|
Chú giải CHUYỆN CHƯ THIÊN
Bản
Pāli: ĀCARIYA DHAMMAPĀLA
IV
PHẨM ÐỎ SẪM *
4. 1 Chú Giải CHUYỆN KỂ
THIÊN CUNG ÐỎ SẪM “Ðỏ sẫm[1] thiên cung[2] trải cát vàng””. Ðây là thiên cung có màu sắc đỏ sẫm trong Phẩm Ðỏ Sẫm. Thiên cung này xuất xứ như thế nào? Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong thành Sāvatthi, ngay tại khu Rừng Kỳ Viên. Có một thiện nam kia, sau khi đã mời Ðức Thế Tôn và đã giàn xếp một toà đại sảnh theo cùng một cách[3] đã kể lại trong chuyện kể Thiên Cung ở trên, sau khi đã kính lễ Ðạo Sư đang ngồi tại đó và rồi tổ chức bố thí cho ngài. Bấy giờ vào thời điểm đó có một nô tỳ nọ đang làm việc trong một gia đình tốt, nàng đã nhìn thấy cây Sala đang trổ bông trong khu rừng Hắc Lâm đó, nàng liền sâu những đóa hoa đó thành từng dây và rồi đội trên đầu[4] và rồi nàng còn gom rất nhiều hoa nữa và rải trên đường đi vào thành phố. Và sai khi nàng nhìn thấy vị Ðạo Sư đang ngồi trong sảnh đường tỏa sáng đủ sáu thứ ánh sáng chói chan nơi Ðức Phật[5] giống như mặt trời mới mọc chiếu sáng bên trong ngọn núi yugandhara[6] sừng sững. Thế rồi với tâm tịnh tín nàng đã kính lễ ngài với những chùm hoa đó, đặt những tràng hoa đó ngay tại chỗ ngài ngồi và rải những bông hoa khác ngay dưới chỗ ngồi đó; thế rồi nàng đảnh lễ đặc biệt vị Ðạo Sư đi quanh ngài ba vòng từ phía bên phải rồi rời khỏi ngài. [177] Sau đó không bao lâu nàng đã qua đời và được tái sanh nơi cõi Tam Thập Tam[7]. Ngay sau đó xuất hiện một thiên cung làm bằng hoa màu đỏ và trước thiên cung đó có một cánh rừng Sala, tại khu đất trước thiên cung lại rải[8] cát vàng óng ả. Khi Thiên Nữ đó[9] bước ra khỏi Thiên Cung và đi vào cánh rừng Sala, các cây hoa Sala cúi rặp mình xuống đất và rắc đầy hoa trên thân mình nàng. Trưởng lão Mahāmoggallāna đang thực hiện chuyến du hành thiên giới, đã nhìn thấy thiên nữ vây quanh là đoàn tuỳ tùng gồm hàng ngàn tiên nữ hầu hạ nàng và toả sáng với đại thần thông chư thiên; ngài tiến đến gần nàng và hỏi về phước đức nào nàng đã thực hiện trong quá khứ bằng những đoạn kệ[10] sau: Trong thiên cung toàn một màu đỏ sẫm mặt đất được trải cát vàng[11] khắp nơi. Kìa nàng thiên nữ thật vinh quang đang thưởng thức đủ ngũ nhạc huyền cầm âm thanh tuyệt hảo. Vừa bước xuống khỏi chốn thiên cung lộng lẫy làm toàn ngọc trai châu báu kim sa[12] nàng bước xuống song thọ sala diễm lệ bông hoa nở rộ. Dưới từng gốc đại thọ sala nàng dừng bước, thiên nữ kia hùng vĩ thay khiến cây nghiêng mình cúi rạp rải rắc muôn hoa trước mặt nàng. Hương thơm đại thọ Sala tung bay trước gió, khiến chim chóc dập dìu bay lượn muôn hướng khác nào cây manjusaka tỏa hương thơm ngọt ngào. Nàng hít thở làn hương sảng khoái, nàng nhìn ngắm vẻ đẹp siêu nhân[13] . Hỡi nàng thiên nữ khi được hỏi hãy cho biết rõ phước quả thiện nghiệp nào nàng đã thực hiện”. Về điểm này: 1. Trong Thiên Cung toàn một màu đỏ sẫm (mañjeṭṭhake vimānasmiṃ): nơi thiên cung làm bằng đá ngọc châu báu toàn màu đỏ sẫm; giống như màu đỏ Sindhuvāra[14] hay búp hoa kaṇavīra[15] hé nở, ta gọi là có toàn một màu đỏ sẫm[16] dễ thương. Trên mặt đất trải một lớp cát vàng bóng bảy (soṇavālukasanthate): trên mặt đất trước thiên cung được phủ một lớp cát vàng bóng bảy. Nàng đang thưởng thức điệu ngũ huyền cầm âm thanh êm dịu (ramasi suppavādite) nhà ngươi đang thưởng thức ngũ huyền cầm trổi nhạc tạo âm thanh huyền bí (suppavādite = suṭṭhu pavāditena, thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài bằng một dạng ngữ pháp hoán chuyển) do năm nhạc cụ tấu hoà âm thanh. 2. Làm toàn bằng châu ngọc trải kim sa (nimmitā ratanāmayā): từ chốn thiên cung làm bằng toàn châu báu trải kim sa đã được tạo ra một cách nhiệm mầu do những người thợ thủ công[17] rành nghề lại chính là phẩm chất thiện của nàng. Muôn muôn đời (sabbakkhālikaṃ): luôn tạo sảng khoái cho nàng phù hợp với từng mùa trong năm; hay nói cách khác trăm hoa đua nở rộ suốt quanh năm[18]. 4. Bay lờn vờn trước ngọn gió thổi (vāteritaṃ): lay động trước làn gió, khuấy động trước làn gió khiến cho những đóa hoa rơi lả tả như rải đều trên mặt đất. [178] Bị lay động (ādhutaṃ): trước làn gió[19] thổi[20] nhẹ[21] trên những cây hoa đó. Chim chóc dập dìu (dijasevitaṃ) : những đàn chim thường xuyên lui tới như chim công chim cu v.v... [22] Trưởng lão đã đặt ra câu hỏi cho thiên nữ đó như vậy, nàng liền giải thích với những đoạn kệ sau đây: ‘Khi con còn sống nơi kiếp con người giữa thế nhân, con đã làm thân phận nữ tỳ[23] trong một gia đình[24] bậc thánh, khi nhìn thấy Ðức Phật ngồi thiền con đã rải hoa Sala nơi chỗ ngồi của ngài. Và với tâm thành tín chính tay con đã dâng cúng dường cho ngài một vòng hoa[25] sala. Sau khi đã thực hiện phước đức được chính Đức Phật khen ngợi, con đã vô cùng hoan hỷ[26]. Trở thành kẻ đã loại trừ được hết sầu khổ, được hưởng hạnh phúc và an toàn sung sướng”. Về điểm này: 6. Trong một gia đình bậc thánh: ayirakule=ayyakule (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) được sống trong gia đình người chủ của con. Con đã trở thành: ahuṃ=ahosiṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Con đã rải (okiriṃ): con đã rắc[27] những cánh hoa sala đã rụng[28] khỏi cây. 7. Con đã dâng cúng dường (upanāmesiṃ): dâng cúng bằng cách kính lễ ngài. Phần còn lại[29]giống như những gì đã được diễn giải ở trên. Thế rồi, sau khi đã diễn giải Phật Pháp cho thiên nữ đó cùng với đoàn tuỳ tùng của nàng, Trưởng Lão Mahāmoggallāna đã quay trở lại cõi chúng sanh và kể lại sự việc cho Đức Phật nghe. Ðức Thế Tôn coi biến cố đó như một vấn đề nổi lên và diễn giải Pháp thoại cho nhóm đông tụ tập lại đó. Giáo Pháp đó đã đem lại lợi ích cho cõi chúng sanh cùng với chư thiên[30] trong đó. Phần diễn giải Thiên Cung Ðỏ Sẫm kết thúc tại đây.
