Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

 

Chú giải CHUYỆN CHƯ THIÊN
Vimānavatthu-aṭṭhakathā

 Bản Pāli: ĀCARIYA DHAMMAPĀLA
Bản Anh dịch: PETER MASEFIELD
Bản Việt dịch: TỲ KHƯU THIỆN MINH

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


 III

PHẨM PĀRICCHATTAKA
[PĀRICCHATTAKA VAGGA]

*

3. 1 Chú Giải THIÊN CUNG HUY HOÀNG
[Uḷāravimānavaṇṇanā]

“Danh thơm và dung sắc nàng tỏa sáng mười phương”. Ðây là Thiên Cung Huy Hoàng trong phẩm Pāricchattaka. Chuyện kể này[1] xuất phát ra sao?

Bấy giờ Ðức Thế Tôn còn lưu lại trong thành Rājagaha, ngay tại bãi[2] Nuôi Sóc trong Khu Rừng Trúc. Vào thời điểm đó trong thành Rājagaha có một gia đình nọ đang cúng dường trưởng lão Mahāmoggallāna, gia đình đó có một thiếu nữ chuyên tâm lo việc bố thí, nàng luôn hoan hỷ và sẳn sàng rộng tay bố thí[3]. Bất kỳ[4] vật thực cứng và mềm[5] nào gia đình nhận được[6] vào buổi sáng, nàng liền

phân chia[7] làm hai phần[8]: một nửa (dùng để bố thí cho chúng sanh) nửa còn lại được sử dụng trong gia đình và chính nàng cũng chỉ sử dụng phần đó mà thôi. Nhưng nàng không ăn mà còn chia làm hai phần. Khi nào nàng không gặp ai xứng nhận bố thí, nàng cất sang một bên và bố thí khi nào có những hành khất đến xin. Thế rồi mẹ nàng vô cúng hoan hỷ với ý nghĩ con gái của bà luôn có ý định bố thí và luôn sẳn sàng rộng tay làm việc thiện khi gặp dịp3 thuận tiện, bà ta đã phân cho nàng số vật thực gấp đôi và làm như vậy để khi nàng sử dụng hết một phần thì nàng còn một phần nữa để bố thí cho người khác. Và nàng cũng rất đơn giản chia sẻ phần của mình như vậy. Thế rồi thời gian trôi qua và khi nàng đến tuổi trưởng thành[9] mẹ và cha nàng đã gả nàng làm vợ cho một chàng trai trong một gia đình trong cùng thành phố đó. Nhưng gia đình này lại có tà kiến và thiếu niềm tin và tịnh tín. [112] Thế rồi một ngày kia vị trưởng lão Mahāmoggallāna đang du hành khất thực trong thành Rājagaha, ngài đến đứng ngay trước cửa của gia đình cha chồng của nàng. Khi nhìn thấy vị trưởng lão, người con gái với lòng tịnh tín, liền mời ngài vào trong nhà nói rằng, “Bạch thầy, xin ngài vào nhà trong.” Nàng kính cẩn đảnh kễ ngài và do không thấy mẹ chồng[10] ở nhà nàng đã lấy chiếc bánh bà để dành với thâm tín vững chắc là sau khi nàng kể lại[11] sự việc cho mẹ chồng nghe, rất có thể bà sẽ ngưỡng mộ nàng[12] về điều nàng đã làm. Vị trưởng lão tỏ lòng cám ơn và ra đi[13]. Người con dâu liền đem câu chuyện kể với mẹ chồng của mình nói rằng, “Con đã bố thí chiếc bánh mẹ đã để dành cho trưởng lão Mahāmoggallāna. Khi nghe được điều này (bà gào lớn tiếng) “Con này hành động chi mà láo xược thế!” Mày đã đem cho vị trưởng lão Mahāmoggallāna chiếc bánh[14] dành cho ta mà không hỏi ta lấy một lời? Và rồi giọng bà lắp bắp vì đã bị cơn giận khống chế và chẳng suy nghĩ mình đang làm gì[15] phải trái ra sao, bà liền chụp lấy chiếc chầy đang dựng trước mặt và nện túi bụi vào vai nàng con dâu. Do sẳn có thể chất yếu đuối mỏng dòn và sanh mệnh của nàng đã gần đến lúc kết thúc nàng đã phải trải qua cơn đau ghê gớm do đã bị thương tích trầm trọng như vậy, nên vài ngày sau nàng đã qua đời và được tái sanh nơi cõi Tam Thập Tam. Cho dù còn rất nhiều thiện nghiệp nàng đã thực hiện thì chính nghiệp bố thí cho vị trưởng lão là nổi bật nhất và đã trở thành tối thắng[16] hơn cả. Vị trưởng lão cũng nhập cõi Tam thập Tam theo cũng một cách như nàng và đến hỏi hàng với ba đoạn kệ sau.

“Danh thơm và sắc diện nhà ngươi thật huy hoàng biết bao; đã toả sáng khắp mười phương thiên hạ; những ngọc nữ trang điểm kỹ càng và những thiên tử (devaputtas) nhảy múa và hát xướng[17] tôn kính nàng.

Tiên chúng khiến nàng[18] hoan hỷ liên tục, họ vây quanh hầu cận đầy vinh quang, đây kìa thiên cung của nàng bằng vàng óng ánh, ôi thiên nữ, nàng xinh đẹp rạng rỡ biết nhường nào.

Ðám tiên nữ nàng làm bá chủ đã hưởng đủ mọi lạc thú tràn trề, đầy vẻ oai phong, dòng dõi quí tộc, nàng quả thật tuyệt vời biết bao. Ôi Thiên nữ khi được hỏi, hãy cho ta biết quả nghiệp nào đã đem lại cho nàng đây.”

Về điểm này:

1. [122] Danh thơm (yaso): đoàn tuỳ tùng đông đảo. Sắc diện nhà ngươi (vaṇṇo) vẻ rạng rỡ nơi diện mạo[19] nhà ngươi, ánh sáng toát ra từ thân thể nhà ngươi. Tuy nhiên cả hai thù thắng nơi đoàn tuỳ tùng và thù thắng nơi sắc diện của chư thiên đó đã được nói tới[20] và được coi là điều huy hoàng” và do những điều này, “sắc diện của nàng huy hoàng thế’ được nói một cách vắn tắt mà thôi; sau khi cho rằng thể chất của nàng tỏa sáng ra khắp mười phương, cho biết[21] chi tiết về thù thắng sắc diện của nàng ở mức độ, Những ngọc nữ... nhảy múa đàn ca’ v.v... cũng được nói tới để chứng tỏ chi tiết về đoàn tuỳ tùng của nàng theo cách nàng duy trì được đoàn tuỳ tùng đó. Về điểm này tỏa sáng khắp mười phương (sabbā abhāsate disā) tỏa ánh sáng chói chang chiếu rọi khắp tứ phía, hay nói cách khác chiếu sáng khắp mười phương, có nghĩa là dãi ánh sáng khắp nơi. Một số người cho rằng từ obhāsate (chiếu dãi ánh sáng) phải là obhasante (những thứ đó chiếu sáng) bằng cách làm biến dạng số[22]. Ðối với họ biến số này cần được thay đổi[23] để giải thích là vaṇṇena (với sắc diện của họ); và từ vaṇṇena lại ở công cụ cách (hiểu theo nghĩa) là một nguyên nhân có nghĩa là với sắc diện là nguyên nhân[24] gây tỏa sáng. Và toả sáng khắp tứ phương (sabbā disā): khi ta để ý đến đặc tính thống nhất các phương hướng[25] bằng cách lưu ý tới giống[26], ở đây không nhằm mục đích được sử dụng ngay cả như một cách biến đổi số[27]. Nữ nhân (nāriyo): trong tương quan này cũng nên lưu ý tới từ alaṅkatā (được trang điểm) cũng cần phải lưu ý và liên quan tới diện mạo nữa. Devaputtas (devaputtā):  đây từ ‘và’[28] được chỉ định như là một cách đọc lướt. Vì lý do đó ta nên hiểu với nghĩa liên từ như sau: nữ giới và chư thiên”.

