP BẤT THIỆN
Chương I: PHÁP TÓM LƯỢC CÁC TRẠNG THÁI TÂM
Chương II: LOẠI TÂM BẤT THIỆN ÐẦU TIÊN
Chương III: LOẠI TÂM BẤT THIỆN THỨ NHÌ VÀ  CÁC LOẠI TÂM TIẾP THEO

[06]

PHẦN X: TÂM VÔ KÝ
Chương I: NHỊ NGUYÊN NHẬN THỨC TRÍ TUỆ
Chương II: QUẢ THIỆN DỤC GIỚI
Chương III: TÂM QUẢ SẮC GIỚI VÀ VÔ SẮC GIỚI
Chương IV: QUẢ SIÊU THẾ
Chương V: QUẢ BẤT THIỆN
Chương VI: TÂM TỐ  Ý THỨC GIỚI
Chương VII: KẾT LUẬN

[07]

Quyển II: NHỮNG ÐẶC TÍNH SẮC PHÁP (RŪPA)

PHẦN I:
Chương I: SẮC PHÁP LÀ VÔ KÝ
Chương II: SẮC TỨ ÐẠI HIỂN
Chương III: NHỮNG ÐẶC TÍNH CỦA SẮC Y SINH

[08]

PHẦN II: CHƯƠNG TOÁT YẾU (NIKKHEPA)
Chương I: TAM ÐỀ
Chương II: NHỮNG NHỊ ÐỀ VÀ CÁC NHÓM KHÁC

[09]

Quyển III: Chương Trích Yếu

-ooOoo-

Lời nói đầu

Tại Miến Ðiện, Atthasālinī[1] là một tác phẩm nổi tiếng nhất do ngài Buddhaghosa biên soạn. Các vị Tỳ-khưu đã học hỏi nghiên cứu rất sâu rộng và nhiều tác giả biên soạn các tác phẩm liên quan đến Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) thường xuyên trích dẫn. Cũng vậy đối với độc giả phương Tây, khi đọc qua bản dịch tiếng Anh tác phẩm này, hiện đã ra mắt độc giả, đôi chỗ cũng không tán thành cách đánh giá của ngài Buddhaghosa. Chính bản thân của tác phẩm cũng khiến cho nhiều người phải nghi ngờ với ngài, trong khi Tuệ giác về những học thuyết chính yếu của Ðức Phật và triết học Phật giáo là điều cần thiết đến nhường nào, nếu như ngài Buddhaghosa được đánh giá chính xác, và đối với ngài điều đó không thể thực hiện được trừ phi rõ ràng là ngài có cảm tình với tư tưởng Phật giáo. Trong tác phẩm hiện hành Buddhaghosa không nhắm mục tiêu quảng bá bất kỳ học thuyết đặc thù nào; ngài chỉ quan tâm đến việc giải thích ý nghĩa các từ xuất hiện trong cuốn Dhammasaṅganī. Thực hiện công việc này ngài Buddhaghosa thực sự đã gieo những viên ngọc quí thuộc hệ tư tưởng của ngài ở bất kỳ cơ hội thuận tiện nào và như vậy ngài đã nâng cao giá trị tác phẩm. Những định nghĩa các từ rất tẻ nhạt, (và đôi khi còn vô nghĩa) đối với một học giả Châu Âu lại vô cùng quan trọng đối với các sinh viên Phật học, họ phải hiểu được ý nghĩa các từ khái niệm trước khi có thể hiểu được chân lý tuyệt đối. Chính vì vậy chúng ta phải lướt qua định nghĩa các từ trong cuốn sách này, trước khi đi sâu vào hệ tư tưởng trong đó.

Các công trình nghiên cứu về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) đã thực hiện bước đi như vậy kể từ khi Bà Rhys Davids lược dịch tác phẩm Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) đầu tiên sang tiếng Anh, tức là cuốn Dhammasaṅganī vào năm 1900 - rất nhiều thuật ngữ tâm lý học được sử dụng trong bản dịch đó chính bà đã thay đổi đôi chút thông qua việc tham khảo với ngài S.Z Aung. Chính tôi cũng tận dụng được cách cải tiến này, và đã đưa các từ đó vào bản dịch Dhammasaṅganī như đã được các vị tiền bối phiên dịch tác phẩm Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) chấp thuận. Tôi đã ghi lại ở các chú giải cuối trang trong bản dịch này. Một số trường hợp chính tôi cũng đã đưa vào một vài ý nghĩa mới của tôi nữa.

Tôi chẳng phải thêm thắt điều gì vào những gì Bà Rhys David đã nói, trong cuốn Tâm lý Ðạo đức Phật giáo của bà. Về cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) gồm có thời điểm viết và tầm quan trọng của tác phẩm này. Nhưng tôi chỉ tận dụng cơ hội này để ghi lại sự việc đánh giá đúng đắn về Tuệ giác uyên bác đã khiến bà Rhys Davids cho dù không có bất kỳ trợ giúp nào từ phía tiếng Miến Ðiện, nhưng đã đúc kết được trong Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) những ghi chú cuối trang mang tính gợi ý của bà. Ðiều này chẳng phải là một thắng lợi nhỏ đối với Tuệ giác về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) mà dịch giả Anh ngữ dịch cuốn đầu tiên trong bộ Vi Diệu Pháp và các vị tiền bối đi tiên phong phương Tây về chủ đề này, sau một chuỗi thời gian nghiên cứu liên tục hai mươi năm nên biên tập lại và rà soát lại bản dịch hiện hành tập chú giải này.

Từ bản chất nội dung cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) là một cuốn sách rất khó dịch. Chính vì thế tôi đã phải cố gắng hết sức một cách phóng khoáng ngay cả đôi khi phải hy sinh cả lối hành văn chỉ nhằm làm rõ ý nghĩa mà thôi. Trong quá trình thực hiện bản dịch, tôi đã khám phá ra rất nhiều điểm sai và bỏ sót trong bản in đã được biên tập cho Hội Thánh Ðiển Pāli (P.T.S) do giáo sư Edward Muller thực hin, Chính vì thế dựa trên căn bản bản dịch của tôi về hai cuốn sách bằng tiếng Miến Ðiện, một do Sāsanajotika Pitaka Press, Rangoon xuất bản vào năm 1913, và cuốn kia xuất bản trong loạt bài báo trong tạp chí nổi tiếng Pyigiy-Mandaing Press Series do ngài Saya Pye, Aggamahapandita thực hiện. Tôi cũng đã rút tỉa được khá nhiều trợ giúp từ hai bản dịch tiếng Miến Ðiện này về cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) cụ thể là cuốn Old Nissaya do MS. Bernard Free Library, Rangoon) do ngài Ariyālaṅkāra thực hiện vào nửa đầu thế kỷ 18, và cuốn New Nissaya mới (được in tại Kemmendine, Rangoon, vào năm 1905) do ngài Pyi Sadaw thực hiện vào nửa thế kỷ 19. Tôi cũng đã trích các tập chú giải Pāli hay và các tập chú giải phụ khác nữa mang tên tác phẩm Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) Sau đây:

- Phân đoạn (Tīkā) hay MulaTīkā do Ananda thực hiện tại Ceylon.

- Anutīka, một cuốn chú giải phụ về MulaTīkā, do ngài Hộ pháp Dhammapala thực hiện tại Ceylon.

- Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhimagga) phân đoạn (Tīkā) (cũng được gọi là Paramatthamañjūsā phân đoạn (Tīkā) hay là Mahatika) do Hộ pháp Dhammapala thực hiện tại Ceylon.

- Saratthadipani, do Xá Lợi Phất (Sāriputta) thực hịên tại Ceylon.

- Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) Do tuần (yojana), do Sirimangala thực hiện tại Miến Ðiện vào thế kỷ 14.

- Abhidhana Phân đoạn (Tīkā) do một vị bộ trưởng Sirimahacaturangabala thực tại Miến Ðiện, thế kỷ thứ 4.

- Manidipa, một tập chú giải phụ về MulaTīkā do Ariyavamsa thực hiện tại Miến Ðiện vào thế kỷ 15.

- Vinayālaṅkāra, do Tipiṭakālaṅkāra thực hiện tại Miến điện vào thế kỷ 17.

- Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) Ganthi (pada) do Patamagyaw Aung Zan Hta Sayadaw thực hiện vào thế kỷ 18.

Chính bản MSS các tác phẩm này có thể được tra cứu tại thư viện Bernard Free, Rangoon. Sáu tập đầu tiên cũng đã được in tại Rangoon. Tôi không biết ba tập cuối đã được in chưa.

Những trích đoạn tôi đã thực hiện từ các tác phẩm này giúp rọi sáng một chút tác phẩm Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) cũng sẽ dùng để chứng tỏ tầm quan trọng trong việc nghiên cứu tiếp các vị học giả phiên dịch một đoạn sách từ tiếng Pāli vào thời xa xưa. Ðó là giá trị lịch sử phát triển của bất kỳ điểm tín lý nào, kẻo chúng ta không để mất đi các đoạn trích khác chỉ mang tính tự điển học đã được chỉ định tỷ như trường hợp của bà Rhys Davids, thành một chú giải đem lại lợi ích lớn cho các sinh viên nghiên cứu tiếng Pāli.[2]

Tôi cũng phải chân thành cảm ơn Ông Shwe Zan Aung, B.A. người đã hết sức ưu ái đọc qua bản dịch nháp ngay khi tôi vừa kết thúc bản dịch bài “pháp” về ‘Môn’ (tr. 140). Và tôi cũng xin được gửi lời cám ơn rất nhiều đến bà Rhys Davids, người đầu tiên đã động viên tôi thực hiện công việc khó khăn này. Với một sự nhã nhặn hiếm thấy đã chỉ vẽ cho tôi thấy hàng loạt những từ cần thiết, kèm theo nhiều điều khuyên và lời nhắc, lời bình và nhiều đề nghị khác nữa.