4.2 Chú Giải CHUYỆN KỂ
THIÊN CUNG SÁNG CHÓI “Thiên nữ dung nhan đẹp rỡ ràng, xiêm y lấp lánh tỏa hào quang”. Ðây là chuyện kể về thiên cung sáng chói. Thiên cung này[31] xuất phát như thế nào? Bấy giờ Đức Thế Tôn còn đang lưu lại trong thành Rājagaha. Và[32] vào thời bấy giờ trong thành Rājagaha có một thiện nam tâm tịnh tín đối với trưởng lão Mahāmoggallāna. Ông ta có cô con gái cũng có tâm tịnh tín[33] với vị trưởng lão đó. Thế rồi một hôm trưởng lão Mahāmoggallāna đang du hành trong thành Rājagala khất thực, ngài đã đến gặp gia đình này. Khi cô gái nhìn thấy trưởng lão, tâm cô tràn đầy hoan hỷ; cô đã sửa soạn một chỗ ngồi dành riêng cho trưởng lão và khi ngài đã ngồi trên đó nàng đã thành kính đảnh lễ với vòng hoa nhài [179]và đã đổ đầy mật mía vào bát khất thực của ngài. Vì muốn chứng tỏ lòng cảm ơn của mình với cô gái, trưởng lão đã ngồi lại, nàng cho ngài biết đây không phải là lúc thuận tiện do có quá nhiều sự việc liên quan đến cuộc sống gia đình cần phải được thực hiện xong nói rằng, “Con sẽ ngồi lắng nghe Phật Pháp vào ngày khác được không?” Nàng đảnh lễ trưởng lão và cáo từ. Và chính ngày[34] hôm đó nàng đã qua đời và tái sanh nơi cõi Tam Thập Tam. Trưởng lão Mahāmoggallāna tiến lại gặp nàng và hỏi nàng với những đoạn kệ sau đây: Thiên nữ dung nhan đẹp rỡ ràng, xiêm y[35] lấp lánh tỏa hào quang. Vĩ đại thay thần lực của nàng, tứ chi nàng bóng loáng giống như phấn san hô. Hỡi Thiên nữ, nàng là ai lại đảnh lễ ta như vậy? Tọa sàng của nàng thật vĩ đại cao sang, được tô điểm với muôn vàn châu báu, sáng ngời[36] nàng ngự ở trên lầu cao hào quang nàng tỏa sáng tự Thiên Chủ, chẳng khác gì trong Hỷ Lạc Viên. Hạnh thiện nào nàng đã thực hiện[37] trong quá khứ để nàng được hưởng quả trời cao? Nhờ phước đức nào nàng đã được hưởng kết quả nơi cõi thiên giới? Thiên nữ đó được hỏi như vậy đã cho biết nhờ phước đức nào đã đem lại quả lớn lao đến vậy.” Về điểm này: 1. Nàng là ai lại có dung nhan rạng rỡ đến như vậy còn tỏa sáng chói chang đến thế. (pabhassaravaṇṇanibhe): đây chính là vẻ rực rỡ huy hoàng (nibha) vì diện mạo nàng tỏa sáng rực rỡ (bibhāti). vì diện mạo nàng sáng chói[38]; vẻ rực rỡ lại chính là diện mạo của nàng, cũng chính vẻ rạng rỡ đó toát ra từ sắc diện của nàng. Ðây là dung nhan tỏa sáng, tuyệt hảo nhất vì vẻ rạng rỡ này chính là dung nhan của nàng[39] toả sáng[40] rực rỡ. Do tính chất toả sáng[41] chói chang đó lại vô cùng rực rỡ, vô cùng tuyệt vời, tuyệt đối do không còn bất kỳ bợn nhơ nào được tìm thấy nơi da thịt nàng. Ðiều này được diễn tả bằng cách nói về nàng như sau, “Nàng là ai với diện mạo toả sáng chói chan và tuyệt hảo đến như vậy.” Với xiêm y chiếu sáng muôn màu muôn vẻ. (surattavatthanivāsane): nàng là ai lại ăn mặc xiêm y rạng rỡ đến thế. (su = suṭṭhu, một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Với tứ chi nàng sáng chói tựa san hô (candanaruciragatte): với tứ chi của nàng tỏa sáng như thiên đà phấn có nghĩa là với các thành tố cấu tạo thành thân xác nàng lấp lánh sáng chói và đáng yêu giống như một lớp phấn thiên đà[42] rất dầy, hay nói cách khác tứ chi của nàng tỏa sáng[43] do một lớp phấn chiên đà[44] bóng láng. Trưởng Lão đã hỏi thiên nữ như vậy, nàng đã giải thích với những đoạn kệ như sau: Ðang lúc Tôn Giả du hành khất thực[45], bạch thầy, con đã cúng dường một vòng hoa và một tô đầy mật mía; chính nhờ phước đức đó con đã được hưởng phước quả này nơi cõi thiên giới. Và thưa ngài, con phải ân hận mãi trong lòng vì đã phạm phải một lỗi lầm và gây ra sai phạm; [178] con đã không lắng nghe[46] Phật Pháp do chính pháp vương diễn giải. Chính vì thế con trình bày cùng ngài, ôi phước phần ngài; bất kỳ ai có thể tỏ lòng thương xót đến con, xin ngài nên tạo dịp để có thể chiếm lại[47] được Phật Pháp do chính Pháp Vương[48] khéo giảng trên cõi đời này. Và kẻ nào đặt niềm tin nơi Tam Bảo,Phật, Pháp và[49] Tăng đều hơn hẳn[50] con về sắc diện về thọ mệnh danh vọng vang dội và ánh hào quang. Qua[51] lòng nhiệt tình của họ chư Thiên này đều hơn hẳn con về nhiều mặt hiển vinh thần lực đại huy hoàng. Về điểm này: 4. Một vòng hoa (mālaṃ): một vòng hoa nhài. Mật mía (phāṇitaṃ): mật mía chính là nước cốt ép từ mía đường. 5. Phải ân hận (anulāpo): có lương tâm bất ổn. Nàng cho biết lý do nàng bị lương tâm bất ổn như sau, “Thưa ngài, con đã phạm phải sai lầm và đã làm điều không tốt[52].” Và rồi nàng chỉ rõ cho thấy hình thức nào điều sai phạm nàng đã phạm phải: Con đã không lắng nghe Phật Pháp (sahaṃ dhammaṃ nāssosiṃ): vào thời điểm đó con đã không lắng nghe ngài uớc ao diễn giải Phật Pháp cho con, thứ Phật pháp nào vậy? đó là loại chánh pháp do pháp vương diễn giải (sudesitaṃ dhammarājena), có nghĩa là chính Ðức Phật toàn hảo đã công bố[53] loại Phật Pháp và do ngay từ đầu Phật Pháp đã tỏ ra quá tốt đẹp. v.v... [54]và loại Phật Pháp đó chắc chắn dẫn ta thoát khỏi (vòng luân hồi[55]). 6. Chính vì thế : taṃ = tuvaṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) do thực chất là chính Pháp Vương đã diễn giải kỹ càng Phật Pháp đó và Đức Phật đã trở thành nguyên nhân ân hận cho những kẻ nào giống như con vì đã không lắng nghe Phật Pháp đó. ối với ngài : taṃ=tasmā[56] (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) có nghĩa là đối với ngài (tuyhaṃ). Rất có thể: y’assa = yo assa anukampitabo (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Bất kỳ ai: koci = yo koci (giải thích về cú pháp)[57]. Phật Pháp (dhammesu): là loại Phật Pháp như giới đức v.v... [58] Một cách giải thích khác là dhamme hi, có nghĩa là Phật Pháp chính là Giáo Pháp của Ðức Phật ; hay nói cách khác đây là cách biến đổi số[59], hi ở đây chỉ là một tiểu từ. ối với ngài (taṃ): là người thường tỏ rõ lòng đại bi. được diễn giải cẩn thận: sudesitaṃ = suṭṭhu desitaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). 7. Những kẻ này đều toả sáng hơn hẳn con (te maṃ ativirocanti): những chư thiên này đều có lòng tịnh tín liên quan đến Tam Bảo lại tỏa sáng chói chang vượt trội hơn con rất nhiều. Nhờ vào lòng nhiệt tình hăng hái (patāpena): nhờ việc tỏa sáng và oai lực của họ. Họ (taññe) : những kẻ đó. Hơn hẳn con (mayā): đây là công cụ cách hiểu theo nghĩa tặng cách. [181] nàng vạch ra cho thấy chư thiên vượt trội nàng hơn hẳn nơi sắc diện và có thần lực vĩ đại hơn rất nhiều là những kẻ hoàn toàn có tâm tịnh tín đối với Tam Bảo. Phần còn lại giống những gì ta đã diễn giải ở trên. Phần diễn giải Thiên Cung Sáng Chói đến đây là kết thúc.