2. Giúp cho tiêu khiển giải khuây cho nàng (modenti): khiến cho nàng vui sướng thoả thuê. Bằng cách tôn kính (pūjāya): họ khiêu vũ (và cả số ít nữa) nhằm mục đích tôn kính nàng, hay nói cách khác là để tôn kính nàng. Họ thuộc về nàng: tav’ imāni = tava imāni (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài).

3. Nàng được thoả mãn mọi ước muốn (sabbakāmasamidhinī): được phú bẩm cho năm bộ phận cảm khoái giác quan[29] hay với những gì nàng hằng mong mỏi, ước ao. được tạo ra một cách dồi dào (abhijātā): được tạo ra. Nàng tỏ ra tuyệt vời (mahantāsi): nàng thật tuyệt, oai lực to lớn. Nàng được vui sướng với đoàn tiên nữ đông đảo đến như vậy (dvakāye pamodasi): nàng được vui sướng thỏa thuê tột đỉnh mà lý do đem lại là từ những thù thắng thiên giới nơi đám chư thiên này.

Vị trưởng lão đã hỏi nàng như vậy. Ðược hỏi như vậy thiên nữ[30] đã trả lời như sau:

4[31]. “Khi ta còn sống nơi cõi chúng sanh, giữa thế nhân – nơi tiền kiếp nơi cõi chúng sanh[32] - ta đã làm dâu trong một gia đình giới đức kém cỏi. Ta đã phải sống giữa những hạng người thiếu đức tin keo kiệt và bủn xỉn[33].

5. Là người có niềm tin, được trang bị giới đức cao, ta luôn luôn rộng tay[34] bố thí. Ta đã bố thí một chiếc bánh ngọt[35] cho vị trưởng lão đang du hành khất thực khắp nơi.

6. [123] Vào thời điểm đó ta đã kể lại cho mẹ chồng ta, “Có vị ẩn sĩ đã tới đây; con đã tỏ tâm tịnh tín với ngài và chính tay con đã bố thí chiếc bánh ngọt của mẹ để dành cho ngài.’

7. Chính vì thế mẹ chồng ta đã sỉ nhục ta: “Ðồ vô kỷ luật![36] thứ con dâu[37] như nhà ngươi; ngươi chẳng muốn hỏi han ta rằng, ‘Con muốn bố thí cho vị ẩn sĩ”.

8. Do đó mẹ chồng ta đã nổi giận đùng đùng[38]và vớ lấy cái chầy đánh ta ngay vào vai; bà đã đánh gẫy xương sườn ta, đã tấn công[39] ta – khiến ta chẳng còn sống được bao lâu nữa.

9. Ngay khi thân xác[40] của ta bị đánh tơi bời ta đã được giải thoát; khi ta đã qua khỏi đời này từ kiếp sống đó, ta đã tái sanh được làm bầu bạn với các chư thiên nơi cõi Tam Thập Tam[41].

10. Do phước đức đó ta có diện mạo sáng ngời. Do phước đức đó mà mọi thứ đã xuất hiện cho ta. Ngay tại nơi đây và tại cõi đó những hoan lạc mà lòng ta hằng mong muốn.

11. Hỡi chư vị Tỳ khưu đầy oai lực, ta công bố cho nhà ngươi những gì ta đã thực hiện khi còn sống nơi cõi chúng sanh. Do đó ta có được oai lực sáng toả đến như vậy và diện mạo ta tỏa sáng khắp mười phương.”

Về điểm này:

4. Sống giữa hạng người thiếu niềm tin (assaddhesu)[42] nơi những kẻ không có niềm tin do họ không đặt niềm tin nơi Tam Bảo và cũng chẳng có niềm tin nơi quả nghiệp; nơi những hạng người như mẹ chồng ta v.v... [43] là hạng người bủn xỉn do thái độ vô cùng keo kiệt. Ta đã được phú bẩm niềm tin, giới đức - đây là điểm chúng ta cần phân tích kỹ.

5. Một chiếc bánh (apūvaṃ): một thứ bánh nướng. Te (không được dịch) chỉ là một tiểu từ.

6. Ta đã nói với mẹ chồng ta nhằm báo cho bà ta biết,[44] ‘ta đã lấy chiếc bánh đó nhằm mục đích được bà đồng ý – đây là ý nghĩa muốn diễn tả.

7. Như vậy (iti’ ssā): liên quan đến vấn đề này assa (không được dịch) chỉ là một tiểu từ[45]. Ta muốn bố thí cho vị ẩn sĩ (samaṇassa dadām’ ahaṃ): ta luôn ước ao bố thí một chiếc bánh ngọt[46] cho vị ẩn sĩ. Mẹ chồng ta đã xỉ vả ta nói rằng, “Hỡi con dâu[47] ta ơi, vì không muốn xin ta, ngươi là đồ vô kỷ luật”. Ðây là điều ta cần phải phân tích

8. ánh: pahāsi = pahari (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Bà đã đánh gẫy xương vai ta, bà đã tấn công ta (kūṭaṅgacchi avadhi maṃ): chóp’ (kūṭaṃ)  đây ‘xương bả vai’ (aṃsakūṭaṃ)[48]  đây đã được đọc lướt đi. Ðây chính là ‘xương bả vai’ (kūṭam). Vì chính vị trí này mẹ chồng đã đập ngay vào chỗ đó. Chính vì bà ta thuộc dạng keo kiệt bủn xỉn (chindati), bà đã đập gẫy xương bả vai ta’ (kūṭaṅgacchi). Do bị giận dữ khống chế bà ta đã tấn công ta, bà đã đập gẫy xương vai ta, có nghĩa là bà đã giết chết ta, vì ta đã qua đời sau vụ bà đã tấn công ta. Chính vì lý do đó nàng đã nói rằng, “Ta không còn sống được bao lâu nữa.”

9. [124] Ta được giải thoát (vippamuttā): ta đã thoát khỏi nỗi đau đớn đó.

Phần còn lại giống như những gì đã diễn giải  trên.

Phần Chú giải Thiên Cung Huy Hoàng kết thúc ở đây.

3.2 Chú Giải THIÊN CUNG DO CÚNG MÍA
[Ucchudāyikāvimānavaṇṇanā]

“Trái đất cùng chung với chư thiên được làm rạng rỡ thật vinh quang”. Ðây là Thiên Cung[49] do Cúng Mía. Chuyện kể này[50] xuất xứ ra sao?

Bấy giờ Ðức Thế Tôn còn đang lưu lại trong thành Rājagahav.v... - Toàn bộ chi tiết diễn ra đều giống như những gì đã đề cập đến trong chuyện kể Cung Sự vừa nêu trên nhưng chi có một khác biệt ở những điểm sau: Ở đây nàng đã bố thí một khúc mía và mẹ chồng đã lấy chiếc ghế đẩu[51] đánh đập[52] nàng và nàng đã qua đời ngay tức khắc (và) đã khởi sanh nơi cõi Tam Thập Tam. Ðêm hôm đó[53] nàng đã đến hầu hạ vị trưởng lão và, đang khi thắp sáng lên toàn bộ[54] ngọn núi Chim Kền Kền giống như mặt trăng và mặt trời. Nàng đã đảnh lễ vị trưởng lão và thực hiện năm cử điệu chào chấp tay lại và phủ phục xuống tận đất (anjali), và bước sang một bên tiếp tục lễ ngài. Thế rồi vị trưởng lão đã hỏi nàng với những câu kệ sau đây.