Cuối cùng, tôi cũng phải cảm ơn một người bạn rất thân yêu của tôi đã giúp tôi rất nhiều trong việc dịch các bài kệ tiếng Pāli.

Ðại học Rangoon
MAUNG TIN
Tháng 4, năm 1920

--ooOoo--

KỆ NHẬP MÔN

 Thành Kính Đảnh lễ Ðức Thế Tôn, bậc A-la-hán,
Chánh Đẳng Chánh Giác

Lòng thương xót tuôn đổ trên ngàn vạn sanh linh.
Tuệ Giác đấng Mâu Ni lan toả vạn vật tri giác.
Tâm ngài truyền toả tình thương tràn cõi giới
Sau Hiện Song Thông
[3], ngài ngự trên ngai
Tòa Tháp Bảo nơi cõi Tam Thập tam Thiên
.
[4]
Tựa Thái dương toả sáng đỉnh Du-Càn-Da-La
Trên đỉnh Pandukambala, ngai đá ngài toạ lạc.
Dưới gốc cây tên gọi Paricchattaka
Nhờ tuệ giác ngài ban thời pháp
Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) do chư thiên dẫn lối.
dẫn thân mẫu
[5] ngài tới từ muôn cõi nhân sinh.
vây quanh ngài từ muôn phương vạn hướng.
Tôi bái phục dưới chân Giác Giả vinh quang;
Tôi tôn kính Tăng Ðoàn cùng giáo pháp.
Chẳng điều ác nào khiến ngài phải khuất phục.
Trước Tam Bảo, Chúa Tể mọi chư thiên.
Rồi sau đó, Làm Lãnh Chúa mở miệng ngài giảng dạy,
Cho Chư thiên giáo lý
[6] cao siêu và súc tích.
Cho Xá-lợ
i-phất Trưởng Lão, đang khi ngài hầu hạ.
Ðấng Tuệ Giác trên bờ hồ Anotatta
[7].
Rồi những gì trưởng Lão đã nghe, và chứng kiến.
Cho Tăng Ðoàn khắp muôn cõi dân gian ngài giảng dạy.
Ðể hết thảy nhờ ngài truyền dạy mà ghi nhớ.
Rồi khi Ðại Hội nhóm họp qui tụ đông đủ.
Lại nhờ tới Quí Tử Tỳ-đề-ha
[8] (Videhi). nhắc lại.
Chính những lời giảng dạy ngài đã cùng diễn giảng.
Buddhaghosa
[9], Tỳ-khưu vô tỳ vết.
Ðầy đức độ, và đạt đến giác ngộ cao siêu.
Những gì Vi Diệu Pháp mang ý nghĩa từ lâu.
Ngài giải thích cho bá tánh bằng mọi phương cách.
Bản chú giải cổ xưa truyền “tụng niệm” tại Ðại Hội lần đầu,
Cho các vị chức sắc Cao tăng, Mahakassapo,
Sau này đến lượt các chư vị tiên tri hiền triết.
Ngài 
Mahīnda được đem sang rao giảng tại Ceylon .
Một hòn đảo duy nhất được diễm phúc đón nhận,
Cả bằng lời truyền dạy lẫn ghi vào sách vở
[10],
Bằng ngôn ngữ của chính dân bản xứ
[2] Lựơc bớt dần những điều truyền khẩu xa xưa ghi lá dừa-thốt nốt,
Ðã có thời Tambapanni rất thịnh hành, rồi lại truyền
Ghi lại bằng văn từ hoàn hảo trên lá cây (thốt nốt).
Tuân thủ mọi quy luật của nguyên bản kinh văn,
Soi sáng tư tưởng cho những ai đang cư ngụ
Trong Linh Tự Vĩ Ðại, không vướng mắc bất kỳ một tỳ vết,
Cũng không căn cứ trên pha tạp dị giáo
[11],
Mang ý nghĩa đích thực Vi Diệu Pháp truyền dạy ra.
Bằng ngôn từ đầy trí tuệ chọn lọc còn thuyết phục các vị thánh hiền.
Từ những lời chú giải Kinh tạng được truyền tụng
Tôi kể lại ý nghĩa trung thực Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhimagga).
Gồm những điểm cần phải  tu tập.
Ðể đạt tới hành vi chánh trực, hiểu biết thâm sâu và giác ngộ.
Vì vậy ta tuyên bố từng điểm giáo pháp gộp trong Kinh tạng.
Hãy để tâm chú ý lắng nghe,
Khi ta  diễn giảng Vi Diệu Pháp
[12]
Gồm những điều khó hiểu và cực kỳ phức tạp.
Ðể có dịch được nghe và được hiểu trọn vẹn.

Trong tài liệu này, ‘Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) có nghĩa là gì? Chính là điều trổi vượt hơn và tách biệt khỏi Pháp (tức là các Kinh tạng). Tiếp đầu ngữ ‘Abhi’ cũng tương tự với ‘Ati’, được sử dụng theo nghĩa điều gì đó vượt trội hơn hẳn và độc đáo như trong các đoạn ta đọc thấy ‘Hỡi các vị, tôi phải chịu những nỗi đau cùng cực áp đảo (abhikkamantī); và xin đừng làm dịch bớt [13](những nỗi đau đó)’; và ‘bằng vẻ đẹp[14] kiều diễm kiệt xuất (abhikkantā)’. Còn nữa: ‘Do đó, khi những tấm màn che nắng và cờ xí được chăng lên, tấm màn che nắng nào trổi vượt hơn về kích cỡ và có mầu sắc và hình dáng đặc biệt nổi bậc thì được gọi là ‘atichattam’, (màn che nắng tuyệt vời nhất) và cờ xí nào với khổ rộng nhất và được trang điểm với nhiều hình vẽ và mầu sắc lộng lẫy nhất cũng được gọi là atidhaja, ‘tức là lá ưu việt hẳn.’ Và ngay cả khi các hoàng tử và các vị Chư thiên tụ họp lại với nhau, vị hoàng tử nào nổi bậc đặc biệt và vượt trội hơn hẳn với các vị khác về gốc gác thân tộc, về của cải tài sản, rồi dáng vẻ tráng lệ, rồi quyền thế và nhiều thành tích khác ta cũng gọi vị hoàng tử đó là atirājakumāra, ‘tức là Hoàng Tử thượng hạng’; và rồi một vị Chư Thiên nào đó cũng nổi bậc và vượt trội hơn hẳn những vị khác do tuổi tác, sắc đẹp, quyền uy, vẻ lẫm liệt oai phong cộng với những thành tích đa dạng khác nữa cũng được gọi là atideva hay abhideva, ‘vị chư thiên không ai sánh bằng. Cũng tương tự như vậy, một vị Phạm Thiên (Brahma) cũng được gọi với tên là Atibrahma (Ðấng Phạm Thiên ưu việt’). Ngay cả, ‘giáo pháp’ hay ‘chánh pháp’cũng như vậy và được gọi là Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), vì giáo pháp này trổi vượt và khác biệt do nhiều phẩm chất đa dạng hơn so với ‘giáo pháp’ bình thường khác. Trong Kinh tạng (Suttanta), thì Ngũ “Uẩn” chỉ được phân biệt một cách cục bộ chứ không mang tính triệt để. Trong tác phẩm Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), Ngũ Uẩn được phân biệt đầy đủ nhờ phương pháp phân biệt- thành chương Kinh tạng, phân biệt-Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) và cuối cùng là giáo lý. Cũng tương tự như vậy đối với 12 xứ, 18 giới, Tứ Diệu Ðế, hai mươi hai quyền và mười hai duyên khởi. [3] Chỉ duy nhất trong Quyền Phân biệt[15] (Indriya Vibhaṅga) là không có sự phân biệt- theo Kinh tạng, và trong Phân biệt về duyên khởi lại thiếu mất phương pháp giáo lý và trong Kinh tạng, Bốn niệm xứ (application of Mindfulness) được phân biệt theo từng phần, tuy nhiên không triệt để. Nhưng trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), chúng được phân biệt đến từng chi tiết theo ba phương pháp. Và tương tự như vậy đối với Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Thất Giác Chi, Bát Chánh Ðạo, Bốn Thiền (Jhāna), Bốn Vô Lượng, Ngũ Giới, Tứ Vô Ngại Giải. Trong số những thành tố này, chỉ duy Ðiều Học (Sikkhapada) Phân biệt, lại không có sự phân biệt-Kinh tạng trong đó. Trong Kinh tạng, Tuệ giác được phân biệt theo từng phần, tuy không triệt để. Và tương tự như vậy đối với những Phiền não (kilesa). Nhưng trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) còn tồn tại một cách phân biệt chi tiết về Tuệ giác theo bản mục lục đã được sắp đặt: ‘Theo phương pháp đơn nhất, nền tảng Tuệ giác là[16]’ v.v... Tương tự như vậy, những Phiền não được phân biệt theo nhiều cách thức, bắt đầu bằng phương pháp đơn nhất[17]. Trong Kinh tạng, nguồn gốc vũ trụ cũng được phân biệt thành từng phần, chớ không triệt để. Tuy nhiên nhờ ba phương pháp trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) mà vũ trụ được phân biệt một cách triệt để. Do đó, cần hiểu rằng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) vượt quá và khác biệt với giáo pháp hay chánh pháp là vậy.