4. 3 Chú Giải CHUYỆN KỂ
THIÊN CUNG CON VOI “Trang điểm với hàng đống châu báu vàng ròng toả sáng chói chang”. Ðây là Thiên Cung Con Voi. Thiên Cung[60] này khởi xuất như thế nào? Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong thành Benares, tại công viên Con Nai thuộc vương quốc Isipatana. Vào thời điểm đó có một tín nữ, là cư dân sống trong thành Benares có niềm tin và tâm tịnh tín và được phú bẩm giới đức và thiện hạnh, nàng đã đan một cặp áo tặng cho Ðức Thế Tôn, nàng đã giặt cặp áo đó rất cẩn thận và rồi nàng đã đến gặp ngài và để cặp y cà sa đó dưới chân Đức Phật nói rằng, “Thưa Ngài Thiện thệ, xin ngài giàu lòng từ bi nhận cặp y cà sa này để con được hạnh phúc và sung sướng lâu dài.” Ðức Thế Tôn đã nhận cặp y cà sa đó và nhận thấy[61] nàng có đầy đủ đức tính cần thiết, ngài bèn thuyết pháp cho nàng. Vào lúc kết thúc nàng[62] đã chứng đắc quả Nhập Lưu; nàng cung kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn, đi quanh ngài một vòng theo đúng nghi thức và trở về nhà. Không lâu sau đó nàng đã qua đời và được tái sanh nơi cõi Tam Thập Tam. Dạ Xoa Thiên chủ đã đem lòng yêu mến nàng hết mực và đặt tên hiệu cho nàng là Yasuttarā. Do vẻ oai lực nơi phước đức của nàng đã xuất hiện một con voi thật tuyệt trần che phủ trên lưng là những lưới vàng và còn xuất hiện một sảnh đường làm bằng châu báu vàng ròng có một sàng toạ tuyệt đẹp bằng đủ thứ châu báu ở giữa; trong khi đó ở trên cặp ngà lại xuất hiện hai đầm sen tuyệt đẹp có bông sen nở rộ và những bông súng tỏa sáng chói chang. Ngay tại nơi đó, trên các đài sen xuất hiện những tiên nữ cầm trong tay đủ năm loại nhạc cụ đang nhảy múa ca hát tưng bừng. Sau khi đã lưu lại trong thành Benares một thời gian theo như ngài mong muốn, vị Ðạo Sư đã lên đường[63] thực hiện một chuyến du hành hướng về thành Sāvatthi và trong một thời gian nhất định ngài đã đến được thành phố đó. Khi tới nơi ngài đã lưu lại trong thành ngay tại tịnh xá[64] của ông Anāthapiṇḍika trong khu rừng Kỳ Viên. Thế rồi chư thiên đó đang khi nhận ra mình được hưởng thù thắng thiên giới và suy gẫm về nguyên nhân cảnh cực lạc mình đã được hưởng, liền nhận ra nguyên nhân chính là việc cúng dường cặp y cà sa cho vị Ðạo Sư. Tràn ngập tâm hoan hỷ và với tâm tịnh tín và kính lễ với Ðức Thế Tôn [182] Ngài đã tới, ước mong được đảnh lễ ngài trên không trung khi màn đêm buông xuống, rồi nàng xuống khỏi lưng voi đảnh lễ Ðức Phật và đứng sang một bên thực hiện đúng nghi thức đảnh lễ hai tay vươn ra chắp lại và đảnh lễ ngài phủ phục xuống đất. Ðược phép của Ðức Thế Tôn vị trưởng lão Vañgisa đã hỏi nàng với những đoạn kệ sau đây: Khi cưỡi trên thiên tượng tuyệt vời, toàn thân che phủ lưới châu báu đá quí vàng ròng[65] với hàng đống châu báu và vàng ròng chói sáng. Ðược trang điểm cân đai lộng lẫy nàng đã xuất hiện trên không trung[66] xuyên qua bầu trời. Phía trên[67] mỗi chiếc ngà voi xuất hiện những đầm sen nước trong tinh khiết[68] nào sen bông súng nở rộ; và[69] trên những bông sen đó xuất hiện những đoàn nhạc công trổi lên những khúc nhạc mê mẩn lòng người. Hỡi nàng thiên nữ đầy oai phong, nàng đã đắc thọ thần thông chư thiên; phước đức nào nàng đã thực hiện khi còn sống trên cõi chúng sanh? Do đâu nàng có được oai lực tỏa sáng và sắc diện nàng chiếu sáng khắp mười phương như vậy?” Về điểm này: 1 Ðược trang điểm (alaṅkatā): làm đẹp với đủ mọi đồ trang điểm. Với hàng đống ngọc ngà châu báu và vàng ròng chói sáng (maṇikañcitaṃ) : với hàng đống châu báu ngọc ngà và vàng ròng chiếu sáng[70] khắp mười phương. Trải trên lưng là bức màn làm bằng vàng (suvaṇṇajālacitaṃ): lưng voi phủ bằng một lớp vàng ròng[71]. Nàng thiên nữ vĩ đại (mahantaṃ): giàu có dồi dào. Cân đai kiều diễm (sukappitaṃ): được buộc với những sợi cân đai để dễ dàng tiến tới. Nơi không trung (vehāyasaṃ): trên lưng voi đang di chuyển trên không trung. Qua không trung (antalikkhe): xuyên qua không gian. Alaṅkatamaṇikañcanacitaṃ (ược trang điểm với hàng đống châu báu và vàng ròng sáng loáng) là cách giải thích ở đây[72]. Ðây là ý nghĩa ngắn gọn: sau khi đã cưỡi trên lưng voi tuyệt hảo, con voi vĩ đại, mọi sự đã sẳn sàng[73] cùng với đồ trang điểm quí giá gắn trên mình thiên tượng, một cỗ voi vĩ đại, được gắn cân đai,[74] với một tấm trải bằng vàng ròng sáng nhoáng. Với những đồ trang sức cho thiên tượng thuộc loại hảo hạng, những đồ trang điểm phía trước cho voi v.v... một đống châu báu và vàng ròng toả sảng, được gắn làm đồ trang sức[75], gồm châu báu đá quí toả sáng11 chói chang và vàng ròng sáng chói, tóm lại thiên tượng được trang điểm[76] với đủ loại trang sức - hay nói cách khác – nhà ngươi, hỡi thiên nữ nàng được trang điểm[77] nàng [183] thượng trên lưng voi và tiến tới nơi đây, trước mặt chúng ta, xuyên qua không trung. 