Giống như mặt trời và mặt trăng[55], sau khi đã làm rạng rỡ cả quả địa cầu cùng với các chư thiên. Nàng đã chiếu sáng (toàn bộ những gì còn lại) với ánh huy hoàng và sắc diện, rồi danh thơm, với vẻ mĩ quan Chư thiên đã thắp sáng cõi Trời Ðạo lợi cùng chúa tể[56] của họ.

Ta hỏi nhà ngươi đang đeo vòng hoa sen[57] tuyệt đẹp,

cùng với vòng bảo châu trên trán[58], sắc diện nàng tựa vàng ròng, ngươi được trang điểm và mặc xiêm y rực rỡ; hỡi chư thiên xinh đẹp mỹ miều, nhà ngươi là ai mà lại đảnh lễ ta.

Chính ngươi đã thực hiện phước đức gì nơi tiền kiếp, khi còn sống nơi cõi chúng sanh[59] giữa thế nhân? Nàng đã thực hiện bố thí vẹn toàn hay tuân giữ Ngũ Giới? Do quả nghiệp nào khiến nàng tái sanh vẻ vang nơi định mệnh hạnh phúc? Sau khi trưởng lão đã hỏi nàng như vậy, vị chư thiên đó đã nói rõ phước đức nào đã mang lại kết quả to lớn đến như vậy.”

Về điểm này:

1. [125] Sau khi đã làm rạng rỡ cả địa cầu cùng chư thiên (obhāsayitvā paṭhaviṃ sadevakaṃ): sau khi đã chiếu sáng địa cầu cùng với chư thiên, có nghĩa là một phần mặt đất ngài đã tiến tới cùng với chư thiên trong đó (sadevakaṃ = devehi saha)[60] do nhà ngươi chiếu sáng như vậy với ánh sáng chói chang như thế, xuất phát từ đỉnh ngọn núi Sineru[61] giống như hòa trộn các tia sáng xuất phát từ mặt trời và mặt trăng, có nghĩa là biến thành một khối ánh sáng duy nhất, một khối toả sáng lung linh, sau khi đã thắp sáng lên, giống như mặt trời và mặt trăng chiếu sáng trái đất[62] - đây là cách ta nên phân tích. Nhà ngươi giãi ánh sáng ra (atirocasi): nàng chiếu giãi[63] ánh sáng vô song. Nhưng việc chiếu giãi ánh sáng ra như thế giống gì vậy. Nhờ đâu hay bằng cách nào? Ngài nói rằng, “Với chính luồng sáng của nhà ngươi” v.v... Về điểm này với luồng sáng của nhà ngươi (siriyā): với sự lộng lẫy đặc biệt rất dễ thương v.v... Với tính chất ngời sáng của nhà ngươi (tejasā): bằng chính oai lực của ngươi.

2. Nàng đeo những vòng chuỗi (āveḷini): nàng có những vòng chuỗi kết hoa làm bằng châu báu và đá quí.

Vị trưởng lão đã hỏi như vậy, chư thiên đã trả lời với những đoạn kệ dưới đây:

Thưa ngài, bấy giờ từ chính ngôi làng này, ngài đã đến thăm ngôi nhà chúng ta[64] để khất thực ngay tại đó, con đã bố thí cho ngài một khúc mía với tâm thành tín, với lòng hân hoan khôn tả xiết.

Và rồi sau đó mẹ chồng của con[65] đã cho gọi con tới vì hành vi đó nói rằng, Giờ đây[66], hỡi nàng dâu[67] ta ơi, mi đã vứt khúc mía của ta đi đâu rồi?’ con đã đáp lại. “chẳng phải con vứt đi[68] và con cũng không ăn khúc mía đó; (mà là) con đã bố thí[69] cho vị Tỳ khưu đạt tịnh an.

Ôi – quyền này là của ta[70] hay của ngươi?” Như vậy mà mẹ chồng[71] con đã phỉ báng con; bà cầm chiếc ghế đẩu đập lên đầu con một cái.[72] Sau khi đã rời khỏi chốn đó con đã chết và trở thành[73] thiên nữ.

Và chính con được hưởng phước đức hạnh phúc đó – do chính việc thiện con đã thực hiện, con rất hài lòng với các tiên nữ trên thiên giới. Con đã được hưởng năm thù thắng giác quan.

Ðó chính là phước đức trước con đã thực hiện - chính nhờ phước đức đó con đã được chúa các thiên nữ bảo hộ và ban nguồn dục lạc đủ năm nguồn.

Phước quả con đã thực hiện quá ư to tát – việc cúng dường khúc mía quả lớn lao[74] thay được cùng tiên nữ hưởng lạc cùng thú vui chơi năm dục cõi trời.

Quả phước con đã thực hiện quá ư to tát – nhờ chỉ bố thí một khúc mía đã đem lại nguồn sáng vĩ đại.[75]

Và Thưa ngài, tôn giả đầy khôn ngoan xin hãy thương xót con, con đến đảnh lễ và hỏi xem ngài có khang an rồi con dâng ngài một khúc mía với tín tâm và lòng tràn ngập hoan hỷ.

4. Giờ đây (idāni): nàng nói tới ngày hôm trước đó, có nghĩa là chính lúc này đây (dhunā). Cùng ngôi làng đó (imam eva gāmaṃ): trong chính ngôi làng này; nàng ám chỉ đến thành Rājagaha vì người ta nói rằng một ngôi làng, một khu chợ cũng như một thành phố đơn giản được gọi là một ‘ngôi làng’ (gāma); và đây lại ở đối cách hiểu theo nghĩa vị trí cách. Ngài đã lên tới (upāgami): ngài đã lên tới đó. Vượt quá mọi so sánh (atulāya): không sánh kịp, hay nói cách khác không thể đo lường được.

5. Phải chăng ngươi dục đi (avākiri): phải chăng ngươi liệng bỏ đi, đã vứt ra ngoài, hay nói cách khác đã dấu đi[76]. Làm dịu đi (santassa): bậc thánh,[77] là người đã bình ổn[78] (dẹp yên) được hết các lậu hoặc, hay nói cách khác là người đã được giải thoát khỏi mỏi mệt[79] (gian khổ).

6. Của ngươi... này này (tuyhaṃ nu): liên quan đến vấn đề này từ nu (này này?) là một tiểu từ ám chỉ mối bất mãn không hài lòng; liên quan đến vấn đề này đây cũng là cách ta cần chọn và phân tích với từ “của ta”[80] như: của ta32- chăng? Uy quyền này (idam issariyaṃ): bà ta đề cập đến vấn đề này có ý ám chỉ đến uy quyền trong gia đình đó. đã qua đời khỏi (cõi) đó (tato cutā): sau khi đã từ giã khỏi cõi chúng sanh. Vì sau khi đã từ giã cõi đời này là nơi chúng ta đang trú ngụ cũng được gọi là “rời khỏi”. Chính vì thế “sau khi qua đời” được nói tới ở đây để phân biệt rõ cách thức người đó qua đi (chết). Và cho dù nàng đã chết nàng sẽ không phải tái sanh ở bất kỳ nơi nào; ngược lại nàng cho rằng, Ta là một thiên nữ” chỉ rõ cho thấy nàng đã chứng đắc bậc chư thiên.