Các vị Luận sư vẫn thống nhất ý kiến cho rằng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) được chia thành 7 bộ, đó là: Bộ Pháp Tụ (Dhammasaganī), Bộ Phân Tích (Vibhaga), Bộ Chất Ngữ (Dhātukathā), Bộ Nhân Chế Ðịnh (Puggalapaññatti), Thuyết Luận Sự (Kathāvatthu), Bộ Song Ðối (Yamaka) và Bộ Vị Trí (Paṭṭhāna).

Nhưng trường phái Vitanda cho rằng: ‘Tại sao lại đưa Thuyết Luận Sự (Kathavạtthu) vào Vi Diệu Pháp? Phải chăng Tissa, con trai của Moggali, 218 năm sau khi Ðức Phật nhập Niết Bàn (Parinibbana) đã phân biệt lại như vậy sao? Do đó, đây (chỉ) là lời các đệ tử Ðức Phật nói ra như vậy mà thôi. Hãy loại bỏ điều này sang một bên’. ‘Vậy thì phải chăng trong Vi Diệu Pháp chỉ có 6 bộ mà thôi sao?”. ‘Tôi chẳng nói như vậy’. ‘Vậy bạn nói gì không?’. ‘Có bảy bộ cả thảy’. ‘Bằng cách nào bạn có được 7 bộ?’. ‘Có một bộ được gọi là Mahadhammahadaya (trong Bài Bình Luận Vĩ Ðại), do đó, tôi đã có được 7 bộ. ‘Trong Mahadhammahadaya, chẳng có điều gì được nói đến trong bộ Dhammahadaya Vibhaṅga[18] (Phân biệt) cả. Và trong phần giáo lý còn lại, đặc biệt là bộ Mahadhammahadaya của bạn, tự nó không đủ dài để làm thành một luận thuyết riêng lẻ. Thế nên phải kể cả Thuyết Luận Sự (Kathāvatthu) thì mới đủ 7 bộ. ‘[4] Không, không phải vậy đối với Thuyết Luận Sự (Kathāvatthu) đâu, còn có Maha-Dhātukathā[19]; nếu kể cả bộ này, tôi có được con số 7 bộ cả thảy’. ‘Nhưng điều này cũng chẳng có gì mới mẻ cả[20]. Những kinh văn còn lại, đặc biệt là kinh văn trong Bộ vừa nêu trên không đủ dài để được coi như là một tiểu luận. Do đó, Thuyết Luận Sự (Kathāvatthu) được kể như là bộ thứ 7’. Khi Ðức Thế Tôn giảng dạy cho chúng ta bảy luận thuyết, khi dụng tới vấn đề trong Thuyết Luận Sự (Kathāvatthu), ngài bắt đầu dẫn nhập vào lý thuyết Bản Ngã (hoặc linh hồn) một yêu cầu đòi hỏi 8 mặt, trong bốn câu hỏi mỗi câu lại chia thành hai cách phân biệt[21] dài gấp 5 lần như vậy và được sắp xếp thành một bản danh mục trong đó mỗi kinh văn đều không đủ dài để có thể được coi như là một bài tường thuật, được thông qua trong tất cả những Bài Pháp: ‘Phải chăng chúng ta có nhận ra ý nghĩa một sự kiện thực sự và tuyệt đối không? Có đấây. Thế phải chăng bằng phương cách giống hệt như vậy chúng ta có nhận ra sự kiện thực tiễn và cơ bản đã nhận biết trước đó không? Ðiều này thì không, ta không thể làm thế được. Hãy thừa nhận lời phản bác đó đi. Phải chăng chúng ta hiểu được như vậy trong mọi trường hợp lý lẽ của sự thật cơ bản và tuyệt đối chăng? Hay không nhận ra được như vậy? Phải chăng con người ta luôn luôn nhận biết được sự thật cơ bản và tuyệt đối chăng? Hay chúng ta không làm được như vậy? Phải chăng chúng ta có hiểu được đủ mọi thứ theo nghĩa đó hay chúng ta không thể làm được như vậy[22]? Do đó, bằng cách chứng tỏ tám khía cạnh và những lời phản bác tương ứng, Ðức Phật đã sắp đặt[23] được một bản đề mục.

Giờ đây, khi sắp xếp bản đề mục, ngài đã thấy trước là: sau khi ngài viên tịch được 218 năm, thì Tissa, con trai Moggali, đang lúc ngồi thiền giữa một ngàn Tỳ-khưu, sẽ soạn thảo được bộ Kathāvatthu một cách kỹ lưỡng, trong phạm vi Trường bộ (Dīgha Nikāya), cùng gộp lại 500 câu chính thống và 500 câu phi chính thống.

Như vậy, Tissa, con trai của Moggali, đã chú giải tác phẩm này không dựa trên hiểu biết của chính bản thân, nhưng căn cứ vào bản đề mục đã được sắp đặt sẵn, Giống như phương pháp là Ðức Phật đã đưa ra. Do vậy[24], toàn bộ cuốn Thuyết Luận Sự trở thành lời của Ðức Phật. Căn cứ vào thông lệ nào vậy? Thưa theo thông lệ [5] Bộ Madhupindika[25] và những bộ khác[26] . Trong Bộ Suttanta, sau khi sắp xếp phần mở đầu một bài Pháp, Ðức Thế Tôn đã kết luận như sau: ‘Hỡi Chư vị Tỳ-khưu, nhờ những nhân duyên[27] này, những nhân tố kéo dài sự kiện tái sanh đang vây hãm con người ta[28]. Ở thời điểm này, nếu chẳng có gì khiến ta hài lòng cũng như, tự hào, hoặc để so sánh với, thì quả thật đây chính là điểm kết thúc của khuynh hướng dục vọng tiềm ẩn v.v... – rồi ngài đứng dậy và nhập thiền. Các Tỳ-khưu, đã đón nhận giáo lý của ngài, tiến lại gần Mahakaccana và hỏi ngài ý nghĩa của phần mở đầu Ðức Phật Toàn Tri đã sắp đặt. Vì không nhận được câu trả lời trực tiếp, vị Trưởng Lão đã lên tiếng bằng cách tỏ lòng tôn kính Ðức Phật như sau: ‘Thưa chư Tỳ-khưu, một người ước mơ và tìm kiếm sức sống sẽ ghi nhớ dụ ngôn này về sức sống – Ðức Phật giống như lõi một thân cây, các đệ tử của ngài là cành cây và lá cây xum xuê. Thưa chư Tỳ-khưu, đối với Ðức Phật, đấng hiểu thấu tất cả chúng sanh, ngài đã thấy rõ chúng sanh có khả năng nhận thức[29] được, ngài chính là con mắt trí tuệ[30] (hạ giới), là Ðấng Tuệ Giác[31] nhập thế, ngài giống tựa những thành tố trí tuệ[32] đối với hạ giới, tựa Ðạo Thánh Thiện [33](Ariyan Path) đối với hạ giới, là diễn giải và là người giác ngộ Tứ Diệu Ðế ngài chú giải ý nghĩa Tứ Diệu Ðế đó, người đem lại bất tử trường sinh, là bậc thầy giáo pháp, là Ðấng Như Lai. Sau khi ca ngợi Vị Ðạo sư (đức Phật), theo lời thỉnh cầu của chư vị Tỳ-khưu, Ngài đã diễn giải đến từng chi tiết ý nghĩa phần mở đầu bài Pháp ngài đã sắp đặt và sai các vị ra đi với lời dặn dò như sau: ‘Thưa chư vị, nếu chư vị muốn hãy cứ đến gặp Ðức Phật và hỏi ngài giải thích cho ý nghĩa những gì chưa hiểu rõ. Xin chư vị nên chấp nhận những lời giải thích của ngài, sao cho, nếu những giải thích đó phù hợp với sự toàn tri toàn thức, thì xin quí chư vị hãy tiếp nhận; bằng không, xin hãy cứ loại bỏ đi’. Họ đã quay lại với Ðức Phật và hỏi ngài. Ðạo sư (tức Ðức Phật), không viện dẫn đến bất cứ lời phát biểu không đúng đắn nào của Kaccana, đã ngẩng cổ lên cao, giống như chiếc trống bằng vàng và hít một hơi dài qua miệng cao quý của ngài, yêu kiều tao nhã như bông sen mới nở, ngài cất lên giọng Phạm Thiên[34] và nói: ‘Tuyệt vời! Tuyệt vời!’ Ngài dặn dò thêm Vị Trưởng Lão: ‘Nầy chư Tỳ-khưu, Mahakaccana thật uyên bác, Mahakaccana thật trí tuệ sâu sắc. Nếu chư vị hỏi ta thêm cùng một câu hỏi này, ta sẽ trả lời đúng như những gì ngài đã trả lời. Do đó, kể từ khi bậc Ðạo sư (đức Phật) đồng ý tán thành, thì toàn bộ trở thành lời của Ðức Phật. Và tương tự như vậy đối với các Bộ do ngài Ananda tôn giả diễn giải cũng như nhiều vị khác nữa.