2. Xuất hiện trên cặp ngà (nāgassa dantesu duvesu nimmitā) trên thiên tượng này[78], trên thiên tượng trông tự như Eravana[79], chúa các thiên tượng, cặp ngà được thiết kế thật mỹ miều do người thợ điêu luyện chính là thiện hạnh thể hiện dưới hai đầm sen. Những đoàn nhạc công (turiyaganā): một tập hợp gồm năm thứ nhạc cụ. được chia thành (pabhijjare): phải trải qua phân chia thành (pabedhaṃ gacchanti) thông qua mười hai hạng mục nhịp độ[80] khác nhau. Và một số người giải thích là pavajjare (phát ra âm thanh) có nghĩa là họ đang biểu diễn[81] theo những nhịp điệu đó. Trưởng Lão đã đặt câu hỏi như vậy, Thiên nữ đó liền trả lời với những đoạn kệ sau đây: “Sau khi đã tiến lại thành Benares con đã cúng dường Ðức Phật một cặp y cà sa; sau khi đã đảnh lễ[82] phủ phục dưới chân ngài con đã ngồi xuống đất - và hoan hỷ[83] trong lòng con đã thực hiện nghi thức đan tay chấp lại và phủ phục đảnh lễ ngài tới tận mặt đất. Và Ðức Phật, có làn da óng ánh tựa vàng ròng đã thuyết pháp[84] cho con về vô thường và khổ đế khởi sanh, về đế vô vi và triệt phá khổ đế là điều trường cửu; ngài đã diễn giải[85] chánh đạo là điều con đã nhận ra[86]. Với sanh mệnh ngắn ngủi còn lại con đã phải tịch diệt, khi còn rời khỏi cõi chúng sanh lại được tái sanh[87] uy danh lừng lẫy nơi thiên giới Tam Thập Tam. Con trở thành phu nhân[88] dạ xoa thiên chủ, mang danh Yasuttara. Nổi danh khắp mười phương thiên hạ. Về điểm này: 4. Trên mặt đất (chamā): trên mặt đất. Vì đây là danh cách hiểu theo nghĩa vị trí cách. Lòng con hoan hỷ (vittā): con hài lòng thỏa mãn. 5. Dựa trên (yato): dựa trên Giáo pháp của đức Phật vị Ðạo Sư chính chư vị Đức Phật đã khám phá ra[89] trên mặt đất. Con đã nhận ra (vijānisaṃ): con đã thấu triệt được Tứ Diệu Ðế. 6. Với sanh mệnh vô cùng ngắn ngủi (appayukī): do chỉ một định mệnh ngắn ngủi còn sót lại do nghiệp đã khiến cho[90] sanh mệnh của con trở nên cạn kiệt như tràn ngập với mục tiêu[91] rằng, “Sau khi đã thực hiện phước đức vĩ đại không nhất thiết nhà ngươi phải lưu lại nơi cõi trần gian chủ yếu đầy sầu khổ gian truân.”Hoàng hậu nhiếp chánh. (aññatarā pajāpatī): [184] một trong số mười sáu ngàn hoàng hậu nhiếp chính. Danh tiếng lẫy lừng (disasu vissutā): được biết đến và nổi tiếng khắp mười phương nơi hai cõi thiên giới. Phần còn lại giống như những gì đã diễn giải ở trên. Phần Chú giải Thiên Cung Thiên Tượng kết thúc tại đây.
4. 4 Chú Giải CHUYỆN KỂ
THIÊN CUNG ALOMĀ . “Nàng Thiên nữ với sắc đẹp siêu phàm”. Ðây chính là chuyện kể về Thiên Cung Alomā. Thiên Cung này xuất hiện như thế nào? Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong Thành Bernares, trong công viên Con Nai tại vương quốc Isipatana, ngài đã thức dậy sớm mặc y phục chỉnh tề và lấy bát khất thực và y cà sa rồi vào thành Benares khất thực. Có một phụ nữ kia[92] đang phải sống rất cực khổ tên là Alomā, đã nhìn thấy Ðức Phật; chẳng tìm thấy gì thích hợp để bố thí cho ngài, với tâm tịnh tín, nàng đã dâng cho ngài một chiếc bánh Kummāsa bằng bột gạo khô cứng, không có muối và lại bể vụn nghĩ rằng, “Cho dù một chiếc bánh như vậy ta dâng cho Ðức Phật cũng sẽ đem lại kết quả to lớn cho ta.” Đức Phật chấp nhận của thí đó. Nàng qua đời sau đó không lâu và được tái sanh nơi cõi Tam Thập Tam. Ngài Trưởng Lão Mahāmoggallāna đã hỏi nàng: Nàng Thiên nữ đang đứng đó với sắc diện siêu phàm toàn thân nàng toả sáng khắp mười phương giống như Dược Vương Tinh, Do phước đức nào khiến cho sắc diện nàng đẹp đến như vậy? Do đâu nàng có được diện mạo rạng rỡ đến như vậy? Do nàng đã thực hiện điều gì ở trên cõi đời này và ở đó đã xuất hiện cho nàng bất kỳ điều vui thú nàng hằng mến chuộng bấy lâu nay? Ta hỏi nhà ngươi, hỡi thiên nữ đầy uy lực cao cả, nhà ngươi đã thực hiện phước đức nào khi còn sống trên cõi chúng sanh thế? Do nhà ngươi đã thực hiện điều gì khiến cho uy lực của nhà ngươi chiếu sáng và diện mạo của nhà ngươi toả sáng khắp mười phương? Nàng thiên nữ ấy, lòng tràn đầy hoan hỷ do chính trưởng lão Moggallāna đặt câu hỏi, đã giải thích câu hỏi do nàng đã thực hiện phước đức nào đã đem lại kết quả đến như vậy. Bấy giờ trong thành Benares với tâm tịnh tín, ta[93] đã tự tay dâng cúng dường cho Đức Phật, là vị sánh tựa mặt trời, một chiếc bánh Kummasa. Hãy nhìn xem quả từ miếng bánh cứng khô[94] không được nêm chút muối[95] nào cả ! Ai chẳng làm nhiều phước đức khi nhìn thấy Aloma hạnh phúc biết nhường nào? Do phước đức đó ta có diện mạo sáng ngời. Do phước đức đó mọi thứ đã xuất hiện cho ta. Ngay tại nơi đây và tại cõi đó những hoan lạc ta hằng mong muốn. Ta xin tuyên bố cho chư vị Tỳ khưu đầy uy lực vô song, bất kỳ phước thiện nào ta đã thực hiện khi còn là chúng sanh,[96] chính do phước đức đó ta có oai lực chiếu sáng rực rỡ và dung nhan ta chiếu sáng khắp mười phương. Về điểm này: 6. Sau khi đã tận mắt chứng kiến nàng Alomā hạnh phúc (Alomaṃ sukhitaṃ disvā): [185] Sau khi chỉ chứng kiến nàng Alomā vô cùng hạnh phúc sung sướng với niềm hạnh phúc thiên giới sau khi đã dâng cúng dường chỉ một[97] miếng bánh kummāsa khô cứng. Ai chẳng thực hiện phước đức (ko puññaṃ ma karissati): thật vậy ai lại chẳng muốn được niềm hạnh phúc và sung sướng riêng cho chính mình, lại không thực hiện phước đức để được như vậy. Phần còn lại trong chuyện kể giống như những gì ta đã diễn giải ở trên. Phần Chú giải chuyện kể Thiên Cung Alomā đến đây là kết thúc. 4.5 Chú Giải THIÊN CUNG CỦA NGƯỜI CÚNG CHÁO GẠO [Kañjikadāyikāvimānavaṇṇanā[98]] “Nàng thiên nữ sắc đẹp siêu phàm”. Ðây chính là thiên cung của người cúng dường cháo gạo. Thiên Cung này xuất xứ ra sao? Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong thành Andhakavinda[99]. Thời bấy giờ có một cơn bệnh trúng phong[100] khiến cho Đức Phật đau bụng khôn tả xiết. Đức Thế Tôn đã hỏi Trưởng Lão nanda nói rằng, “Hỡi Ānanda, khi A Nan Ða đi khất thực xin đem về cho thầy một chút cháo hoa nhằm chữa bệnh cho thầy.” Vị trưởng lão Ānanda tỏ dấu đồng ý[101] nói rằng, “Vâng, Bạch thầy” ngài liền cầm bát khất thực, vị Ðại Vương dâng cho ngài[102] ra đi và đến đứng ngay trước cửa nhà một thầy lang đang chữa bệnh là người lúc nào cũng hỗ trợ cho vị trưởng lão. Khi nàng nhìn thấy trưởng lão xuất hiện trước cửa thì vợ thầy lang đi ra ngoài để gặp ngài, đảnh lễ ngài, cầm lấy bát khất thực và hỏi trưởng lão. “ Ngài[103] cần dùng loại thuốc chữa bệnh gì vậy, bạch thầy?” Người ta kể lại rằng vì được phú cho trí thông minh khác thường nàng phát hiện ra trưởng lão đến đây, không vì mục đích khất thực, nhưng khi có công việc gì đó liên quan đến thuốc men chăng. Khi ngài nói, “Cháo hoa”, nàng suy nghĩ “món thuốc này thật không xứng[104] để chữa trị cho Ðức Thế Tôn vì đây chẳng phải là bát khất thực của Ðức Thế Tôn sao? Nào nào, xin ngài vào đấy để con sửa soạn một món thuốc cháo hoa thích hợp cho vị cứu tinh nhân loại” thế rồi, lòng tràn đầy hân hoan và đầy lòng kính trọng, nàng đã sửa soạn một tô cháo gạo gồm có nước táo[105] và đổ vào đầy bát; trong khi đó để ngài dùng chung với món cháo nàng sửa soạn thêm một vài món khác nữa. Nhờ dùng món cháo này mà bệnh của Đức Phật thuyên giảm đi rõ rệt rồi khỏi hẳn. Một thời gian sau nàng qua đời và được tái sanh nơi cõi Tam Thập Tam. Ở đó nàng được hưởng hạnh phúc sung sướng, được hưởng thù thắng thiên giới tuyệt hảo. Lúc ấy vị trưởng lão Mahāmoggallāna đang thực hiện chuyến du hành thiên giới đã nhìn thấy nàng đang cùng đoàn tuỳ tùng các tiên nữ đang dạo quanh khắp thiên giới và ngài liền hỏi nàng về phước đức nàng đã thực hiện với những đoạn kệ sau đây[106]: [186] Hỡi thiên nữ, nhà ngươi đang đứng đó với sắc diện siêu phàm, tỏa sáng khắp mười phương trông tựa Dược Vương Tinh, Do đâu nàng có được diện mạo rạng rỡ đến như vậy? Do nàng đã thực hiện điều gì ở trên cõi đời này và ở đó đã xuất hiện cho nàng bất kỳ điều vui thú mà lòng nàng hằng mến chuộng bấy lâu nay? Ta hỏi ngươi, hỡi thiên nữ đầy uy lực cao cả, nhà ngươi đã thực hiện phước đức nào khi còn sống trên cõi chúng giữa sanh thế? Do nhà ngươi đã thực hiện điều gì khiến cho uy lực của nhà ngươi chiếu sáng và diện mạo của nhà ngươi toả sáng khắp mười phương? Nàng thiên nữ ấy, lòng tràn đầy hoan hỷ do chính trưởng lão Moggallāna đặt câu hỏi, đã giải thích khi được hỏi do nàng đã thực hiện phước đức nào đã đem lại kết quả đến như vậy. Trong thành Andhakavindha[107] con đã dâng cúng dường cho Đức Phật, là người trông tựa mặt trời, một bát cháo gạo được nấu với nước cốt táo và xông thơm với thứ dầu[108] thơm hảo hạng Rồi còn trộn sẳn một chút tiêu chữa bệnh[109], chút tỏi và lāmañjaka[110] với tâm thanh thản và tâm trọng kính con đã dâng cúng dường cho vị công chính. Nàng hành động[111] tựa chánh hậu chuyển luân vương – người phụ nữ[112]. Ðầy khả ái toàn thân đẹp vẹn toàn duyên dáng dưới con mắt lang quân ngắm nghía cũng không giá trị bằng một phần mười sáu của những ai[113] dâng cúng dường món cháo gạo cho ngài. Cả trăm con ngựa dẫu cả trăm cân vàng cho dù hàng trăm xe kéo oai phong, kể cả trăm ngàn tỳ nữ trang điểm với ngọc ngà quí báu[114] cũng không sánh bằng[115] một phần mười sau những kẻ dâng cúng dường món cháo gạo cho ngài. Kể cả trăm vương tượng trên núi Hymalaya với cặp ngà to bằng cặp càng xe kéo. vương tượng đó oai hùng cân đai nai nịt quả oai hùng rồi cân đai[116] vàng ngọc đeo khắp mình cũng không sánh bằng một phần mười sáu những kẻ dâng cúng dường bát cháo gạo. Cho dù người nắm giữ mọi quyền năng trên khắp tứ đại châu lục, ngay cả như thế[117] cũng không thể sánh kịp một phần mười sau lần những kẻ dâng cúng dường tô cháo gạo.” Về điểm này: 5-6. Con đã dâng cúng dường với cháo gạo nấu với nước cốt táo xông thơm với dầu (adaāsiṃ kolasampaākaṃ[118] kañjikaṃ teladhūpitaṃ): con đã nấu cháo gạo trộn với phần hương thơm chất làm se trộn chung với nước cốt táo[119] pha với bốn phần nước[120] gạn lại chỉ một phần tư, nêm nếm[121] với đồ gia vị ba phần gia vị[122], ajamoja[123], asafoetida. Cây thì là Ai Cập. Và một chút tỏi v.v... rồi xông khói cho có hương thơm lamanja[124] thế rồi với lòng thanh thản hoan hỷ con đã đổ đầy bình bát của Ðức Thế Tôn - con đã dâng cúng món này đặc biệt dành riêng cho Đức Phật. Nàng chỉ ra cho thấy nàng trao vào tay vị trưởng lão Vì lý do đó nàng nói rằng: [187] ‘Rồi trộn lẫn một chút tiêu thảo dược một chút tỏi và với lamanjaka - - con đã dâng cúng dường cho vị công chính với tâm thanh thản và và lòng kính trọng vô cùng. Phần còn lại giống hệt như những gì đã diễn giải ở trên. Thế rồi khi thiên nữ đã làm rõ phước đức thiện hạnh nàng đã tích lũy[125] được trưởng lão Mahāmoggallana liền diễn giải pháp thoại cho nàng cùng với đoàn tuỳ tùng đi theo hầu, ngài liền quay trở lại cõi chúng sanh và thông báo sự việc cho Đức Phật. Đức Thế Tôn liền coi sự việc đó như là một vấn đề nổi lên và diễn giải Phật Pháp giữa bốn tăng chúng tụ tập lại. Giáo pháp đó đã đem lại lợi ích cho chúng sanh đó[126] Phần diễn giải chuỵện kể thiên cung của nàng dâng bát cháo gạo đến đây là kết thúc.