7. [127] Cùng phước đức mà con đã thực hiện (tad eva kammaṃ kusalaṃ kataṃ kataṃ mayā): cùng một phước đức đó[81], chỉ một vật thí gồm một khúc mía; con đã thực hiện, có nghĩa là con không biết bất kỳ vật thí nào khác.[82] Và phước đức đó (sukhañ ca kammaṃ): và kết quả thiện của hành vi đó; vì kết quả của hành vi đó được gọi là “nghiệp”, nhờ cách đọc lướt từ cuối này, hay nói cách khác đây là cách mô tả ẩn dụ một nguyên nhân, như trong câu, “Hỡi chư vị Tỳ khưu, chính do nguyên nhân thực hiện những hành vi thiện, vì thế phước đức này đã gia tăng[83] như vậy” và trong câu, “Con đã được hưởng những phước đức của mình” v.v... b Hay nói cách khác “phước đức” (kammaṃ) lại ở thể đối cách nhưng hiểu theo nghĩa công cụ cách, có nghĩa là nhờ vào hành vi đó. Hay tái sanh nhờ vào nghiệp đích thực, phù hợp với phước đức[84] đó. Hay còn nữa chính do đó là một nghiệp (kammaṃ) nhờ đặc tính đáng mong ước trong đó (kametabbatāya) vì nghiệp đó quả là điều đáng mong ước (kamanīyaṃ) thực sự vì đó chính là điều đáng mong ước (kāmetabbaṃ) là vì hành vi đó đem lại hạnh phúc và còn hấp dẫn nữa. Chính ta (attana): chỉ có mình ta mà thôi, có nghĩa là chỉ nhờ chính con thôi, do con đã chế ngự được nghiệp đó, không phải phụ thuộc vào ai cả. Từ được đưa ra trước đó là attanā (nhờ chính ta) trong đoạn kệ[85] nên được phân tích là attanaṃ (chính ta) bằng cách biến đổi một tiếp ngữ nguyên nhân[86] như vậy: chính con rất hài lòng (attānaṃ)[87].

8. Chính Chúa tể chư thiên đã bảo vệ con (devindaguttā): chính Dạ Xoa đã bảo vệ con, do con có được một đoàn tùy tùng đông đảo. Con đã được cung cấp đầy đủ (samapitā): con đã được trang bị đầy đủ... (suṭṭhu appitā), con đã được phú bẩm cho.

9. Phải chăng đó là kết quả to lớn (mahāvipākā): quả là kết quả vĩ đại.

10. Phải chăng sáng chói rực rỡ (mahājutikā): tỏa sáng rực rỡ, có nghĩa là đầy vẻ oai lực to lớn.

11. Nhà ngươi: tuvaṃ = taṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). ầy lòng Ðại Bi (anukampakaṃ) giàu lòng thương xót. Khôn ngoan (viduṃ): với tuệ giác, có nghĩa là đạt đến đỉnh toàn thiện nơi một đồ đệ.[88] Phải chăng con đã tới gặp (upecca): con đã tới để gặp (upagantvā). Ðảnh lễ (vandiṃ): chào bằng năm cử bộ đầu cúi rạp xuống đất và hỏi ngài (pucchisaṃ = apucchiṃ, một dạng ngữ pháp hoán chuyển) là điều thiện, là sức khỏe; và con nhớ lại điều này đó là điều thiện to lớn không gì sánh kịp – đây chính là ý nghĩa.

iều còn lại giống như những gì đã diễn giải ở trên.

Phần Chú giải Thiên Cung Do Cúng Mía kết thúc tại đây.

3. 3 Chú Giải THIÊN CUNG CÓ SÀNG TOẠ
[Pallaṅkavimānavaṇṇanā]

“Trên bảo tọa tô điểm ngọc vàng” Ðây chính là Thiên Cung Có Tọa Sàng. Chuyện kể về Thiên Cung này[89] xuất xứ ra sao?

Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong thành Sāvatthi, trong cánh Rừng Kỳ Viên. Và[90] vào thời điểm đó trong thành Sāvatthi có một thiếu nữ, là con gái một thiện nam kia, đã kết hôn với một chàng trai trong một gia đình tốt lành đạo đức trên cơ sở dòng tộc tốt v.v... trong cùng thành phố đó, cả hai gia ình cũng rất môn đăng hộ đối và nàng không hề sân hận6 lại có bản tánh tốt, giữ giới hạnh toàn vẹn, tôn trọng chồng mình như một chư thiên[91] và hành trì ngũ giới. Trong khi đó vào những ngày Bát quan trai giới nàng lại thọ trì Bát quan trai giới rất cẩn thận. Sau này nàng đã qua đời và được tái sanh nơi cõi Tam Thập Tam. Theo cùng một cách thức như vậy vị trưởng lão Mahāmoggallāna cũng trẩy đến cõi đó như đã nói đến ở trên và đặt cho nàng một số câu hỏi với những đoạn kệ sau.

Trên bảo tọa sàng trang điểm bằng vàng ngọc đá quí[92], trên tọa sàng huy hoàng trải toàn hoa. Ôi thiên nữ đầy oai lực, ngươi đã nằm trên đó và biến hóa thần thông muôn hình vạn trạng, trong khi đó[93] những tiên nữ (là đoàn tùy tùng của ngươi đang nhảy múa hát xướng và tạo cho nàng an lạc thoải mái khắp quanh ngươi.

Nàng chứng đắc thần thông thiên chúng. Ôi nàng đầy oai lực vô song; Ngươi đã thực hiện phước đức nào khi còn sống nơi kiếp chúng sanh? Do oai lực nào oai lực của ngươi tỏa sáng đến như vậy và sắc diện của ngươi chiếu rọi khắp mười phương?”

Nàng đã giải thích cho ngài bằng những đoạn kệ sau:

“Khi còn là phàm nhân sống kiếp chúng sanh giữa thế nhân, con đã làm dâu trong một gia đình bề thế; không sân hận[94], tuân phục hết mực đức lang quân ta, con luôn chuyên cần nắm giữ Luật Bát quan trai giới[95].

Khi còn là phàm nhân, trẻ trung và ngây thơ. Với tâm tịnh tín con hết lòng yêu mến và làm hài lòng chồng mình, ngày đêm con luôn làm cho chàng say đắm yêu thương, trong quá khứ con luôn là người giới đức.

[129] Con kiêng cữ kiềm chế không sát sanh, không trộm cắp và không gian ác. Giữ thân tinh tuyền và tiết tịnh con không dùng đồ uống gây nghiện cũng không nói lời nguỵ ngôn, con là người luôn tuân thủ chu toàn giới luật toàn diện.

Vào những ngày mười bốn, ngày rằm và ngày tám trong hai tuần có trăng và cũng vào những ngày ngược lại trong hai tuần không trăng. Với tâm tịnh tín con luôn tu tập cho phù hợp với Giáo Pháp, với tâm hoan hỷ con chu tất Bát quan trai giới bao gồm bát thiền chi.

Và con thực hiện phước đức này ngay nơi cõi chúng sanh khi còn sống dẫn đến hạnh phúc, là bát chánh đạo[96] dẫn đến bát chánh đạo tột đỉnh, vị đạo sư lúc nào cũng yêu mến, và tuân giữ cả đời. Trước kia con đã là đồ đệ của ngài Sugata.

Sau khi đã thực hiện phước đức khi còn sống nơi cõi trần gian giữa thế nhân. Con được phần ưu thắng khác hơn người, đến khi thân hoại, nơi cõi đời sau, con chứng đắc thần thông thiên chúng, con đến được định mệnh phúc siêu phàm.

Nơi thiên cung tuyệt vời nhất trên đời, luôn thỏa trí và tự tỏa sáng, con được hưởng phước vây quanh một đoàn tiên nữ, gồm thiên chúng luôn đem hạnh phúc[97] cho con, vừa xuất hiện nơi thiên cung thiên giới con được hưởng định mệnh dài lâu.

Về điểm này:

1. Trên tọa sàng tuyệt diệu nhất (pallaṅkaseṭṭhe): trên chiếc chõng tuyệt vời hơn hẳn, trên chiếc giường tuyệt vời nhất. Người ta nói đến, ‘được trang điểm với châu báu cùng vàng vòng’ để làm rõ đặc tính ưu việt vượt trội hơn hẳn.[98] Trên chiếc tọa sàng tuyệt vời đó nơi con có thể nằm nghỉ (sayitabba-). Ðược nói đến bằng từ “tại đó” và trên một chiếc giường” được trang điểm với châu báu đá quí và vàng bạc chiếu tỏa khắp một mạng lưới tia sáng chói chang từ phía những đá quí đa dạng. Nhà ngươi (te): tất cả những gì liên quan đến nàng (tuyhaṃ), một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Nhưng xét đến từ[99] ‘mừng rỡ hân hoan’ (pamodayanti): biến tố của từ này được sửa đổi[100] từ thành taṃ (nhà ngươi). Hay nói cách khác hân hoan (pamodanyanti) : chính là nguyên nhân hân hoan mừng rỡ[101], có nghĩa là tạo ra mừng rỡ hân hoan nơi nhà ngươi (tuyhaṃ)[102].