Từ đó, đang khi giảng 7 bộ, lúc diễn giải tới bộ Thuyết Luận Sự (Kathāvatthu), Ðức Phật đã sắp xếp bản đề mục như đã nói đến ở trên. [6] Trong khi giảng, ngài đã thấy trước sau khi viên tịch được 218 năm, Tissa, con trai của Moggali, trong lúc ngồi thiền giữa một ngàn chư vị Tỳ-khưu, sẽ soạn thảo kỹ lưỡng bộ Thuyết Luận Sự (Kathāvatthu), như đã nói đến ở trên. Tissa, con trai Moggali, đã chú giải bộ không theo hiểu biết riêng của chính bản thân, nhưng căn cứ vào bản đề mục Ðức Phật đã sắp đặt trước, cũng như dựa phương pháp do chính Bậc Ðạo sư (tức Ðức Phật) đã đề ra. Do vậy, toàn bộ trở thành lời của Ðức Phật. Từ đó, Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) gồm đầy đủ 7 bộ, kể cả Thuyết Luận Sư ï(Kathāvatthu) .

Ðến đây, Bộ đầu tiên trong 7 bộ đó chính là Dhammasaṅganī, Bộ được phân thành bốn phần, gồm những phân biệt như sau: bàn về tâm (consciousness), về Sắc, bản tóm tắt và giải thích. Trong phần phân biệt theo tâm (consciousness), có tám loại Pháp thiện (trạng thái) nổi lên trong cõi Dục giới, mười hai loại trạng thái tâm bất thiện (trạng thái), mười sáu tâm quả thiện, bảy tâm quả bất thiện, mười một loại tâm tố[35]û(kiriya); năm loại tâm thiện nổi lên trong cõi Sắc, năm tâm quả từ đó mà ra, năm tâm tố; bốn loại tâm thiện nổi lên nơi cõi Vô sắc, bốn tâm quả từ đó mà ra, bốn loại tâm tố, bốn trạng thái tâm thiện siêu thế[36] (lokuttara), bốn tâm quả từ đó mà ra; tổng cộng có tất cả tám mươi chín loại tạo thành những phần sắp loại về tâm thức. Phần này cũng được gọi là Chương nói về trạng thái tâm thức. Thuộc phạm vi chuyện kể, phần này vượt quá sáu câu kệ[37], nhưng khi triển khai, đúng là phần này có thể bàn đến vô tận và vô lượng.

Tiếp đến, là phần phân biệt Sắc,[38] còn được biết đến là Chương bàn về Sắc, trong đó, Sắc được phân biệt và sắp loại đến từng chi tiết, theo bản đề mục đã được sắp xếp phương pháp đơn nhất, phương pháp đối ngẫu v.v... Về phạm vi văn nói, phần này vượt quá hai bài kệ, nhưng khi triển khai, đúng là phần này cũng có thể bàn đến vô tận và vô lượng.

Tiếp theo là phần tổng kết căn cứ vào những căn (nguyên), các uẩn (yếu hiệp), những ‘Môn’ (cửa), những thực trạng hiện hữu, hậu quả hay ý nghĩa, nguyên nhân hoặc chủ đề, danh xưng và giới tính.

Phần này tóm tắt căn (nguyên) và ngũ uẩn.
rọi các‘môn’các cõi hiện hữu, ý nghĩa và đề tài,
danh xưng, giới tính - và như vậy có tên gọi là Tổng Kết.

Phần này cũng còn được gọi là Chương bàn về tóm tắt sắc[39].

Về phạm vi văn nói, phần này vượt quá 3 bài kệ, nhưng khi triển khai thì cũng có thể kéo dài vô tận và vô lượng.

Kế đó, đến chương diễn giải, được kết thúc bằng hai câu kệ về tác hại (và phi tác hại), và giải thích ý nghĩa Tam tạng (Pitakas), tạo thành lời của Ðức Phật.[7] Chư vị Tỳ-khưu nào không thể nhớ được những chuỗi đánh số trong Cuốn Sách Vĩ Ðại, thì cần trích dẫn đến phần này. Về phạm vi văn nói, phần này vượt quá hai bài kệ, nhưng khi triển khai, phần này cũng có thể kéo dài vô tận và không thể lường được.

Do đó, về phạm vi văn nói, tổng thể bộ Dhammasaṅganī vượt quá 13 bài kệ, nhưng khi triển khai, phần này cũng có thể kéo dài vô tận và không thể lường được.

Những giới Danh và Sắc
cùng nội dung, chú giải xét toàn khối -
là toàn bộ hiểu biết sâu xa và tinh tuý
của Ðức Phật đã giảng dạy
.

Tiếp theo sau bộ Dhammasaṅganī là bộ Phân biệt (Vibhaṅga), gồm có 18 phần: phân biệt (Danh và Sắc), Ngũ Uẩn, các xứ, các giới, Chân đế, quyền, nguyên nhân duyên khởi, Niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Giác chi, Ðạo, Thiền (Jhāna), vô lượng điều học, vô ngại giải, Tuệ giác, các chủ đề thứ yếu, và Pháp tâm. Trong số này, các uẩn được phân biệt theo ba phương pháp: phân biệt-Bộ, phân biệt–Vi Diệu Pháp, và phân biệt theo học thuyết. thuộc phạm vi Kệ, phần này không vượt quá 5 bài kệ, nhưng khi triển khai, phần này cũng có thể kéo dài vô tận và không thể lường được.

Tiếp sau đây, là các xứ và những gì còn lại cũng được phân biệt theo ba phương pháp. Trong đó, phạm vi Kệ, phân biệt giác quan không vượt quá một bài Kệ. Phân biệt những giới chiếm hai bài Kệ. Tương tự như vậy liên quan đến Tứ Diệu Ðế. Trong việc phân biệt những quyền, không có phương pháp Kinh. Thuộc phạm vi Kệ, phần này vượt quá một Kệ, phân biệt những duyên khởi chiếm sáu bài Kệ, nhưng không có phần học thuyết (hay giáo lý). Việc phân biệt những niệm xứ vượt quá một bài Kệ. Tương tự như vậy đối với Tứ chánh cần, như ý túc, Giác chi và đạo. Việc phân biệt thiền (Jhāna) chiếm hai bài Kệ; việc phân biệt những vô lượng vượt quá một bài Kệ. Trong việc phân biệt các điều học, không áp dụng phương pháp Kinh; về phạm vi văn nói, phần này vượt quá một bài Kệ.[8] Tương tự như vậy đối với vô ngại giải. Việc phân biệt Tuệ giác được phân nhỏ ra thành mười phần. Về phạm vi văn nói, phần này chiếm ba bài Kệ. Việc phân biệt các chủ đề thứ yếu cũng được phân nhỏ thành mười phần. Về phạm vi văn nói, phần này chiếm ba bài Kệ. Việc phân biệt pháp tâm được phân nhỏ ra thành ba phần và thuộc phạm vi văn nói, phần này vượt quá hai bài tường thuật. Nhưng toàn bộ những phạm vi vừa kể trên có khả năng triển khai đến vô tận và vô lượng. Do đó, về phạm vi văn nói, bộ phân tích vượt quá 35 bài Kệ, nhưng khi được triển khai, quả thật là bao la vô tận và vô lượng được.

Tiếp theo, là bộ có tên là Bộ Chất Ngữ (Dhātukathā), gồm 14 phần: (1) phần yếu hiệp (grouped) và bất yếu hiệp (ungrouped). (2) phần bất yếu hiệp được do đặc tính bất yếu hiệp. (3) phần yếu hiệp lại do đặc tính bất yếu hiệp mà ra. (4) phần yếu hiệp do đặc tính yếu hiệp mà có. (5) phần bất yếu hiệp do đặc tính yếu hiệp mà ra. (6) phần tương ưng (associated) và phần bất tương ưng (disscociated). (7) phần bất tương ưng do tương ưng mà ra. (8) phần tương ưng do đặc tính bất tương ưng mà có. (9) phần tương ưng do tương ưng mà có. (10) phần bất tương ưng do đặc tính bất tương ưng mà ra. (11) phần tương ưng và bất tương ưng do đặc tính bất yếu hiệp mà ra. (12) phần yếu hiệp và bất yếu hiệp do đặc tính tương ưng mà có (13) phần tương ưng và bất tương ưng do đặc tính bất yếu hiệp mà ra và (14) phần yếu hiệp và bất yếu hiệp do đặc tính bất tương ưng và phi tập hợp mà có. Về phạm vi văn nói, phần này vượt quá sáu bài Kệ, nhưng khi triển khai, quả thật là bao la vô tận và vô lượng.

Kế đó, đến Bộ Nhân Chế Ðịnh (Puggalapaññatti) dưới sáu tiêu đề: những khái niệm về ngũ uẩn (hay tập hợp), về các xứ, về các giới, các đế, các quyền về cá nhân. Về phạm vi văn (lời) nói, phần này vượt quá năm bài Kệ, nhưng khi triển khai, quả thật là bao la vô tận và vô lượng.

Kế đó, đến bộ Thuyết Luận Sự (Kathāvatthu) cùng với 1000 Bộ: 500 Bộ chính thống và 500 Bộ không chính thống. Về phạm vi văn nói, như đã được nhắc (kể) lại trong các Ðại Hội và hiện nay bản thảo viết trên lá cọ không còn nữa, bộ này cũng dài tương tự như Truờng Bộ Kinh (DīghaNikāya), nhưng khi phát triển, quả thật là bao la vô tận và vô lượng.