4.6 CHÚ GIẢI THIÊN CUNG
TỊNH XÁ. “Nàng Thiên nữ có sắc đẹp siêu phàm”. Ðây là Thiên Cung Tịnh Xá. Thiên Cung này xuất phát như thế nào? Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong thành Sāvatthi, trong khu rừng Kỳ Viên. Vào thời điểm đó Visākhā, là một đại đệ tử nữ cư sĩ, đã được bạn bè và những người hầu cận thúc dục thực hiện một chuyến du ngoạn trong hoa viên hoàng gia vào một dịp có tổ chức lễ hội, sau khi nàng đã tắm gội sạch sẽ và sức dầu thơm[127] cẩn thận, nàng đã dùng một bữa ăn thịnh soạn, tự trang điểm với một số nữ trang quí giá và rồi ra khỏi nhà với đoàn hộ tống linh đình[128] vây quanh là năm trăm bạn bè[129] và kẻ hầu người hạ. Ðang trên đường hướng về hoa viên hoàng gia nàng suy nghĩ, “Cuộc tiêu khiển vui chơi như hồi ta còn là một thiếu nữ trẻ tuổi nào có ích gì cho ta? Nào, ta hãy đến tịnh xá đảnh lễ Ðức Thế Tôn cùng chư tôn giả tạo cho ta tâm tín[130] và lắng nghe Phật Pháp[131] còn hơn.” và thế là nàng đã trẩy tới tịnh xá, đứng sang một bên, cởi bộ trang điểm quí giá đó ra và giao[132] tận tay người nữ tỳ đi theo, thế rồi nàng đảnh lễ Ðức Thế Tôn và rồi ngồi sang một bên. Ðức Thế Tôn liền diễn giải Phật Pháp cho nàng. Sau khi lắng nghe Phật Pháp, nàng đảnh lễ Đức Phật, đi quanh ngài về phía bên phải và cũng đảnh lễ chư vị Tỳ khưu là những người đã khơi dậy tâm tín4 cho nàng; nàng rời khỏi thiền viện và sau khi đã đi được một quãng đường ngắn, nàng nói với nữ tỳ đi theo mà rằng, “Nào, ta muốn đeo đồ trang sức trở lại.” Trước đó nữ tỳ đã buộc những món trang sức đó thành một bó[133], cột lại với nhau và bỏ lại trong thiền viện, nàng đi quanh quẩn đây đó một lúc, đến khi ra về nữ tỳ đã quên không lấy lại. Giờ đây nữ tỳ muốn quay lại và lấy những món trang sức đó nói rằng, “Thưa bà[134], con đã bỏ quên những món trang sức đó tại thiền viện, xin bà chờ con một lát, con sẽ đến thiền viện để lấy lại cho bà ngay.” Visākhā lên tiếng nói rằng, “Thôi được, nếu nhà ngươi đã bỏ sang một bên tại thiền viện đó, và lại bỏ quên ở đó thế ta sẽ bỏ qua và dâng cúng cho thiền viện đó[135].” [188] Người phụ nữ liền quay trở lại thiền viện tiến đến gặp Ðức Thế Tôn và báo cho ngài biết ý định của nàng nói rằng, “Bạch thầy, bà chủ của con sẽ cho xây[136] một thiền viện, bạch thầy xin tỏ lòng đại bi mà đồng ý với ý định của bà chủ con.” và rồi Ðức Thế Tôn đồng ý với nàng bằng cách giữ im lặng. Nàng trao lại những món đồ trang sức trị giá lên đến chín trăm triệu (kotis) đồng tiền vàng và còn dâng cúng tiếp thêm một trăm ngàn đồng tiền vàng nữa. Và chính vị Ðại Trưởng Lão[137] Mahāmoggallāna đã giám sát công trình xây dựng mới. Nàng đã hoàn thành[138] công việc xây dựng thiền viện trong vòng chín tháng. Sau khi đã xây một toà nhà lớn làm nơi cư trú – trang bị đầy đủ tiện nghi cho một ngàn phòng[139]. Năm trăm phòng ở tầng dưới[140] và năm trăm phòng ở tầng trên[141] và như một thiên cung chư thiên; người ta kể lại rằng, ‘các phần cấu kết toà nhà như tường, cột, các rầm chính và rầm cong, mái chóp cong[142] bệ cửa ra vào, cửa sổ mắt cáo và cầu thang v.v... đã được xây dựng rất cân đối, đem lại cảm giác sảng khoái, những công trình làm bằng gỗ được chạm trổ[143] rất công phu; quả thật rất hấp dẫn, những công trình trát tường đựơc xử lý[144] rất hoàn hảo; trang hoàng với những bức tranh tường[145] tuyệt đẹp – các công trình trang trí vòng hoa và trồng cây leo v.v... cũng được thiết kế rất đẹp mắt; trong khi đó phần sàn nhà giống như một bức khảm họa[146] châu báu được hoàn tất tinh xảo. Và khi công việc xây dựng thiền viện đã hoàn tất. Khi nàng đang cho thực hiện[147] công việc khánh thành thiền viện với một chi phí tương tự với chín ngàn triệu đồng tiền vàng[148], nàng đã đi vào toà lâu đài kèm theo với khoảng năm trăm bạn bè. Nhìn thấy thù thắng[149] huy hoàng của công trình xây cất và vô cùng hài lòng với công việc, nàng nói với các bạn bè của mình mà rằng, “Các bạn phải tỏ lòng ngưỡng mộ việc công đức ta đã theo đuổi bằng cách xây dựng[150] thiền viện này. Ta mong ước được dâng cúng công đức đó cho các bạn như là một của thí vậy.” Với lòng tịnh tín và tỏ lòng ngưỡng mộ họ nói rằng, “Ôi quả là tuyệt vời! quả là tuyệt vời!”Có một tiên nữ[151] cũng dự phần vào việc đồng hưởng công đức này với một tâm địa[152] hết sức đặc biệt. Không lâu sau đó tín nữ đó đã qua đời và được tái sanh nơi cõi Tam Thập Tam. Do oai lực công đức nàng đã thực hiện, có một thiên cung to lớn đã xuất hiện cho nàng, được trang hoàng với vô số căn nhà mái cong, vườn thượng uyển và đầm sen nở rộ v.v... dài độ mười sáu do tuần, rộng và chiều cao cũng như vậy, đặc biệt là thiên cung này có khả năng di chuyển trên không[153], lan tỏa ánh hào quang xa tới hàng trăm do tuần. [189] Và ngay cả lúc nàng di chuyển đến chỗ này chỗ nọ thì thiên cung cũng di chuyển theo nàng trên không, vây quanh là một đoàn tùy tùng gồm cả ngàn tiên nữ đi theo hầu. Còn về phần Ðại Tín nữ Visākhā nhờ công đức bố thí cao độ và thù thắng đức tin, nàng đã được tái sanh nơi cõi chư thiên Nimmānarati và đạt đến[154] ngôi vị chánh hậu của Sunimmita thiên chủ. Thế rồi trưởng lão Anuruddha đang thực hiện chuyến du hành đến cõi chư thiên đã nhìn thấy Visākhā và các bạn bè tái sanh nơi cõi Tam thập Tam và hỏi nàng với những đoạn kệ sau đây: Nàng Thiên nữ đang đứng đó, với sắc diện siêu phàm, toàn thân nàng toả sáng khắp mười phương giống như Dược Vương Tinh[155], Trong khi nàng còn đang ca múa với toàn thân xoay tít với tứ chi, âm nhạc thiên cung trổ vang dội bên tai