4. Trẻ trung ngây thơ và trong trắng (daharā apāpikā): và hơn thế nữa nàng còn trẻ trung ngây thơ trong trắng. Hay nói cách khác cách giải thích chính là daharāsu ‘pāpikā’[103] (nhưng ý nghĩa vẫn y nguyên. Một số người còn giải thích là daharassāpapikā[104] (không xấu xa (apāpikā) với những người trẻ tuổi). [130] không trở nên xấu xa đối với người chồng trẻ. Có nghĩa là đáng kính trọng qua việc hầu hạ chàng rất cẩn thận và qua việc không ngoại tình[105] Vì lý do đó người ta nói rằng, ‘Với tâm tịnh tín’v.v... ta làm hài lòng (abhirādhayiṃ): ta đem lại vui sướng cho[106] (chàng). Vào ban đêm: ratto = rattiyaṃ, một dạng ngữ pháp hoán chuyển).

5. Không trộm cắp (acorikā): không phạm tội trộm cắp, có nghĩa là làm chùn bước không lấy của người khác. Viratā ca coriyā (ta kiềm chế... và không trộm cắp) cũng là một cách giải thích, có nghĩa là kiềm chế không sát sanh và[107]không trộm cắp. Tinh tuyền nơi thân xác (samma-d-eva) thể xác trong sạch (suddhakāyā) do những hành vi thể chất luôn luôn trong sạch, từ đó nàng sống cuộc đời trong sạch, tinh tuyền qua việc duy trì cuộc sống trong sạch ngoại trừ đối với đức lang quân của nàng[108]. Chính vì thế có lời nói rằng:

“Và chúng ta không phạm phải những gì đi ngược lại người vợ cả vợ của chúng ta cũng không lỗi nghịch lại chúng ta.

Chúng ta sống cuộc sống tinh tuyền chỉ dành cho cuộc sống vợ chồng chính vì thế con cái của chúng ta không hề phải chết”a

Hay nói cách khác (ta nên coi điều này như là) một cuộc sống phạm thiên tinh tuyền (sucibrahmacārinī): chính là cuộc sống phạm thiên trịnh trọng bằng cách nắm giữ luật Bát quan trai giới đó là sạch sẽ, tinh tuyền và thánh thiện (brahmassa), tuyệt hảo. Hay bằng cách thực hiện những bước đầu vào cuộc sống phạm thiên (cuộc sống bậc thánh (cuộc sống bậc thánh (Brahmacariya) phù hợp với cuộc sống bậc thánh, đó là chính là chánh đạo[109].

6. Chính con là người tu tập phù hợp với Phật Pháp (anudhammacārinī): con tu tập những gì phù hợp với Phật Pháp[110] - với Phật Pháp của những bậc thánh.

7. Và ta tuân giữ nghiệp thiện này được đề cập đến ngay sau đó, (đó là điều thiện) hiểu theo nghĩa đem lại sức mạnh và hiểu theo nghĩa tinh trắng vô tỳ vết, giúp dẫn đến hạnh phúc nơi những gì lấy hạnh phúc làm kết quả và nơi những gì lấy hạnh phúc làm phước lành. Ðó chính là thánh nhân nơi điều kiện không còn thiếu sót (và) gồm tám yếu tố tối thượng đó chính là “bát chi thù thắng” (tám yếu tố tuyệt hảo)[111] hay thuộc tám yếu tố bậc thánh tột đỉnh lại chính là người bậc thánh thông qua những yếu tố đó cũng chính là điều bậc thánh. Ðây là điều chúng ta nên phân tích ở điểm này.

8. Con chiếm được phần ưu thắng hơn người (visesabhāginī): ta chiếm được phần ưu thắng đó chính là thù thắng thiên giới. Con tới được định mệnh hạnh phúc (sugatimhī āgatā): tới được, đạt tới được định mệnh hạnh phúc; hay nói cách khác ta chiếm được hạnh phúc chính là định mệnh của con vậy. (sugatimhi = sugatiyaṃ, một dạng ngữ pháp hoán chuyển) đó chính là thù thắng thiên giới[112]. Sugatiṃ hi āgatā cũng là một cách giải thích, liên quan đến vấn đề này hi chỉ là một tiểu từ, hay mang ý nghĩa giới đề ra nguyên nhân điều gì đó[113]: vì ta đang chiếm được định mệnh hạnh phúc chính vì thế ta chiếm được ưu thắng rõ ràng đó. – đây chính là cách cần được phân tích.

9. Nơi thiên cung vô cùng tuyệt hảo này (vimānapāsādavare): đây chính là thiên cung tuyệt hảo nhất nơi những thiên cung có được; [131] hay nói cách khác trong thiên cung này được gọi là thiên cung chính; hay còn nữa trong thiên cung tuyệt hảo này. Ðó chính là ‘vimāne’, vô song (vigata) không gì sánh bằng (māne), không gì sánh kịp[114], vĩ đại, tự tỏa sáng, chính con được thưởng thức vây quanh là một đoàn các tiên nữ; hay nói cách khác từ amhi (ta được) cần phải được cung cấp thêm và phân tích với đoạn ‘nơi thiên cung thù thắng tuyệt hảo nhất này)[115] Con là người được sống lâu dài (dīghāyukiṃ): oàn tiên nữ luôn hầu hạ tiêu khiển cho con[116] khi con tới được thiên cung thiên giới đã nó đến ở trên và lại được hưởng sanh mệnh lâu dài hơn là những thiên nữ thuộc hạ giới và do sanh mệnh dài đáng kể của những kẻ nào được tái sanh trong đó. – đây chính là cách ta nên phân tích.

Phần còn lại giống như những gì đã trình bày ở trên.

Phần diễn giải Thiên Cung Có Tọa Sàng đến đây là kết thúc.

3. 4 Chú Giải THIÊN CUNG CỦA LATĀ
[Latāvimānavaṇṇanā]

“Thiên nữ Latā, thiên nữ Sajjā và Pavarā. Ðây chính là chuyện kể Thiên Cung của nàng Latā. Chuyện kể[117] này xuất xứ ra sao?

Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong thành Sāvatthi, tại khu Rừng Kỳ Viên. Và[118] vào thời bấy giờ có người con gái của một thiện nam kia, là cư dân sống trong thành Sāvatthi, nàng tên là Latā, là một thiếu nữ có học thức, nhiều tài năng và thông minh, nàng đã về nhà chồng; nàng đối xử rất khả ái đối với chồng cũng như với cha mẹ chồng, nàng ăn nói dịu dàng và từ tốn đối với kẻ ăn người ở trong nhà, nàng rất đảm đang gánh vác[119] giang sơn nhà chồng, nàng cai quản tài sản và bất động sản với cương vị một chủ gia nhân tài ba, tánh tình hiền lành không sân hận[120] và giới đức và phẩm hạnh thiện, nhất là nàng đã rộng tay bố thí khi cần thiết, nàng liên tục chuyên tâm nắm giữ ngũ giới và siêng năng thọ trì Bát quan trai giới.