Kế đó, đến Bộ Song Ðối (Yamaka), được chia thành mười phần: những uẩn (tập hợp), xứ, giới, chân đế, hành[40], tùy miên (Anusaya) tiềm tàng, tâm (hay ý thức), pháp, và các quyền. Thuộc phạm vi văn nói, phần này chiếm tới 120 bài Kệ, nhưng khi triển khai, quả thật là vô tận và vô lượng.

Kế đó, là Cuốn luận Vĩ Ðại, còn được gọi với tên khác là Paṭṭhāna – Vị trí, được chia thành 24 duyên, theo phương pháp liên quan, đó là: Nhân duyên, Cảnh duyên, Trưởng duyên, Vô gián duyên, Ðẳng vô gián duyên, Ðồng sanh duyên, Hổ tương duyên, Y chỉ duyên, Thân y duyên, Tiền sanh duyên, Hậu sanh duyên, Tập hành duyên, Nghiệp duyên, Quả duyên, Thực duyên, Quyền duyên, Thiền duyên, Ðạo duyên, tương ưng với duyên, Bất tương ưng duyên, Hiện hữu duyên, Vô hữu duyên, Ly duyên và Bất ly duyên.

Ta cần lưu ý đến những điểm sau đây trong bộ Paṭṭhāna – Vị trí: những đoạn Mẫu đề tam về ‘thiện pháp’, v.v..., có tới 22 đoạn. ‘Các pháp (hoặc thuộc tính tâm lý) là những nguyên nhân duyên hay không, có hại hoặc vô hại’; có cả thảy 100 mẫu đề nhị theo kiểu này. Từ ‘các pháp liên quan đến trí hay không gì liên quan đến trí’, đến ‘Thiền quán ‘diệt’ và Thiền quán ‘phi căn nguyên’: những gì còn lại gồm 42 đoạn Mẫu đề nhị. Trong số 22 mẫu đề tam và 100 mẫu đề nhị do Ðức Thế Tôn Toàn Tri pháp, thì toàn bộ đều là những lời trực tiếp của Ðấng Chinh Phục và đã tạo thành bản đề mục cho bảy bộ luận này.

Thế rồi 42 mẫu đề nhị khác xuất phát từ đâu mà có? Chúng được ai sắp đặt và thuyết pháp? Thưa rằng chúng xuất phát cùng với Xá-lợi-phất (Sāriputta), tướng quân Chánh Pháp, đã được chính ngài sắp đặt và thuyết pháp. Nhưng ngài không sắp đặt điều đó theo Tuệ giác-tự tạo riêng của mình. Chúng đã được thu tập từ kinh Eka-Nipata Duka-Nipata từ Tăng Chi Bộ (Anguttara), từ những Ðại Hội (Sangiti) Phật giáo tiên khởi và từ những kinh Dasuttarasuttantas trong bộ Dīgha Nikāya (Trường bộ kinh), nhằm giúp đỡ các đệ tử nghiên cứu Vi Diệu Pháp, trong việc tham khảo Suttantas (Kinh) của họ. Những mẫu đề tam và mẫu đề nhị này đều được bố trí trong một chương tóm tắt. Trong những chương còn lại, Vi-Diệu-Pháp đã được chú giải (cách đặc biệt), cho đến khi ta hiểu thấu đáo được mẫu đề nhị về ‘tác hại’ (và phi tác hại).

Ðức Thế Tôn giảng vị trí mẫu đề tam Tīkā-Paṭṭhāna theo cách thức nối tiếp liên tục chính xác, dựa trên 22 mẫu đề tam, và bộ vị trí mẫu đề nhị Duka- Paṭṭhāna, dựa trên 100 mẫu đề nhị. Sau đó, ngài giảng Duka-Tīkā-Paṭṭhāna, bằng cách lấy 22 mẫu đề tam và đưa vào 100 mẫu đề nhị. Thế rồi một lần nữa, ngài lại giảng TikaDuka-Paṭṭhāna, bằng cách lấy 100 mẫu đề nhị[41] và đưa vào 22 mẫu đề tam. [10] Và bằng cách đưa những mẫu đề tam vào những mẫu đề tam, ngài đã giảng Tīkā -Tīkā- Paṭṭhāna. Và bằng cách đưa những mẫu đề nhị vào những mẫu đề nhị, ngài đã giảng Duka- duka- Paṭṭhāna. Có kinh văn cho rằng: ‘Các bộ Tika, Duka, Dukatika, Tikaduka TikaTika Dukaduka thật đáng ca ngợi và ước ao. Sáu phương pháp này thật sâu xa theo phương cách liên tiếp liên tục chính xác. Trong cuộc đàm đạo bộ Paṭṭhāna cũng như bộ Tīkā- Paṭṭhāna cả hai đều dựa trên 22 mẫu đề tam.

Bộ Duka-Paṭṭhāna dựa trên 100 mẫu đề nhị. Ðức Phật đã giảng DukaTīkā- Paṭṭhāna bằng cách đưa 22 mẫu đề tam vào 100 mẫu đề nhị; Ðức Phật giảng Tīkāduka- Paṭṭhāna bằng cách đưa 100 mẫu đề nhị vào 22 mẫu đề tam; Ðức Phật giảng TīkāTīkā-Paṭṭhāna bằng cách đưa các mẫu đề tam trong số các mẫu đề tam đó; Ðức Phật giảng Dukaduka-Paṭṭhāna bằng cách đưa các mẫu đề nhị vào các mẫu đề nhị. Do đó, theo thứ tự ngược lại, Bộ Paṭṭhāna được chú giải theo 6 phương thức. Vì thế, bài tường thuật nói rằng: ‘Các Bộ Tīkā, Duka, DukaTīkā Tīkā Tīkā Dukaduka thật đáng ca ngợi. Sáu phương pháp này (được hiểu là thuộc về phương pháp hoán vị) theo thứ tự ngược lại quả thật là sâu xa’. Rồi một lần nữa, trong phối hợp phương pháp liên tiếp chính xác và phương pháp thứ tự đảo ngược, cũng chính do Bộ Dukaduka-Paṭṭhāna mà 6 phương thức đó đã được triển khai. Do đó, có kinh văn tường thuật nói rằng: ‘Các Bộ Tīkā, Duka, DukaTīkā, Tīkāduka, TīkāTīkā Dukaduka thật đáng ca ngợi và kính phục. Sáu cách thức phối hợp phương pháp liên tiếp chính xác và phương pháp thứ tự đảo ngược quả thật là sâu xa’. Ngay tức khắc sau bài tường thuật này, Ðức Phật đã pháp việc áp dụng cùng 6 phương thức phối hợp với phương pháp thứ tự đảo ngược và phương pháp liên tiếp chính xác. Chính vì lý do đó đoạn văn cho rằng: ‘Các bộ Tīkā, Duka, DukaTīkā, Tīkāduka, TīkāTīkā DukaTīkā thật đáng ca ngợi và kính phục. Sáu phương pháp này (được hiểu là thuộc phương pháp hoán vị) theo phương pháp thứ tự ngược lại và tiếp diễn chính xác quả là sâu sắc’. Do đó, 6 phương thức liên tiếp chính xác, 6 phương thức thứ tự ngược lại, 6 phương thức phối hợp liên tiếp chính xác và theo thứ tự ngược lại, 6 phương thức phối hợp thứ tự ngược lại và phương pháp liên tiếp đúng đắn – gộp lại thành 24 duyên hệ phổ quát do Bộ Paṭṭhāna nhằm tạo nên Bộ Vị Trí này.

Giờ đây để hiểu hết chiều sâu Bộ Vi-Diệu-Pháp, ta cần phải hiểu rằng có cả thảy bốn đại dương đó là: đại dương tái sanh, đại dương sông nước, đại dương phương pháp và đại dương Tuệ giác. Trong đó:

“Samsara” Luân hồi chính là tên gọi - một đường nét liên tục nơi các căn, nơi thành tố kể cả nơi ngũ uẩn. Ðây chính là đại dương tái sanh. Chính vì điểm khởi đầu nhập thể tuyệt đối nơi mọi hữu thể xem ra vẫn chưa rõ ràng – Cho dù giây phút khởi đầu này đã khởi sự rất có thể một trăm năm qua [11] hoặc giả một ngàn năm, một trăm ngàn năm, hoặc giả cả một trăm, một ngàn hoặc giả một trăm ngàn kỷ nguyên vũ trụ mà trước đó các chúng sanh này chưa hề tồn tại hoặc đã được sinh ra cùng thời với một vị vua hoặc giả cùng thời với đức Phật nào đó - trước đó họ không hề tồn tại và cũng không thể lập ra một hạn mức nào cả. ‘Nầy chư Tỳ-khưu, chưa ai phát hiện ra khởi điểm tột đỉnh vô minh trước đó chúng sanh chưa tồn tại, nhưng sau thời điểm đó chúng sanh xuất hiện cũng chưa được hé mở.’[42] Bằng cách này, đại dương tái sanh chính là một bước khởi đầu chưa được biết đến.

