Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

 

Chú giải CHUYỆN CHƯ THIÊN
Vimānavatthu-aṭṭhakathā

 Bản Pāli: ĀCARIYA DHAMMAPĀLA
Bản Anh dịch: PETER MASEFIELD
Bản Việt dịch: TỲ KHƯU THIỆN MINH

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


  Chuyện CHƯ THIÊN NAM GIỚI
[PURISAVIMĀNA]

V

PHẨM ÐẠI XA
[MAHĀRATHAVAGGA]

*

5.1 Chú Giải CHUYỆN KỂ THIÊN CUNG TIÊN NHÁI
[Maṇḍukadevaputtavimānavaṇṇanā]

“Chàng là ai mà đảnh lễ phủ phục dưới chân ta?” Ðây là Thiên Cung Tiên Nhái trong Phẩm Ðại Xa[1] . Thiên Cung này[2] xuất xứ ra sao?

[217] Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong thành Campā[3] trên bờ hồ[4] sen Gaggarā. Ngay lúc rạng đông khi ngài vừa xuất định đại bi và thực hiện những công việc Đức Phật[5] thường làm và đang lúc ngài quan sát tăng chúng sẳn sàng thọ Pháp hướng dẫn, Ðức Thế Tôn đã nhận ra rằng, “Hôm nay, vào buổi thuyết pháp ban chiều, sẽ xuất hiện một con nhái do chú tâm lắng nghe[6] ta nói và mải mê theo dõi, sẽ chết do có kẻ sát hại, sẽ xuất hiện nơi cõi thiên giới và rồi sẽ quay trở lại đây, đang lúc dân chúng đông đúc chăm chú lắng nghe cùng với đám đông chư thiên tham dự, và có rất nhiều người sẽ thấu triệt[7] Pháp.” Sau khi nhìn thấy sự kiện này, ngay buổi sáng sớm tinh sương đó, ngài đã lập tức mặc y, lấy bát khất thực và y cà sa và thẳng hướng thành Campa khất thực, đi kèm là tăng đoàn đông đảo chư vị Tỳ khưu. Ngài dự phóng chư vị Tỳ khưu sẽ dễ dàng kiếm đồ khất thực và vừa khi hoàn tất bữa ăn trưa ngài quay trở lại Thiền Viện, chỉ định công việc thường nhật cho từng chư vị Tỳ khưu và ai nấy đã ổn định phần việc của mình để nhập thiền, ngài liền tiến vào căn chòi tỏa hương và đã biết thánh quả hoan hỷ của mình[8]. Vào buổi tối, khi bốn tăng chúng đã tề tựu đông đủ, ngài liền rời hương phòng, tiến vào sảnh đường[9] ngay bên bờ hồ sen bằng một phép mầu phù hợp với thời điểm đó và khi đã ngồi vào vị trí tốt nhất dành riêng cho Ðức Phật, ngài bắt đầu thuyết pháp với oai lực vĩ đại, tỏa sáng rực rỡ[10] không gì sánh nổi, thốt lên[11] giọng Phạm Thiên với đủ tám chi[12] thiền giống như sư tử[13] rừng xanh rống lên tiếng gầm oai hùng trên đỉnh núi Manosilātala[14].

Bấy giờ[15] có một con nhái từ hồ sen nhảy ra và do mải mê theo dõi âm thanh đó khi nhận ra đó chính là Phật Pháp[16] liền nghĩ rằng, “Ðây chính là Pháp sao”. Rồi nhảy đến cuối đám thính giả. Thế rồi có một gã chăn bò cũng đến đó và nhìn thấy Ðạo Sư thuyết pháp và đám đông lắng nghe Phật Pháp trong thinh lặng tuyệt đối; đang chú tâm nghe Phật Pháp[17] và đứng tựa vào chiếc gậy, gã chăn bò không phát hiện ra con nhái và đã đạp[18] ngay đầu con nhái. Sẳn tâm tịnh tín do phát hiện ra Phật Pháp, con nhái chết ngay tức khắc và tái sanh trong một thiên cung bằng vàng dài tới mười hai do tuần nơi cõi Tam Thập Tam. Như tỉnh mộng từ cơn ngủ mê[19] tiên nhái thấy mình có đoàn tiên nữ vây quanh hầu hạ; Khi nghĩ [20] tới phước đức khiến mình được tái sanh nơi thiên cung đó, tiên nhái đã nhận ra việc tái sanh trước đó của mình, và nghĩ tới lý do nào khi sống trên cõi đời[21] này đã khiến chàng tiên nhái được tái sanh ở đó, [218] bằng cách nào mình chiếm được thù thắng[22] to lớn đến như vậy và mình đã thực hiện phước đức gì. Tiên Nhái chẳng nhận ra điều gì ngoài việc hiểu thấu đáo lời dạy của vị Thiện Thệ. Ngay tức khắc tiên nhái đã quay trở lại cõi trần cùng với thiên cung rực rỡ đó, bước khỏi thiên cung đó, đang lúc chúng sanh còn đang ngơ ngác chiêm ngưỡng, chàng tiên nhái đã tiến lại gặp Ðức Thế Tôn với đoàn tùy tùng đông đảo và oai lực thiên giới vĩ đại, chàng đã đảnh lễ Ðức Thế Tôn, phủ lạy tận chân Ðức Thiện Thệ và rồi chấp tay kính lễ ngài. Thế rồi vị Thiện Thệ cũng nhận ra đó là tiên nhái, nhưng để cho tiên nhái hiển thị trước chúng sanh lần đầu tiên quả phước đức và oai lực của vị Đức Phật, ngài liền hỏi với đoạn kệ sau:

“Chàng là ai lại đảnh lễ phủ phục xuống tận chân ta, còn tỏa sáng với thiên lực và danh tiếng lẫy lừng, còn tỏa sáng khắp mười phương với sắc diện[23]kiều diễm đến như thế.”

Về điểm này:

1. Ngươi là ai (ko): ngươi là ai lại xuất hiện giữa chư thiên, long xà, dạ xoa hay chúng sanh v.v... , có nghĩa là thực chất ngươi là ai vậy[24]. (Chân) của ta : me = mama (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Chân (của ta) (pādāni): dưới chân ta. Với sức mạnh thần thông (iddhiyā): với sức mạnh thần thông thiên giới như vậy, với danh tiếng lừng lẫy (yasasā): có đoàn tùy tùng đông đảo đến như vậy theo hầu. Tỏa sáng (jalaṃ): tỏa sáng khắp nơi. Vượt trội (abhīkhantena): vô cùng (ativiya) khả ái (kantena[25]), áng ước ao, kiều diễm. Với vẻ đẹp (vaṇṇena): với sắc diện làn da, có nghĩa là với sắc diện thể chất rực rỡ.

Thế rồi thiên tử ngâm[26] đoạn kể cho biết tiền thân của mình v.v... với những đoạn kệ như sau:

Nơi tiền kiếp con là một nhái bén sống dưới nước lấy nước làm trú xứ; đang lúc lắng nghe ngài thuyết giải Phật Pháp một tên chăn bò đã dẫm đạp con cho đến chết[27].

Trong chốc lát ai muốn được tâm[28] tịnh tín, hãy nhìn ngắm oai lực thần thông và danh tiếng của con và nhìn ngắm oai lực dung nhan và ánh hào quang chính con tỏa sáng.

Và kẻ nào lắng nghe Phật Pháp trong một thời gian lâu dài, hỡi Ðức Phật Cồ Ðàm, họ sẽ đã biết tâm vững vàng, không lay chuyển và thoát khỏi mọi sầu khổ.”

Về điểm này:

2. Trong quá khứ (pure): nơi cõi tiền kiếp của con. Sống dưới nước (udake): điều này ám chỉ trú xứ của tiên nhái vào thời điểm đó. Nhờ đó[29] ‘một con nhái chuyên sống dưới nước’[30] ngọai trừ những loại ếch sống trên đất cạn như con cóc chẳng hạn[31]. Nơi cư ngụ (gocaro) nơi đồng cỏ có đông đảo đàn bò (gāvo) đến gặm cỏ (caranti)[32]: giống như đồng cỏ là nơi đàn bò đến kiếm[33] cỏ khô, vũng nước xình lầy cũng là nơi cư trú cho loài ếch nhái vì nước được ví như cánh đồng cỏ của ếch nhái (vāri = udakaṃ, là từ đồng nghĩa. Hắn coi vũng nước “làm đồng cỏ của mình”[34] [219] Người ta cho rằng đặc biệt với loài ếch nhái là giống vật lấy nước làm cánh đồng chăn thả vì cũng có một số vật sống trong nước (udakacārī)[35] nhưng lại không lấy nước làm nơi trú ngụ, như rùa[36] chẳng hạn. đang lúc lắng nghe diễn giải Phật Pháp, vì ngài đang diễn giải Phật Pháp với giọng nói Phạm Thiên ngọt ngào[37], giống như tiếng kêu[38] của chim cu đất Ấn Ðộ, nhờ chú tâm con thấu triệt tiếng nói đó với suy nghĩ rằng, “Ðây phải là Phật Pháp ngài đã thốt lên,” và ở đây ta hiểu sở hữu cách theo nghĩa không chú ý lắng nghe[39]. Người chăn bò đã đạp chết con (avadhī vacchapaāloko); một gã chăn bò đang chăn thả[40] bầy bò đã đến gần con, đang đứng dựa vào chiếc gậy cong queo, đã đạp bẹp[41] ngay đầu con với chiếc gậy và đã giết chết con.