Nàng đã qua đời ít lâu sau đó và được tái sanh làm con gái Ðại Vương Vessavana[121] tên nàng vẫn được gọi là Latā[122]. Và ngoài nàng ra còn có năm chị em khác nữa là Sajjā, Pavarā. Accimatī[123] và Sutā. Cả năm chị em đều được Dạ Xoa Thiên Chủ bảo dưỡng, và đưa lên vị trí thị giả do tài năng ca múa của họ. Nhưng Latā là người được sủng ái hơn cả, do tài năng ca múa của nàng rất nổi bật. Mỗi khi tụ họp lại với nhau họ đều tranh luận về khả năng âm nhạc[124]. Và cả năm đã đến gặp Ðại Vương Vessavaṇa và hỏi ngài mà rằng, “Thưa cha, cha chọn đứa nào trong năm đứa chúng con trổi vượt nhất về xướng ca nhảy múa? Ðại Vương liền nói như sau. [132] Các con gái yêu quí của ta, các con phải đến và biểu diễn ca hát nhảy múa trong một cuộc thiên chúng tụ tập lại trên bờ hồ Anotatta[125] - chỉ như vậy thì các con mới thể hiện được phẩm chất độc đáo của từng người.” Cả năm nàng thực hiện y lời Thiên Chủ truyền. Ngay trong cuộc biểu diễn đó các thiên đồng không thể nào kiềm chế được khi khi Latā nhảy múa. Chư vị đó cười rộ lên vì tâm tràn ngập kỳ thú ngạc nhiên và họ vỗ tay tán thưởng liên tục. Họ hoan nghênh không hết lời và vẫy khăn liên tục gây huyên náo cả một vùng núi Hymalaya. Nhưng khi các cô gái khác cất tiếng hát thì họ đều nín thinh giống như con chim cu đang trải qua mùa đông rét buốt. Như vậy phẩm chất nổi vượt của nàng Latā liên quan đến tài năng ca hát đã thể hiện rõ tại đó.

Sau đó nàng thiên nữ Sutā[126] nổi lên suy nghĩ như sau, “Giờ đây do phước đức nào nàng Latā đã trổi vượt hơn hẳn chúng ta cả về sắc diện lẫn danh thơm? Quả ta muốn hỏi về hạnh nghiệp nàng Latā đã thực hiện?” Và rồi nàng Sutā đã lên tiếng hỏi Latā, nàng đã giải thích vấn đề này cho nàng biết. Toàn bộ vấn đề này ại Vương Vessavana đã nói lại với trưởng lão Mahāmoggallāna khi ngài đến cõi này trong chuyến thiên du. Ngài liền thông báo cho Ðức Thế Tôn nghe về vấn đề đó ngay từ đầu đến lúc câu hỏi được đặt ra, vị trưởng lão cho biết những lời tiếp theo sau đây là câu hỏi[127] Suta đã đặt ra.

Thiên nữ Latā Sajjā và Pavarā, rồi Accimatī[128] và Sutā, họ đều là đồ đệ của vị Ðại Vương đầy oai lực và tuyệt hảo; Con gái của Ðại Vương Vessavana lại toả sáng, được coi như sáng chói[129] nhất với nhiều phẩm chất Phật Pháp.

Cả năm thiên nữ đều lui tới đây tắm trong một khúc sông lạnh lẽo đầy bông sen và vô cùng khả ái; sau khi cả năm thiên nữ đã tắm xong họ đã nhảy múa ca hát khiến cho cả vùng hoan hỉ vui sướng[130]. Thiên nữ Sutā liền nói với Latā:

Em hỏi chị xem ai đang đeo vòng hoa sen, ai lai đội hạt chuỗi trên trán, chị có làn da trông tựa vàng ròng chói sáng. Với ánh mắt có màu đen đồng[131] và ai đang tỏa sáng giống[132] như bầu trời trên cao. Lại được hưởng trường thọ mệnh đến như vậy. Nhờ đâu chị được danh thơm tiếng tốt đến như vậy?

Do đâu chị được chồng sủng bái trổi vượt đến thế, lại có vẻ đẹp kiều diễm đến vậy, và có tài năng[133] nhảy múa ca hát và đờn ca? Hãy cho chúng em biết, chị là ai mà cả thần dân và chư thiên đều ca ngợi hết lời.’”

[133] Trong khi đó nàng trả lời như sau:

5. “ Khi chị còn sống nơi kiếp con người, giữa thế nhân, chị là con dâu trong một gia đình rất giàu có; không sân hận[134], tuân phục chồng mình, chị luôn luôn chuyên cần nắm giữ luật Bát quan trai giới[135].

6. Khi chị còn sống nơi kiếp con người, khi còn trẻ trung và ngây thơ trong trắng, với tâm tịnh tín, chị đã làm hài lòng đức lang quân cùng với người em chồng của chị, với cha mẹ chồng[136] cùng với kẻ ăn người ở trong gia đình. chị đã khiến cho mọi người hài lòng[137]; chính nhờ đó chị đã tạo được danh thơm tiếng tốt to lớn này.

7. Do phước đức đó chị đã đạt đến vẻ ưu tú đó bằng bốn cách[138]: nơi sanh mệnh dài lâu và sắc diện kiều diễm được hạnh phúc và sức mạnh to lớn. Chị còn được tiêu khiển và hoan hỷ đáng kể.

8. “Ngài có nghe chăng những gì thiên nữ Latā này nói ra[139] chăng? Nàng đã công bố những gì chúng ta đạt được đang lúc chúng ta tìm hiểu: người ta nói rằng những chúa tể đối với chúng ta gồm những nữ nhân có định mệnh[140] tuyệt hảo[141] và đối với họ lại là các thiên nữ [142] tuyệt hảo nhất.

9. ước mong tất cả chúng ta đều nắm giữ Phật Pháp đối với các chủ nhân của chúng ta, đối với họ thiên nữ này đã trở thành những người vợ chung thủy. Sau khi mọi người đã tuân giữ [143] Phật Pháp liên quan đến chủ nhân của chúng ta, chúng ta sẽ đạt được những điều thiên nữ Latā đề cập đến.

10. Giống như sư tử tìm mồi trên đỉnh núi, sau khi đã cư ngụ trên núi, đang nâng đỡ trái đất, sau khi đã dùng sức mạnh giết chết những đồng loại bốn chân. Nó đã trở thành một kẻ ăn thịt xé xác những động vật nhỏ hơn.

11. Cũng như vậy một đồ đệ nữ bậc thánh có tâm tịnh tín ở đây[144], tuy lệ thuộc vào người chồng của mình, trung thành với đức lang quân của mình, sau khi đã diệt sân hận. Sau khi đã khuất phục được tính bủn xỉn, người nào tu tập Phật Pháp sẽ tự mình được hưởng phước đức thiên giới.”

[134] Về điểm này:

1. Latā, Sajjā, Pavarā, Accimatī và Sutā là tên của chư thiên nữ . Từ “và” (ca) hiểu theo nghĩa liên từ. Thuộc về vị vua anh minh nhất (rājavarassa): thuộc chúa tể chư thiên một vị vua tuyệt diệu nhất, trổi vượt nhất trong số Tứ Ðại Vương; là các đồ đệ của Dạ Xoa[145] - đó chính là ý nghĩa muốn đề cập đến ở đây. Vị Vương (rañño): Vị đại vương . Chính vì lý do đó ngài cho biết, “Con gái của Vesavana - đây là cách ta cần phân tích một cách riêng rẽ liên quan đến từng thiên nữ trong số năm phụ nữ đó); hay nói cách khác ở đây có việc làm sai lệch số; có nghĩa là những cô gái (dhītāro) của Vessavana. Nàng vô cùng trổi vượt (rājī) vì nàng chiếu sáng, vì nàng toả sáng; nàng được coi như toả sáng[146] chói chang hơn hẳn. Ðây là khía cạnh đặc biệt nơi cả năm phụ nữ đó. Một số người cho rằng đây chỉ đơn giản là tên dành cho từng thiên nữ đó vì từ pavarā (tuyệt vời nhất) được mọi người nghĩ rằng đó là khía cạnh nổi bật nơi cả[147] năm phụ nữ đó. Cùng với những phẩm chất Phật Pháp (Dhammaguṇehi): với những phẩm chất thiện giống như Phật Pháp, không chút rời xa Phật Pháp, có nghĩa là với những phẩm chất phù hợp với cách thức thực tế nơi sự vật[148]. Tỏa sáng (sobhatha): chiếu sáng chói lọi.