Và cũng đã tồn tại một đại dương bao la được biết đến là đại dương chứa đầy nước. Ðại dương này sâu 84 do tuần (do tuần (yojana). Không thể đo được giòng nước là một trăm, một ngàn, mười ngàn, hoặc giả một trăm ngàn thùng. Ta không thể tính toán hay đo lường được đại dương này. Quả thật, ta chỉ có thể cho rằng đó là một khối nước không hơn không kém. Ðây chính là đại dương sông nước bao la.

Thế còn đại dương Tuệ giác thì thuộc loại nào? Thưa đó là Tam tạng, là lời Ðức Phật phán ra. Là bởi vì chỉ cần nghiền ngẫm hai Bộ Tạng, đã đủ cho niềm vui sướng vô tận bừng lên nơi tâm hồn những chàng trai tráng là thành viên các thị tộc đã tỏ ra tin tưởng, tin tưởng vô hạn và đã được phú cho Tuệ giác cao siêu. Hai Bộ Tạng đó là gì vậy? Thưa đó là Luật Tạng và Vi Diệu Pháp. Niềm sung sướng mê ly bất tận đó đã bừng lên nơi chư vị Tỳ-khưu đó, họ là những người đã nghiên cứu và học hỏi kinh văn Luật Tạng và nghiền ngẫm cho rằng đó là lãnh vực các Ðức Phật cần phải làm, chứ không phải là những phàm nhân khác. Ðể có thể tuyên bố qui luật cho mỗi trường hợp sai phạm hoặc phạm phải lỗi lầm, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng nơi sai phạm đó.

Niềm vui sướng khôn tả cũng bừng lên nơi các đạo hữu, khi họ nhập thiền về những ý nghĩa các việc siêu thế mang đầy màu sắc và tư cách thiện pháp[43].

Còn nữa, chư vị Tỳ-khưu, là những người nghiên cứu Vi Diệu Pháp, qua được niềm vui sướng tột đỉnh bất tận trong khi nhập thiền định. Như thể vô số các ngôi sao trên bầu trời nhóm họp lại thành những chùm sao. Bậc Ðạo sư (đức Phật) đã thuyết pháp cho chúng sanh kể cả các danh và Sắc, phân chia ra thành nhiều phần tử và định lượng khác nhau – rồi thành các hữu thể tinh túy và sâu sắc, chẳng hạn nội dung duy nhất[44] của các uẩn, xứ, giới, quyền, lực, giác chi, nghiệp (kamma) và kết quả của nó, và sự phân biệt giữa danh và sắc. Ta hãy xem xét câu chuyện nói về kinh nghiệm này. Vị Trưởng Lão Mahagatigamiyatissa [12] băng qua bờ biển đối diện Ấn Ðộ, với ý định tỏ lòng tôn kính Cây Bồ-đề. Trong khi ngồi trên boong tàu, Vị Trưởng Lão nhìn vào đại dương bao la, nhưng cả bờ biển bên này lẫn bờ bên kia đều không xuất hiện trong tầm nhìn của vị Trưởng lão này. Chỉ thấy xuất hiện đại dương bao la, phủ đầy bọt sóng bạc do những đợt sóng cuồn cuộn tạo ra, tựa như một lớp bạc tỏa ra từ một luống hoa nhài. Vị Trưởng Lão tự nhủ: Cái gì đặc biệt hơn – những đợt sóng nhấp nhô đại dương, hoặc cơ sở phương pháp 24 phương thức phân chia trong Bộ Vị Trí? Sau đó, những ranh giới đại dương vĩ đại bắt đầu tỏ hiện ra với chư vị Trưởng Lão. Thật vậy, chư vị Trưởng Lão đã tự nhủ: Ðại dương này bị giới hạn, bên dưới là mặt đất, bên trên là bầu trời, một bên là rặng núi bao quanh cõi trần, còn bên kia là bờ biển. Nhưng những giới hạn vũ trụ Paṭṭhāna không rõ ràng. Và trạng thái sung sướng trào dâng trong tâm hồn vị Trưởng Lão, khi vị Trưởng Lão nhập thiền định, thiền Ðịnh về giáo pháp tinh tế và sâu sắc. Trong khi kìm chế trạng thái sung sướng và gia tăng tầm nhìn của mình ngay cả trong lúc đang ngồi thiền, Vị Trưởng Lão đã loại bỏ được tất cả những sự Phiền não, và trong khi củng cố sự hoan hỷ tuyệt đỉnh là quả vị A-la-hán, Chư vị Trưởng Lão đã tán tụng trong bài kệ nói về sự sung sướng:

Kẻ nào[45] là đệ tử đích thực của Ðấng Như Lai,
tựa như viên ngọc quý trong bàn tay của mình, Ngài nhìn rõ
những Nguyên Nhân duyên khới, từ đó vạn vật nổi lên.
truyền thuyết sâu xa và khó nhận biết, mà Ðấng Như Lai Vĩ Ðại
đã nhìn thấy được, và tất cả
[46] đều đã được giảng pháp[47] tuần tự.
Ðây là phương pháp (chiêm ngắm) đại dương.

Thế còn đại dương Tuệ giác là gì? Thưa đó là Toàn tri. Không thể phân biệt được các đại dương tái sanh, đại dương sông nước bao la, đại dương phương pháp, ngoại trừ có được ‘toàn tri.’ Do đó, Toàn tri chính là đại dương Tuệ giác. Trong số bốn đại dương vừa nêu, đại dương phương pháp được nói đến ở đây; bởi vì chính Ðức Phật, Ðấng Toàn Tri, đã thâm nhập được đại dương[48] này. Và Ðức Thế Tôn, ngồi thiền dưới gốc Cây Bồ-đề, đã thâm nhập được đại dương này và suy nghĩ rằng: ‘Tầm nhìn của ta xuyên thấu qua đại dương này! Hãy nhìn kìa, ngay cả đối với giáo pháp ta đã đạt thấu, ta đã đi tìm kiếm và hỏi han trong hơn một trăm ngàn đại kiếp, trong hơn bốn A tăng kỳ không kể xiết được, ta ngồi thiền trong tư thế xếp bằng (giống như ngồi thiền trên ngai tòa), ta đã đẩy lùi mọi phiền não’. Và ngài còn ngồi thiền trên ‘ngai” trong vòng bảy ngày nữa, nhập thiền định về giáo pháp ngài đã giác ngộ. Thế rồi sau bảy ngày, ngài rời khỏi ngai tòa và đứng nhìn chăm chú vào chiếc ngai không chớp mắt, ngài suy nghĩ: ‘Quả thật ta đã đạt đến giác ngộ từ trên ngai này’. Do đó, chính chư thiên cũng nổi lên mối nghi ngờ nói rằng: ‘Chắc hẳn là hôm nay, Siddattha vẫn còn phải hoàn tất một số công việc, bởi vì ngài vẫn chưa thể rời khỏi ngai.’ Biết được mối nghi ngờ đó, để trấn át nó, ngay tức khắc, Vị Ðạo sư (tức Ðức Phật) liền bay lên trời và Hiện Song Thông. Phép lạ được diễn ra ngay tại ngai, dưới Cây Bồ-đề, và được thực hiện ngay giữa đám đông đạo hữu Pataliputta[49] đang nghe ngài hoàn toàn giống như Hiện Song Thông được thực hiện dưới gốc cây Bồ-đề trinh trắng trong vườn Kanda. Như vậy, sau khi đã thực hiện Hiện Song Thông, ngài ngự xuống tuần trời cao và ngài đã đi lại giữa ngai và nơi ngài đã lưu lại trong vòng bảy ngày liền.