thoang thoảng lắng nghe thật êm tai. Trong khi nàng đang ca múa với toàn thân, xoay tít toàn thân với tứ chi, nhè nhẹ hương thơm thiên cung lan tỏa, làn hương dịu ngọt tạo hân hoan. Do nàng duy chuyển toàn thân uyển chuyển[156], những chiếc trâm cài bím tóc trên đầu[157] - tạo ra âm thanh nghe giống như tiếng tơ hòa nhạc ngũ huyền cầm trổi tấu du dương. Do nàng duy chuyển toàn thân, bất kể vòng hoa nào đeo trên trán, cũng ngọt ngào toả hương trầm thơm tho dịu lòng người – giống như cây hoa manjusaka tỏa hương ngào ngạt khắp mười phương. Nàng tận hưởng hương[158] ngào ngạt dịu ngát hương, nàng nhìn ngắm vẻ đẹp tao nhã siêu nhân thế [159]. Hỡi nàng thiên nữ, vừa nghe câu hỏi xin hãy kể ra thánh quả phước đức nào đã mang lại.” Và nàng đã giải thích cho trưởng lão biết như sau: “Bạch thầy, khi còn lưu lại trong thành Sāvatthi, một người bạn rất thân với con[160] đã xây dựng cho Tăng Ðoàn một thiền viện vĩ đại; khi nhìn ngắm căn nhà làm cho con vô cùng hài lòng. Ngay tại đó sẳn tâm tịnh tín[161] con đã hết lời ca ngợi ngưỡng mộ[162] nàng. Qua lời khen ngợi tinh tuyền, con đã có được thiên cung này, trông rất vĩ đại và tuyệt vời[163] mỗi bề mười sáu do tuần cao dài rộng, lại có thể di chuyển trên không[164] nhờ oai lực thần thông của con. Nơi cư trú của con gồm toàn nhà mái cong được chia thành nhiều phòng cân xứng đuợc qui hoạch từng phần. Ánh sáng[165] tưng bừng lan tỏa khắp muôn phương thiên hạ cả trăm do tuần. [190] Và ở đó có đầm sen nở rộ có cá puthulamas[166] tung tăng lội dưới nước trong veo.[167] Thanh thản mặt đất trải lớp cát vàng óng ánh.[168] Che phủ mặt hồ một lớp sen mướt mắt, lại toả lan bông sen trắng tinh, làn gió nhẹ thổi khiến lòng ta say đắm.[169]Lan tỏa[170] hương thơm trước làn gió[171] hu hu. Giữa trú xứ đó là những tán cây tươi mát; gồm cả cây rừng lẫn cây hồng đào, cây thốt nốt và cây dừa cao vút. Vang vẳng đâu đây tiếng nhạc ngũ huyền cầm trổi nhạc vang vọng lại tiếng tiên nữ cả ngàn nhân – khiến cho nam giới ngở ngẩn chiêm ngưỡng cho dù chỉ nhìn thấy được trong mơ. Thiên Cung trông thật kiều diễm, toả ánh hào quang khắp[172] đến cả mười phương – toàn bộ đã xuất hiện nhờ con làm phứơc nghiệp[173] để được vậy chỉ cần thực hiện phước đức[174] là đủ thôi.” Về điểm này: 8. Bạch thầy, đang khi con lưu lại trong thành Sāvatthi, cùng với bạn bè con đã xây một thiền viện vĩ đại dành cho Tăng đoàn (Sāvatthiyaṃ mayhaṃ sakhī bhadante saṃghassa kaāresi mahāvihāraṃ): gần thành Sāvatthi, bạch thầy thành Anuruddha ở về hướng đông[175], có một người là bạn, một người làm bạn với con, của con, đó là đại tín nữ Visākhā, nàng đã cho xây một thiền viện bằng cách bỏ ra chín kotis đồng tiền vàng, đặc biệt dành cho Tăng Ðoàn chư vị Tỳ khưu khắp tứ phương[176], cả hiện tại và trong tương lai[177] để xây một thiền viện rất lớn có tên là Pubbārāma[178]. Tại đó sẳn tâm tịnh tín con đã tỏ lòng ngưỡng mộ (tattha ppasannā aham ānumodiṃ): khi nàng đã dâng cúng của thí đó, nàng đã giao cho Tăng Ðoàn vào lúc kết thúc công trình xây cất thiền viện đó. Sẳn tâm tịnh tín con suy nghĩ rằng, “Ôi, quả thật lòng đại bi nào đã tỏ ra vào dịp này[179]!” Tràn đầy tịnh tín với Tam Bảo và thánh quả các phước đức đó, con đã tỏ lòng ngưỡng mộ khen ngợi. Ðể tỏ rõ bản chất huy hoàng tấm lòng biết ơn của nàng đã khiến cho con rất hài lòng.” Nàng nói rằng,“Khi chiêm ngưỡng trú xứ đó ta vô cùng hài lòng” - Khi chiêm ngưỡng trú xứ có cả ngàn phòng, vô cùng tuyệt vời, giống như ngôi nhà trong thiên cung chư thiên. Toà lâu đài vĩ đại đó làm ta vô cùng hài lòng và lòng quảng đại bố thí tài sản tầm cỡ như vậy làm hài lòng Tăng Ðoàn có Ðức Phật đứng đầu[180] con đã tỏ lòng vô cùng cảm kích – là điều nên phân tích ở đây. 9. Do cùng một cách khen ngợi tuỵêt diệu của con (tāy ’eva me suddh’ anumodanāya): do cùng một lòng ngưỡng mộ rất tinh tuyền của con[181], tinh tuyền, toàn bộ. Do không thiếu bất kỳ đại bi nào liên quan đến những dâng cúng đã đề cập ở trên (về phía con). Con đã chiếm được tại đó một thiên cung tuyệt hảo và rất đẹp vừa chiêm ngưỡng.(laddhaṃ vimaāna’ abbhutadassaneyyaṃ): [191] từ đó con đã có được, đã đạt được một thiên cung vô cùng đẹp đẽ (abbhutaṃ) do thiên cung này hoàn toàn kiều diễm để chiêm ngưỡng, do thiên cung hoàn toàn uy nghi và[182] do thiên cung có hình dáng vô cùng thú vị. Sau khi đã tỏ rõ cho thấy vẻ kiều diễm kiêu sang của thiên cung đó nàng nói rằng, “Toàn bộ thiên cung đo được mười sáu do tuần” v.v... cũng được nhắc tới để diễn tả đặc tính vĩ đại về kích cỡ của thiên cung và tính vĩ đại nơi chân giá trị[183] của thiên cung và cả đặc tính vĩ đại do tạo được những niềm vui sảng khoái cho người cư trú trong đó. Ở đây qua thần thông to lớn của ta (iddhiyā mama): do uy lực thần thông của ta xuất phát từ phước đức[184] ta đã thực hiện. 11. Những chiếc đầm sen: pokkarañño = pokkharaṇiyo (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Từng đàn cá puthulomas tung tăng bơi lội (puthulomanisevitvā): những con cá thiên giới[185] thường xuyên lui tới. 12. Che phủ khắp với đủ loại hoa sen kiều diễm (nānāpadumasañchannā): ủ loại sen đỏ padumas và[186] sen đỏ kamalas nở rộ có tới hàng trăm hàng ngàn cánh hoa khoe sắc đủ loại. Hoa súng trắng ngần phủ khắp mặt hồ (puṇḍarikasamotatā): ủ loại cây có loại hoang dã phủ (avatatā) đầy (samantato) mặt hồ nào là bông súng trắng kamalas; làm mê mẩn[187], thoảng đưa hương vị ngọt ngào – đây là cách chúng ta cần phân tích. 14. Ngay cả những ai (so pi): ngay cả kẻ nào[188] nhìn