2.  đây có năm phụ nữ (pañc’ ettha nāriyo):  đây năm phụ nữ này với tên gọi ta đã nói đến ở trên cư trú trong vùng Hymalaya này . Dòng nước sông mát mẻ, phủ đầy hoa sen, đầy triển vọng (sītokakaṃ upPāliniṃ vivaṃ nadiṃ): ngài đề cập đến cửa sông xuất phát từ hồ Anotatta. đã ca hát nhảy múa (naccitvā gayitvā) được đề cập đến liên quan đến việc ca hát nhảy múa được thực hiện, theo lời yêu cầu của người cha xin các nàng trình diễn trong cuộc tụ tập các chư thiên. Sutā đã nói với Latā[149](Sutā Lataṃ bravi): thiên nữ Sutā đã nói với người chị của mình là Latā. Một số người cũng[150] giải thích là Sutā Lataṃ bravaṃ (người được sanh ra nói với Latā), có nghĩa là người con (sutā), là con gái của vị Ðại Vương Vessavana đã nói với Latā.

3. Có mắt màu đồng đen tuyền (timīratambakkhi): mắt nàng có những đường sọc giống như tia sáng[151] của những sợi tóc loại cây nicula[152]. Nàng đang tỏa sáng giống như bầu trời (nabheva sobhane): đang chiếu ánh sáng[153] không như bầu trời, có nghĩa là chiếu rọi sáng nơi các chi cả lớn lẫn nhỏ của nàng, rất trinh trong, giống như bầu trời mùa thu trong sáng. Ðược thoát khỏi những lậu hoặc thuộc những đám mây giông và bão tuyệt v.v... [154]. Hay nói cách khac chính là và trong bầu trời trong xanh : nabheva = nabhe eva (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài), từ eva mang ý nghĩa một giới từ, [135] có nghĩa là người đó đang chiếu sáng dưới mọi góc độ như vậy. – liên quan đến thiên cung đang ngự trên bầu trời và liên quan đến những vị trí liên quan đến[155] mặt đất như thể dẫy núi Hymalaya và ngọn núi Yugandhara[156] v.v... do những gì đã được tạo thành (kena kato): do loại phước đức nào đã xuất hiện[157]. Tiếng tăm lừng lẫy này (yaso): thù thắng nơi đoàn tùy tùng và danh tiếng này; và liên quan đến tiếng thơm của nàng những phẩm hạnh đó đã là nguyên nhân tạo ra danh thơm tiếng tốt như đã được liệt kê.

4. Là đức lang quân yêu mến nhất của ta. (patino piyatarā): người yêu quí, người ưa thích nhất của đức lang quân. Theo cách này nàng chỉ ra cho thấy tính chất hấp dẫn của nàng ra như thế nào. Nổi bật, đáng yêu nhất như vẻ kiều diễm cao sang (visiṭṭhakalayāṇitar’assu rūpato): vẻ kiều diễm nổi bật, tuyệt nhất có liên quan đến thù thắng kiều diễm; assu (không dược dịch) chỉ là một tiểu từ. Một số người cũng giải thích là visiṭṭhakalyāṇitarāsī [158] rūpato (nàng được nổi bật và vô cùng dễ thương do vẻ đẹp kiều diễm mang lại.) Có năng khiếu (pakakkhiṇā): khéo léo[159], tài giỏi bằng nhiều cách khác nhau hay theo cách đặc biệt nào đó. Trong nghệ thuật ca hát, nhảy múa và đờn ca (naccagītavādite): ở đây nacca[160] (nhảy múa) đã trải qua cách đọc lướt nơi hậu tố cách[161], có nghĩa là nacce (trong nhảy múa), ca hát và đàn ca.[162] Chư thiên nữ và các phụ nữ đã tìm hiểu với mục đích để biết vẻ kiều diễm của nàng và với mục đích được nàng biểu diễn nghệ thuật như sau: Latā đang ở đâu? nàng Latā đang làm gì?”

6. Vì nàng liên tục làm hài lòng (rameti) giống như một chư thiên (devo) thiếu liên kết thể chất, hay nói cách khác vì nàng chỉ toàn hảo[163] (varo) thuộc hạng thứ hai (dutiyo), chàng chỉ là anh rể (devaro), là người em trai của chồng (dutiyo) nàng. Chàng cùng với em chồng của nàng (sadevaraṃ)[164] vì chàng có người em trai (devarena)[165] đi kèm. Người mẹ chồng (sassu) và cha chồng gộp lại thành cha mẹ chồng của nàng (sasura)[166] Vì chàng đi kèm với cha mẹ chồng (sassasuram) của nàng đi kèm vì chàng được đi theo với cha mẹ chồng[167] (sasurehi) của nàng. Và chàng cùng với kẻ ăn người ở (sadasakaṃ) trong nhà vì chàng được kèm theo với (saha) những nô tỳ (dāsehi dāsihi) trai gái trong gia đình. “Chị luôn làm hài lòng Đức lang quân của chị” – đây chính là mối tương quan[168]. được tạo thành trong đó (tamhi kato): trong đó, trong gia đình đó, hay nói cách khác trong đó, vào thời điểm đó chị đang làm dâu, chị đã tạo được danh thơm tiếng tốt, do được tái sanh nơi tình trạng phước đức đã tạo được điều này[169]. Ðây là ý nghĩa muốn được nhấn mạnh đến ở đây. Của ta (mama): có liên quan đến các từ ‘được tạo ra” điều này phải được biến đổi thành “nhờ có ta’ (mayā).

7. Bằng bốn cách (catubbhi thānehi): bốn lý do. Hay nói cách khác có liên quan đến bốn nguyên nhân (thānesu) đã tạo thành những thuộc tính đó. Ta đã chứng đắc nét độc đáo (visesam ajjhagā): đã đạt được một cách vượt mực (so với người khác). Nơi sanh mạng trường thọ hơn nơi sắc diện kiều diểm hơn và nơi hạnh phúc quyền năng (āyuñ ca vaṇṇañ ca sukham balañ ca) là cách làm rõ sắc thái được đề cập đến như thế: “bằng bốn cách” Vì sanh mệnh trường thọ v.v.. chính là những điều nổi bật nhờ đó bản chất tự nhiên của nàng được phân biệt rõ ràng so với người khác và được nói tới[170] như là ‘một cách’ do đã trở thành nguyên nhân cho nàng[171] sau khi đã được nói tới với một cách như vậy thông qua lòng kính trọng[172] theo cách đó, nàng “đã chiếm được sự nổi bật”- thuộc loại nào thế? đó chính là thọ mệnh trường thọ, và sắc diện kiều diễm lại có hạnh phúc và sức mạnh – đây là điều ta nên phân tích ở đây.