Bấy giờ chẳng có một ngày nào trong suốt một quãng thời gian hai mươi mốt ngày, thân xác Ðức Phật phát quang, và toả ra từ thân xác vị Ðạo sư (đức Phật). Trong tuần lễ thứ tư, ngài ngồi thiền trong một ngôi nhà xây bằng đá quí toạ lạc ở vùng đông bắc. Ngôi nhà đá quí đó không có nghĩa là ngôi nhà được xây bằng bảy viên ngọc quí, nhưng là nơi ngài chiêm nghiệm về bảy bộ Vi Diệu Pháp. Và trong khi ngài ngồi thiền về những nội dung trong bộ Dhammasaṅganī, thân thể của ngài không tỏa ra hào quang; tương tự như vậy đối với việc hành thiền năm bộ kế tiếp. Nhưng khi ngài thiền đến Bộ Vị Trí, ngài bắt đầu chiêm ngưỡng tư tưởng hai mươi tư mối tương quan nhân quả phổ quát, về nguyên nhân và sự thể hiện v.v..., chắc hẳn đây là dễ dàng ngài đạt đến giác ngộ ngay tại đó. Bởi vì giống như con kình ngư Timiratipingala chỉ tìm được chỗ dưới độ sâu tám mươi tư ngàn do tuần dưới dòng đại dương, cũng vậy, ngài thực sự đạt đến giác ngộ chỉ trong Bộ Vị Trí này. Những hào quang sáu màu– xanh, vàng, đỏ, trắng, hung hung và sáng chói – được toả ra từ thân thể của vị Ðạo sư (đức Phật), nhờ việc giác ngộ ngài đã tìm ra, ngài nhập thiền định về giáo pháp tinh tế và sâu sắc. Những hào quang màu chàm tỏa ra từ mái tóc của ngài và những phần màu xanh dương từ ánh mắt ngài. Nhờ những hào quang này, mà nguyên bề mặt bầu trời lộ ra như thể đã được rải đầy bột thuốc nhỏ mắt, hoặc được bao phủ bằng lớp vải lanh và những bông hoa sen, hay giống như một chiếc quạt quý phe phẩy, hay một miếng vải màu sậm trải rộng ra. Những hào quang màu vàng tỏa ra từ lớp da của ngài và những phần màu vàng của đôi mắt ngài. [14] Nhờ những hào quang này, mà những vùng khác trên địa cầu chiếu sáng như thể được phủ đầy một số chất lỏng màu vàng, hoặc dát bằng những phiến đá mầu vàng, hoặc được rải đầy bột củ nghệ tây và hoa-Bauhinia. Những hào quang màu đỏ tỏa ra từ thịt và máu của ngài và những phần màu đỏ trên đôi mắt ngài. Nhờ những hào quang này, những khu vực địa cầu mang đầy màu sắc, như thể được tô điểm bằng bột chì màu đỏ, hoặc được phủ đầy chất lỏng cánh kiến được nấu chảy, hoặc được bọc bằng những tấm chăn màu đỏ, hoặc được rải đầy hoa-hài, san hô-biển và những bông hoa bandhujivaka. Những hào quang màu trắng tỏa ra từ những bộ xương và những chiếc răng của ngài và những phần màu trắng đôi mắt. Nhờ những hào quang này, những khu vực địa cầu được tỏa sáng như thể đang chảy đầy tràn những giòng sữa được đổ ra từ những lọ bạc, hoặc phủ đầy bằng một chiếc màn được làm bằng những đĩa bạc, hoặc giống như một chiếc quạt bằng bạc phe phẩy, hoặc như thể được bao phủ bằng những bông hoa như hoa nhài dại, hoa huệ-nước, bông hoa tao nhã, hoa nhài và hoa cà phê. Những hào quang màu hung hung và sáng chói tỏa ra từ những phần khác nhau của thân thể ngài. Do đó, những hào quang sáu màu lộ ra và đã thu hút được một khối lượng khổng lồ địa cầu. Ðịa cầu khổng lồ, với bề dày là 240. 000 Do tuần (yojana), xuất hiện tựa như một khối vàng được đánh bóng lộng lẫy. Những hào quang xâm nhập trái đất và xuyên thấu tới giòng nước bên dưới. Giòng nước nuôi dưỡng trái đất và có độ sâu 480. 000 Do tuần (do tuần (yojana)), xuất hiện tựa như lớp bụi vàng được đổ ra từ những chiếc bình vàng. Chúng xuyên thấu giòng nước và thu hút bầu khí quyển với bề dày là 960.000, xuất hiện tựa như những cột bằng vàng dương lên thật cao. Trong khi xâm nhập bầu khí quyển, những hào quang này tỏa ra khoảng không gian bao la bên dưới. Trong khi tỏa lên phía trên, chúng xuyên thấu tới nơi ở của cõi tứ Thiên Vương của thế giới. Lúc xâm nhập vào những chỗ này, chúng thu hút cõi Tam Thập Tam Thiên (Tavatimsa), và từ đó, đến Dạ-ma (Yama), Cõi Trời Ðâu Xuất (Tusita), Hóa Lạc Thiên (Nimmarasati), cõi Tha Hóa Tự tại Thiên (Paranimmita-vāsavatti), từ đó, đến chín cõi Phạm Thiên, Quảng Quả Thiên (Vehapphala), rồi đến năm cõi Ngũ tịnh cư và đến bốn cõi trời Vô sắc (Aruppa). Khi đã thâm nhập được cõi cuối cùng này, những hào quang này tỏa ra khoảng không gian bao la xuyên tới tận những hệ cõi trời vô biên. Nơi nhiều cõi đó, không hề có ánh sáng trên mặt trăng, mặt trời, chùm sao, không nơi nào có ánh sáng rực rỡ, ngay cả ở trong công viên, nơi các tòa nhà, nơi cây Như ý (wish-yielding-tree) của các vị chư thiên, ngay trên thân thể và những trang phục vua chúa chư thiên cũng không có thứ ánh sáng đó. Ngay cả Ðấng Phạm Thiên Vĩ Ðại, có khả năng khuyếch tán ánh sáng xuyên qua hàng tỉ cõi trần, [15] cũng trở nên giống như một con đom đóm-tỏa sáng vào lúc bình minh toả sáng. Chỉ thấy xuất hiện đường nét mặt trăng, mặt trời, chùm sao, các công viên, các tòa nhà, và thân cây như ý (wish-yielding-tree) của chư thiên. Như vậy, có quá nhiều khoảng không gian được chan hòa hào quang của Ðức Phật. Sức mạnh này không phải là phép thần thông, cũng không phải là sức mạnh tu chứng. Nhưng là giòng máu Vị Chúa Tể càn khôn trở nên bừng sáng khi ngài nghiền ngẫm suy tư giáo pháp tinh tế và sâu sắc. Tương tự như vậy cơ sở tư tưởng tự nhiên và vẻ bề ngoài của ngài. Yếu tố màu sắc, do trật tự chất năng lượng ra, do tư tưởng phát sinh ra, tự kiên định củng cố vững vàng nơi một bán kính lên tới dăm ba mét (80 cubit). Bằng hiện trạng như vậy ngài đã hành thiền suốt cả một tuần lễ liền.

Ðang khi hành thiền trong suốt bảy ngày bảy đêm như vậy, ngài đã thâm nhập được vào giáo pháp sâu rộng được bao nhiêu? Thưa chiều sâu đó quả là vô biên và không thể đo lường được. Tất nhiên, điều này ám chỉ Bài Pháp xuất ra từ tâm trí tư tưởng của ngài. Và không thể nói được rằng Ðạo sư (Ðức Phật) không thể kết thúc diễn giảng trong vòng một trăm năm, một ngàn năm hoặc hàng vạn năm theo quy Luật ngài đã thực hiện được về mặt tinh thần trong suốt một tuần lễ đó. Rồi sau đó, Ðấng Như Lai (Tathagata) ngồi thiền giữa các vị chư thiên qui tụ lại từ hàng ngàn, hàng vạn cõi tới, ngay tại bệ đá Pandukambala dưới gốc cây Paricchattakau nơi cõi Tam Thập Tam Thiên (Tavatimsa), có thân mẫu ngài chứng kiến, ngài đã giảng pháp định Luật đó từ chủ đề này sang chủ đề khác[50] với cả trăm, cả ngàn và hàng vạn phân đoạn khác nhau. Những bài chú giải đó quả thật vô biên và không thể đếm xuể, và được tiến hành liên tục trong ba tháng, với vận tốc ào ào như thác đổ, hoặc như dòng nước trong bình tưới khi ta lộn ngược bình xuống. Bởi vì Bài Pháp của Ðức Phật đang khi cám ơn đám đông đạo hữu vì lòng mến khách của họ, nếu được trau chuốt đôi chút, có thể đạt đến chiều dài một Bài Pháp ghi trong Trường Bộ Kinh hay Trung bộ kinh (Majjhima)Và Bài Pháp ngài ban sau bữa ăn do đám đông đạo hữu trai tăng ngài có thể dài bằng cả một Bài Pháp ghi trong hai Bộ Kinh vĩ đại là Tương Ưng Bộ (Samyutta) Tăng Chi Bộ (Anguttara). Tại sao thế? Bởi vì Ðức Phật chẳng bận tâm mấy tới việc duy trì cuộc sống, nên đôi môi của ngài khép lại, miệng ngài hơi[51] hé mở, lưỡi ngài mềm mại, giọng nói của ngài ngọt ngào, lời ngài nói thanh thoát[52] phát ra. Do đó, chỉ cần pháp trong một thời gian[53] ngắn ngủi như vậy, cả bộ giáo pháp đã được ấn định; trong khi ngài cần đến ba tháng để pháp, chắc hẳn là quy Luật đó đương nhiên phải là vô biên và không thể đo lường được.

Quả thật Trưởng Lão Ananda, một đệ tử Tam tạng, đã có kinh nghiệm rộng rãi, có thể học hỏi, tường thuật và pháp trong khi vẫn đứng, một ngàn năm trăm câu kệ hoặc giả có tới sáu mươi ngàn chân (feet) (thể loại thơ) một cách dễ dàng như thể ngài đang thu lượm một vài loại cây leo hay hái một vài bông hoa. Ðó là Bài Pháp duy nhất mà ngài Ananda đã thực hiện. Không một ai, ngoại trừ Ðức Phật, có khả năng pháp, hoặc phân tích được từng lời văn và cách thuyết pháp như Trưởng Lão Ananda đã thực hiện được. Ngay cả một vị đệ tử với niềm say mê đến như vậy, [16] với trí thông minh và lòng dũng cảm tuỵêt vời đến thế, vẫn sẽ không có khả năng hoàn tất được công việc học hỏi nghiên cứu những Bài Pháp đó của vị Ðạo sư (Ðức Phật) trong vòng một ngàn năm, là công việc Ðức Phật chỉ thực hiện trong vòng ba tháng theo như đã đề cập đến ở trên[54].