thấy trong mơ. Hài lòng (vitto): thoả mãn cõi lòng. 15. Tỏa sáng khắp nơi (sbbato pabhaṃ): chiếu sáng khắp mọi nơi. Những phước đức của con (kamme hi): do những phước đức con đã thực hiện; hi (không được dịch) chỉ là một tiểu từ; hay nói cách khác do quá nhiều ý định dồi dào nổi lên tiếp theo nhau. Chính do kammehi (nhờ những phước đức của ta). điều này ćũng đủ (alaṃ): đây là điều thích hợp để thực hiện: kātave = katuṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Thế rồi trưởng lão muốn nghe nàng kể lại vị trí nơi Visākhā đã lui tới khi tái sanh, ngài thốt lên đoạn kệ như sau: Rõ ràng nhờ những lời tịch lạc hân hoan nàng đã chiếm được thiên cung vô cùng tuyệt hảo đó, còn người phụ nữ kia đã dâng cúng xin hãy cho ta biết thân phận của nàng – nàng đã khởi sanh từ đâu thế?” Về điểm này: Và người phụ nữ kia đã dâng cùng vật thí. (yā c’ eva sā dānaṃ adāsi nārī) ngài ngỏ lời nói tới tính nữ vĩ đại Visākhā nói rằng, “Và người phụ nữ, chính người đã dâng cúng vật thí đó nhờ lời khen ngợi tinh tuyền con thực hiện, con đã nhận được thiên cung thù thắng đến như vậy” Vì muốn chính thiên nữ đó mở miệng nói về thù thắng của mình, trưởng lão nói: “Xin hãy khẳng định thân phận nhà ngươi – [192] nàng đã từ nơi nào khởi sanh đến đây?” (tassa gatiṃ): là thân phận một thiên nữ, nàng đã được tái sanh do chính phước đức mình đã thực hiện. Thế rồi, đang lúc làm rõ những gì trưởng lão đã hỏi, thiên nữ nói rằng: “Bạch thầy, nàng kia chính là bạn hiền của con34 đã xây dựng cho Tăng Ðoàn một thiền viện rất lớn; nàng đã am hiểu Phật Pháp và dâng cúng dường- nàng đã khởi sanh nơi cõi chư thiên Nimmānarati. Nàng chính là chánh hậu Sunimmita; phước quả nghiệp nàng đã làm thật không thể tưởng tượng nổi. Ðiều ngài hỏi “nàng khởi sanh từ đâu tới[189]?”Bạch tôn giả, con đã giải thích[190] thật rõ ràng.” Về điểm này: 17. Chính nàng đã am hiểu Phật Pháp (viññātadhammā): nàng đã am hiểu Phật Pháp cũng là Giáo Pháp của Ðức Phật, có nghĩa là nàng đã thấu triệt Phật Pháp, cũng chính là Tứ Diệu Ðế. 18. Sunimmita là nàng (Sunimmitassa): thuộc thiên vương Sunimmita. Phước quả nghiệp của nàng tốt đẹp không thể tưởng tượng nổi (acintiyo kammavipāka tassā) đây là cách biểu thị có cách đọc lướt tiếp đầu ngữ[191], có nghĩa là phước quả nghiệp của nàng không thể tưởng tượng nổi, không có gì sánh kịp, đối với người bạn của ta đã tái sanh nơi chỗ Thiên Nữ Nimmānarati. Vô song (anaññathā): không thể khác được, phù hợp với bản chất thực sự. Nhưng bằng cách nào người đó biết được thù thắng của nàng? Thiên nữ Visākhā đã xuất hiện như vậy trước mặt nàng cũng như Subhaddā Bhaddā[192] cũng đã làm như vậy. Thế rồi thiên nữ cũng khuyến khích trưởng lão khiến cho những người khác cũng thực hiện bố thí[193] như vậy, nàng đã diễn giải Phật Pháp với đoạn kệ sau đây: Bởi vậy ngài nên khuyên nhủ thế nhân cũng thực hiện việc bố thí như thế nói rằng, “Hãy hoan hỷ bố thí cho Tăng Ðoàn và với tâm tịnh tín hãy lắng nghe Phật Pháp – tái sanh làm người quả là điều khó khăn mới có được. Bất kỳ chánh đạo nào vị Phạm Thiên[194] đã chỉ cho ta, tiếng ngài giảng dạy lời giảng dạy chánh đạo[195] phạm thiên vương, da nàng tựa vàng ròng toả sáng. – [193] Hãy hoan hỷ cúng dường Tăng Ðoàn thánh là nơi của thí nàng sẽ đem lại phước quả lớn khôn lường. Tám người được bậc trí tán dương làm bốn cặp xứng danh cúng dường; các bậc đệ tử ngài thiện thệ xứng nhận của thí- những gì đem cúng cho chư vị này sẽ đem lại phước quả vô song; Bốn vị đi trên đạo thực hành cả bốn vị được trú quả an lành - đó chính là Tăng Ðoàn thánh gồm toàn bậc công chính lại có chánh hạnh chuyên tâm giới hạnh lẫn tuệ quán. Vì mọi chúng sanh cúng dường đều mong quả công đức. Lại dâng cúng lễ vật hào phóng[196] lên Tăng chúng sẽ đem lại phước tái sanh quả bội phần. Vì tăng chúng quả rộng lớn bao la; thật vô song[197] tựa biển cả[198] mênh mông. Quả thật các ngài là đồ đệ tuyệt hảo là vị anh hùng giữa chúng sanh; bất luận nơi nào tăng đoàn truyền dạy Pháp chư vị đều mang đến ánh quang. Những kẻ nào dâng cúng cho Tăng Ðoàn này – lễ vật cúng dường đó quả chính chân, là của thí là hiến dâng theo chánh pháp[199] lễ vật đó đem lại quả vô lường. Cúng dường lễ vật lên Tăng chúng sẽ được các Đức Phật tán thưởng phước đức vô ngần. Những kẻ nào tâm đầy hoan hỷ. Dạo quanh khắp trần gian thu thập phước thí, sau khi đã loại bỏ vết bẩn bủn xỉn cùng với mọi gốc rễ căn sanh, sẽ không còn lầm lỗi tiến thẳng tới sanh thiên.” Về điểm này: 19. Do điều này... ... .cũng nhiều điều khác nữa: tena h’aññe pi = tena hi aññe pi (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); và[200] do của bố thí này (tena): vì lý do này. hi (không được dịch) chỉ là một tiểu từ mà thôi. Sau khi nói rằng, “Bạn nên tạo cho chúng sanh thực hiện điều này”, “Nàng nên cúng dường Tăng Ðoàn” v.v... được đề cập đến để cho thấy cách thức (phải theo) trong việc tạo cho chúng sanh thực hiện điều này. Nàng nói. “Tái sanh nơi cõi chúng sanh là điều không dễ gì đạt được, thế nên ngươi phải tận dụng lấy cơ hội này.” Liên quan đến hiện trạng chúng sanh không có được tám cơ hội làm phước thiện. Trong mối tương quan này, tám[201] cơ hội tuyệt vời, cụ thể như sau: ba trạng thái hư mất[202] bốn trạng thái vô sắc giới (ārupas), chúng sanh vô tình, miền biên giới, do thiếu các khả năng và lại bám víu chặt với tà kiến, và không có Đức Phật[203] xuất hiện. 20. Bất kỳ chánh đạo nào (yaṃ maggaṃ): Bất kỳ cúng dường nào được thực hiện[204] dành cho phước điền vô song, cũng[205] |