8. [136] Nàng có được điều nàng Latā đã nói tới chăng (sutaṃ nu taṃ bhāsati yaṃ Latā): nàng đã hỏi[173] nàng về ba người em gái khác. “Giờ đây nàng có nghe hay không nghe[174] điều gì nàng Latā, người chị cả của chúng ta đã nói chăng?” Mối nghi ngờ của chúng ta về điều đó (yam no): mối nghi ngờ này của chúng ta về điều này; hay nói cách khác no chỉ là một tiểu từ. Còn nữa no hoặc có nghĩa là amhākaṃ (đối với chúng ta, một dạng ngữ pháp hoán chuyển) hay nói cách khác để nhấn mạnh như trong câu “na no samam atthia v.v... [175], có nghĩa là theo cách đó đơn giản nàng được công bố như vậy, nàng được giải thích không trái ngược lại như vậy. Người ta nói rằng cá đức lang quân đối với chúng ta chính là định mệnh tuyệt hảo và đối với họ chúng ta là các thiên nữ tột đỉnh (patino kir’ amhākaṃ visiṭṭhanārinaṃ gatī ca tāsaṃ[176] pavarā ca devatā): các vị chúa tể, các đức lang quân[177]ối với chúng ta những phụ nữ, những người đàn bà, chính là định mệnh tột đỉnh nhất và chúng ta đối với họ[178] chính là chỗ dựa chính liên quan đến việc bảo vệ họ khỏi ám hại và đối với họ[179] thân phận phụ nữ, là thù thắng tuyệt đối. Là chư thiên tột đỉnh được coi như nơi nương tựa[180] có nghĩa là khi họ đã chiếm được một cách chính đáng những phụ nữ đó sẽ đem lại hạnh phúc và sung sướng[181] đến cho họ vào thời điểm đó cũng như trong cuộc sống tương lai.

9. Tất cả chúng ta hãy tuân giữ Phật Pháp liên quan đến đức lang quân của chúng ta (patīsu dhammaṃ pacarāma sabbhā): ước mong tất cả chúng ta hãy tuân thủ Phật Pháp để tu tập như thể thức dậy trước và vào giường sau cùng v.v... [182] so với đức lang quân của các ngươi, liên quan đến ông chủ của các ngươi. Trong đó (yattha): liên quan đến vấn đề này, hay liên quan đến những gì[183] người phụ nữ phải trở thanh những người vợ chung thuy khi họ chuyên tâm tu tập Phật Pháp liên quan đến ông chủ của họ. Chúng ta sẽ có được điều thiên nữ Latā này đã nói (lacchāmase bhāsati yaṃ ayaṃ Latā) : sau khi đã nắm giữ những điều Phật Pháp liên quan đến tôi chủ, chúng ta sẽ nắm được những thù thắng này, thù thắng có liên quan đến điều Latā đã nói như là điều nàng đã có được[184] cho đến lúc này.

10. Tìm kiếm con mồi trên ngọn núi (pabbatasānugocaro): đang sống trong cánh rừng rậm rạp. Sau khi đã cư ngụ trên một ngọn núi, trên đó trái đất được nâng lên (mahindharaṃ pabbataṃ avasitvā): sau khi cư trú, sau khi đã sống[185] yên ổn, trên một ngọn núi, trên một ngọn núi không thể di chuyển[186] đi đâu được, được đặt tên cho là “cái điều nâng đỡ trái đất[187](mahindharam) chính vì ngọn núi đó đã nâng (dhāreti)[188] trái đất (mahiṃ) có nghĩa là sống trên đó. Vì liên quan đến các từ ‘sau khi đã sống trên đó” đây chính là đối cách hiểu theo nghĩa vị trí cách. Với sức mạnh (pasayha): sau khi đã được trang bị với đầy đủ sức mạnh. Nhỏ hơn (khudde): kém hơn xét dưới góc độ sức mạnh, nhưng liên quan đến kích cỡ thì ngài có khả năng giết được ngay cả[189] những thú vật lớn. Ngay cả voi nữa.

11. Theo cùng một cách đó (tath’eva): đây là cách ý nghĩa nên được phân tích trong việc áp dụng ẩn dụ liên quan đến đoạn kệ này: Giống như con sư tử sống dựa vào ngọn núi đã trở thành nơi ở và việc săn mồi[190] nhằm chu tất mục tiêu nó mong muốn, [137] ngay cả như vậy người nữ đồ đệ bậc thánh với tâm tịnh tín [191] cũng sống phụ thuộc vào chồng của nàng (bhatthāraṃ)- (là người như vậy) do việc chồng hỗ trợ cho nàng (bharaṇato), chăm lo của ăn cho nàng, cung cấp cho nàng quần áo y phục và chăn gối v.v... dựa vào ông chủ, dựa vào đức lang quân của nàng, trung thành (anubbatā) với ông chủ dưới mọi khía cạnh bằng tính chất dịu dàng của nàng sẳn có (anukulatā)[192] với ông chủ của mình dưới mọi khía cạnh ngay cả với cái gọi là lời nguyền (vatena), sau khi đã khử trừ, sau khi đã từ bỏ, sân hận có thể nổi lên[193]liên quan đến các đầy tớ trong nhà v.v... sau khi đã thắng vượt (abhibhuyya = abhibhavitvā, một dạng ngữ pháp hoán chuyển) không để chi tính bủn xỉn ngóc dậy liên quan đến những đề tài như của cải, nàng tu tập Phật Pháp bằng cách tu tập xuyên suốt Phật Pháp thuộc bổn phận người vợ trung thành và Phật Pháp liên quan đến người tín nữ[194] mộ đạo, nàng được hưởng thù thắng thiên giới nơi cõi phạm thiên, và được gia nhập niềm hoan hỷ trường cửu muôn đời.

Phần còn lại[195] giống như những gì đã diễn giải ở trên.

Phần diễn giải thiên cung của nàng Latā kết thúc tại đây.

3.5 Chú Giải THIÊN CUNG CỦA NÀNG GUTTILA.
[Guttilavimānavaṇṇanā]

“Thất huyền cầm ấy thật du dương[196]. Ðây chính là chuyện kể Thiên Cung của nàng Guttala. Chuyện kể này[197] có xuất xứ ra sao?

Bấy giờ Ðức Thế Tôn còn lưu lại trong thành Rājagaha thì vị trưởng lão Mahāmoggallāna đang thực hiện chuyến du hành thiên giới theo cùng cách thức như đã nói đến ở trên, ngài đã tới cõi Tam Thập Tam; tại đó ngài đã lưu lại trong ba mươi sáu Thiên Cung liên tiếp, tôn giả đã được chứng kiến ba mươi sáu chư thiên nữ từng cá nhân một vây quanh là một đoàn tiên nữ lên tới một ngàn vị, đang lúc được hưởng thù thắng thiên giới to lớn, và ngài đã hỏi họ với ba đoạn kệ liên tiếp bắt đầu như sau, “(Nhà ngươi đứng đó) với sắc diện kiều diễm vô song” ngài cũng hỏi họ về những phước đức họ đã thực hiện trước đó. Và họ đã giải thích điều này cho vị tôn giả hiểu, tiếp ngay sau câu hỏi của ngài. Với nhiều đoạn kệ khác nhau, đoạn kệ đầu tiên trong đó (bắt đầu như sau), “người phụ nữ đó[198] đã dâng y đẹp tuyệt trần”. Thế rồi vị tôn giả đã từ đó quay trở lại cõi chúng sanh, ngài đã thông báo sự việc cho Ðức Thế Tôn. Khi nghe biết biến cố này Ðức Thế Tôn liền nói, “Này tôn giả Mahāmoggallāna, không phải các thiên nữ đó đã trả lời theo cách đó khi ngài đã hỏi họ theo cùng một cách trước đó khi ta đã hỏi họ nữa.” thế rồi vị trưởng lão thỉnh cầu Ðức Thế Tôn kể lại câu chuyện về Guttila[199] ngài đã biết được từ lâu lắm rồi. (xin đọc chuyện tiền thân Ðức Phật.)

Ngày xửa ngày xưa, khi ngài Brahmadatta còn đang cai trị trong thành Benares, thì vị bồ tát[200] đã tái sanh trong một gia đình có rất nhiều nhạc công và đã trở thành một bậc thầy rất được quen biết và nổi tiếng khắp nơi về nghệ thuật âm nhạc. Tương tự như ngài Timbaru và Nārada[201] là một chuyên gia nghệ thuật âm nhạc [138] ngài phải chăm sóc[202] cha mẹ già lại còn bị mù của mình. Nghe được khả năng toàn hảo về âm nhạc có tên là Mūsila[203], là cư dân thành phố Ujjeni[204], đến thăm ngài, chào ngài và