Nhưng làm thế nào Ðấng Như Lai (Tathagata) có thể duy trì được cuộc sống thể xác đang khi ngài pháp liên tục như vậy trong vòng ba tháng, thân xác đó vốn là sản phẩm của tham lam và luôn phải tùy thuộc vào của sắc vật thực? Thưa đó là nhờ sự bồi bổ thân xác bằng đồ ăn[55]. Thực tế mỗi khoảng khắc thời gian được Ðức Phật ghi dấu cẩn thận, được chia ra và tuân thủ nghiêm ngặt. Ðức Phật cho hay, khi ngài diễn giảng học thuyết nơi cõi con người, Ðức Thế Tôn đã tuân thủ thời gian một cách thích hợp. Ngài nhận thấy lúc này là thời điểm đi khất thực đây đó. Vì thế, ngài đã tự tạo ra đức Phật thứ hai theo hình ảnh của chính ngài và do đó, ngài đã xác định: ‘Hãy để cho Vị Phật đã được tạo ra này mặc áo cà sa, cầm bát khất thực, ăn nói và nhận của bố thí cho mình với dáng vẻ của một vị chân tu. Hãy để cho vị ấy pháp. Sau đó, Ðức Phật (đích thực) tự cầm lấy bát khất thực, mặc áo cà sa của ngài và đi tới Hồ Anotatta. Chư thiên đưa cho ngài một cây tăm lấy ra từ một cây leo Naga. Ngài đã sử dụng, tắm trong nước hồ, và đứng trên đỉnh tảng đá Manosila. Ngài mặc nội y vào và khoác vội chiếc áo cà sa đã được nhuộm kỹ, cầm bát khất thực làm bằng đá xanh, do Bốn Vị Chư Thiên của cõi dục giới đưa cho ngài, và ngài đi tới Uttarakuru. Từ đó, sau khi nhận của bố thí, ngài ngồi thiền tại bờ Hồ Anotatta, ngài dùng bữa và trong nửa ngày còn lại, ngài đi tới khu rừng gỗ đàn hương. Xá-lị-phất, Tướng Quân của giáo pháp, đã đi đến đó, phục vụ Ðức Phật và ngồi bên cạnh ngài. Vị Ðạo sư (Ðức Phật) đã dạy phương pháp cho chư vị này và phán rằng: ‘Hỡi Xá-Lợi-Phất, ta đã chỉ ra rất nhiều học thuyết’. Do đó, người đệ tử chính, người đã được phú cho Tuệ giác biết phân biệt, được ban cho phương pháp, như thể Ðức Phật đứng trên bờ biển và đưa bàn tay mở rộng của ngài chỉ ra đại dương. Ðức Thế Tôn cũng đã truyền đạt học thuyết cho Trưởng Lão, hàng trăm, hàng ngàn phương pháp đã trở nên rất rõ ràng. Vào thời điểm nào, sau khi đã nghỉ trưa, ngài đứng dậy (cầm lấy bát khất thực và mặc áo cà sa) đi tới cõi Tam Thập Tam Thiên (Tavatimsa) để diễn giải giáo pháp đây? Ngài đã ra đi vào khoảng thời gian ngài sau khi đã chỉ vẽ giáo pháp cho các cư dân Sāvatthī, vì họ đã tề tựu đông đủ ở đó. Những vị (chư thiên) nào biết được ngài ra đi (khỏi cõi con người phàm tục) hay đến cõi Tam Thập Tam Thiên (Tavatimsa) sau khi đã chỉ dạy giáo pháp, và kẻ nào không biết điều đó? Thưa rằng những chư thiên có sức mạnh to lớn hơn nhận biết được điều đó; còn những chư thiên nào ít sức mạnh hơn thì chẳng hề nhận ra điều đó. Tại sao những chư thiên này không hay biết gì về điều đó? Thưa bởi vì không hề có sự khác biệt giữa Ðức Thế Tôn và Ðức Phật đã được tạo ra, xét về mặt hào quang ngài phát ra, chất giọng hoặc lời nói của hai Vị này.

Bây giờ, sau khi học hỏi giáo pháp do Ðức Phật truyền dạy cho Sāriputta đã thuyết pháp lại cho năm trăm chư vị Tỳ-khưu cùng với các đệ tử của Ngài nữa. Ðiều tiếp theo sau đây có liên quan đến tiền kiếp của Ngài. [17] Ðược kể lại rằng họ đã tái sanh thành những con dơi dưới thời Ðức Phật tổ Ca Diếp (Kassapa). Ðang đeo bám trên nóc căn hầm, thì họ nghe giọng của hai vị Tỳ-khưu đang Kệ Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), và hiểu được một ý nghĩa tổng quát cho là theo luật, không thể phân biệt được thiện pháp và điều bất thiện. Họ đã chết chỉ với một ý tưởng chung chung như vậy được nghe thấy từ tiếng kệ của hai vị Tỳ-khưu đó và được tái sanh nơi cõi các vị chư thiên. Họ cư ngụ tại đó trong suốt quãng thời gian một vị Ðức Phật qua đi và một vị khác xuất hiện, và trong khoảng thời gian đức Phật này, họ đã được tái sanh thành người. Do được chứng kiến Phép song thông và được thuyết phục, họ đã từ bỏ cõi phàm trần trước sự chứng kiến của vị Trưởng Lão, ngài đã học giáo pháp do Ðức Phật diễn giảng cho, sau đó đã dạy lại cho chư vịï quy Luật đó. Họ đã hiểu được bảy bộ luận tạng, đồng thời với thời gian Ðức Phật kết thúc diễn giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma).

Thứ tự nguyên bản tác phẩm Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) do chính Xá-lợi-phất (Sāriputta) phát minh ra; chính ngài cũng đã xác định rõ hàng loạt những phân đoạn được đánh số trong Bộ Vị Trí này. Bằng cách này vị Trưởng Lão đã sắp đặt hàng loạt số thứ tự để giúp cho nhiều người dễ dàng học hỏi, nhớ được, nghiên cứu và giảng dạy giáo pháp mà không làm hại đến học thuyết duy nhất đó. Như vậy trong trường hợp đó, phải chăng Trưởng Lão đã là người đầu tiên hiểu được Bộ Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)? Thưa không, vì chính Ðức Thếâ Tôn là người đầu tiên hiểu được toàn bộ Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Bởi vì khi ngồi thiền trên bệ đá dưới Cây Bồ-đề, ngài đã thâm nhập được ý nghĩa Vi Diệu Pháp, đã trở thành Vị Giác Ngộ và, khi ngồi thiền trên ngai suốt bảy ngày trong một tư thế duy nhất, ngài đã cảm hứng cất lên bài kệ sau đây:

Nhìn kìa! khi Pháp[56] đích thực nổi lên nơi vị thánh.
người nhiệt tình, và đầy suy tư, mọi nghi kỵ liền tan biến ngay;
ngài biết rõ nhân duyên tạo ra kiếp tái sanh.

Nhìn kìa! khi Pháp đích thực nổi lên nơi vị thánh
người nhiệt tình, và đầy suy tư, mọi nghi kỵ liền tan biến hết;
ngài biết cách huỷ hoại mọi nhân duyên.

Nhìn kìa! Pháp đích thực nổi lên nơi vị thánh.
người nhiệt tình và đầy suy tư, mọi nghi kỵ liền tan biến hết;
như luồng sáng chiếu dọi cõi nhân sinh,
ngài tiêu diệt Ma-vương một đám đông.
như thái dương soi chiếu sáng bầu trời

Cảnh tối tăm đêm tối[57] ngài xua tan.
Ðây là những lời đầu tiên của Ðức Phật.

[18] Những đệ tử nghiên cứu Bộ Pháp Cú (Dhammapada) lại cho rằng: những bài kệ sau đây mới chính là lời đầu tiên Ðức Phật thốt lên sau khi Ngài đạt đến giác ngộ:

lâu nay quanh quẩn kiếp luân hồi,
ta tìm ta kiếm một người thợ xây.
tái sanh ấy nỗi đau muôn thuở.
Xuất hiện ôi! kỹ sư xây nhà cửa!
lâu dài thành quách chẳng cần xây.
ruôi mè,, đòn dong hủy tiêu hoàn toàn.
ta nay cảnh Niết Bàn
[58] nhắm tới,
ước mơ thèm khát tiêu tan
[59] ngàn đời.

Những lời Ðức Phật phán khi ngài nhập Niết-bàn (Parinibbana), vào lúc Phật nằm giữa hai gốc cây Sala là những lời cuối cùng của ngài:

‘Nầy chư Tỳ-khưu, hãy lắng nghe đây, “Vạn vật hữu vi đều vô thường cả.” hãy chăm chú[60] lo phần giải thoát cho chính các ngươi mà thôi.

Chính Ðức Phật đã diễn giải Các pháp thiện hướng dẫn đến Bất Tử, ngài đã dạy dỗ các đệ tử của mình trong suốt bốn mươi lăm năm giữa hai biến cố này, như thể ngài đang sửa soạn một vòng muôn mầu, hay đang chế một chuỗi hột đá quí giá, tạo thành những lời dạy bảo vàng ngọc quí giá cho đời sau. Tất cả những lời dạy dỗ đã được viết thành Tam tạng, Ngũ Bộ Nikāyas, chín Bộ Angas, và tám mươi tư ngàn Uẩn (Khandhas). Bằng cách nào vậy? Theo Những gì ghi lại trong Tam tạng thì toàn bộ những lời của Ðức Phật được chia thành ba phần đó: Luật tạng, Kinh tạng và Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Ở đây, cả hai Biệt Giải thoát giới (Patimokkhas) (tức những qui luật dành cho cả chư vị Tỳ-khưu và Tỳ-khưu ni) và hai Bộ Bộ Phân tích (Vibha