3. Ai trong chốc lát muốn có tâm tịnh tín (muhuttaṃ cittappasādassa): với tâm tịnh tín, nổi lên trong chốc lát liên quan đến lắng nghe Phật Pháp[42] ngài diễn giải; đó là nguyên nhân[43] thần thông (iddhiṃ): thành công, có nghĩa là vinh danh thiên giới. Danh thơm (yasaṃ): đoàn tùy tùng. Uy lực (ānubhāvaṃ): oai lực thiên giới như có khả năng hiện hình dưới bất kỳ dạng nào tùy ý muốn v.v... Diện mạo (vaṇṇaṃ) thù thắng sắc diện thể lý. Vẻ rực rỡ (jūtiṃ): ánh hào quang rực rỡ có thể lan tỏa khoảng độ mười hai do tuần.

4. Những kẻ nào (ye): những chúng sanh đó. Từ ca (và) ám chỉ điều được thêm vào. Qua ngài: te = tava (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Trong khoảng thời gian dài (dīghaṃ addhanaṃ): cần rất nhiều thời gian. Lắng nghe: assosuṃ = suṇiṃsu (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Gotama (Gotama): ngài nói về Ðức Thiện Thệ gọi đích thân tộc. Vị trí cố định (acalaṭṭhānaṃ): níp bàn. Ðây chính là ý nghĩa: Ðức Thế Tôn Cồ Ðàm, những kẻ đó, không giống như ta, không lắng nghe[44] (Phật Pháp) trong một thời gian ngắn. Sau khi đã thực hiện phứơc nghiệp, kẻ nào đã lắng nghe, đã nghe ngài thuyết giải Phật Pháp trong một thời gian dài[45], chúng sanh đó đã bị cảnh khổ vòng luân hồi khống chế trong một thời gian dài, đã thoát khỏi, đã đến được vị trí an tịnh là nơi bất biến, là nơi trường cửu, một nơi sau khi thoát ra khỏi thì sẽ không còn sầu khổ - và đối với họ sẽ không còn điều gì ngăn cản khiến họ chứng đắc[46] níp bàn đó nữa.

Thế rồi sau khi đã chiêm ngắm chứng đắc thành công nơi tiềm năng ngài có được và bạn bè tụ tập tại đó, Ðức Thế Tôn đã diễn giải Phật Pháp đến từng chi tiết. Ngay lúc tột đỉnh Giáo Pháp đó, Thiên Tử đã an trú thánh quả Nhập Lưu. Lại có tám mươi tư ngàn chúng sanh cũng thấu triệt Giáo Pháp, Thiên Tử đảnh lễ Ðức Thế Tôn, đi vòng quanh ngài về phía bên phải ba lần, chấp hai tay rồi đảnh lễ đầu xuống tận đất, tăng đoàn chư vị Tỳ khưu và tiến thẳng đến cõi thiên giới cùng với đoàn tùy tùng của ngài.

Phần Chú giải Thiên Cung Tiên Nhái kết thúc tại đây.

5.2 Chú Giải CHUYỆN KỂ THIÊN CUNG CỦA NÀNG REVATĪ
[Revatīvimānavaṇṇanā]

Hãy đứng lên, nào Revati tính tình độc ác.” Ðây chính là Thiên Cung[47] của nàng Revati. Thiên Cung này[48] xuất xứ như thế nào?

Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong thành Benares ngay tại công viên Con Nai, trong vương quốc Isipatana. Vào thời đó có một thiện nam sống trong thành Bernares tên là Nandiya, là con trai một gia đình đạo hạnh có đức tin[49] vững vàng và sẳn sàng thực hiện bố thí rất hào phóng và lại hỗ trợ đắc lực cho Tăng Ðoàn. Thế rồi cha mẹ chàng muốn hỏi cưới cho chàng người em họ tên là Revati đang cư ngụ ngay trong ngôi nhà đối diện với gia đình chàng. Nhưng nàng là người thiếu đức tin và không sẳn lòng bố thí. Nandiya nhất lòng không chịu cưới nàng. Mẹ chàng liền bảo Revati “Con yêu, con phải tới nhà ta, rồi lấy phân bò tươi đánh dấu chỗ tăng đoàn chư vị Tỳ khưu sẽ tới ngồi, hãy sửa soạn chỗ ngồi cho các ngài, rồi dựng lên một chiếc kệ[50], hãy đảnh lễ chư vị Tỳ khưu vào lúc họ đến đây, rồi thu bát khất thực, bảo họ ngồi xuống nơi đã dành sẳn cho các ngài, lọc nước[51] đổ đầy bình[52] theo đúng qui định và khi các ngài đã dùng bữa xong con hãy rửa bát khất thực cho chư vị đó - nếu con thực hiện những công việc đó ắt con sẽ chiếm được thiện cảm của con trai ta[53].” Nàng Revati thực hiện y như lời người mẹ (chồng) dặn bảo. Thế rồi bà mẹ thông báo cho con trai nói rằng, “Nàng đã tuân theo những lời khuyên của mẹ” và khi chàng trai tỏ dấu đồng ý chấp nhận[54] nàng nói rằng, “Nếu được như vậy, thật là tuyệt[55], người mẹ liền định ngày lành[56] tháng tốt và lễ thành hôn [57] được cử hành long trọng. Thế rồi Nandiya nói với nàng mà rằng, “Nếu em hầu hạ[58] chư tăng và cha mẹ của anh cho tốt, em sẽ được phép cư ngụ trong căn nhà này, vậy nên hãy tỏ ra siêng năm chăm chỉ đi”. Nàng đồng ý nói rằng, “Vâng thưa chàng”, và giả như mình có niềm tin vững chắc, đôi khi nàng hành động rất hợp ý chồng, và nàng đã hạ sanh cho chàng được hai người con trai.

(Thế rồi) Cha mẹ của Nandiya qua đời không lâu sau đó, và toàn bộ quyền hạn trong gia đình lọt vào tay nàng Revati. Tuy nhiên Nandiya đã trở thành một người chuyên tâm bố thí – chàng đã an trú bố thí cho chư vị Tỳ khưu, chàng cũng ấn định thực hiện bố thí định kỳ cho chư vị Tỳ khưu vật thực nấu chín ngay trước cửa nhà chàng cho những người nghèo khổ bần cùng và những người lang thang cơ nhỡ v.v... [59] Trong khi đó chàng cho xây một sảnh đường[60] rất lớn ngay tại Isipatana, một phòng tiếp khách[61] vuông vắn cho trang bị bốn phòng, với đầy đủ giường chiếu và tọa sàng v.v... [221] rồi lại tổ chức một cuộc bố thí rất lớn cho tăng chúng có Đức Phật dẫn đầu, rồi rẩy nước khánh thành vào tay vị Như Lai, thế rồi cúng dường ngôi nhà đó cho ngài. Với nghi lễ rẩy nước[62] cúng dường như vậy nơi cõi Tam Thập Tam thiên giới đã nổi lên một thiên cung quy mô mười hai do tuần – cả chiều dài và chiều rộng – và cao tới cả trăm do tuần, được trang điểm với bảy loại châu báu và rồi với đoàn tiên nữ[63] gồm cả ngàn người theo hầu. Thế rồi một ngày kia trưởng lão[64] Mahāmoggallāna đang thực hiện chuyến du hành thiên giới, đã nhìn thấy lâu đài đó[65], ngài liền hỏi vị tiên đến đảnh lễ và cũng là chủ nhân toà lâu đài đó mà rằng, “Thưa ngài, chủ nhân toà lâu đài này có tên là Nandiya đang sống tại thành phố Bernares, nơi cõi chúng sanh; người đó tên là Nandiya, con trai của một người rất giàu có[66], đã truyền cho xây một sảnh đường vuông vắn dâng cúng tăng chúng trong vương quốc Isipatana Mahāvihāra. Họ cho biết rằng, “Tòa lâu đài này đã xuất hiện nơi thiên giới nhằm phục vụ cho người đàn ông ta”. Các chư tiên nữ cũng xuất hiện trong tòa lâu đài đó và cũng đến đảnh lễ vị Trưởng lão mà rằng, “Bạch thầy, chúng con có mặt ở đây nhằm phục vụ hầu hạ cho Thiên tử tên là Nandiya sống trong thành Bernares. Xin ngài thông báo cho thiên tử biết rằng, “Chư tiên nữ xuất hiện để hầu hạ ngài đã không hài lòng cho lắm vì ngài đã lưu lại nơi cõi trần gian quá lâu mà không xuất hiện tại đây để cho chúng em hầu hạ ngài. Thù thắng thiên cõi quả vô cùng hấp dẫn. giống như chọn lấy một bình bằng vàng sau khi đập bể chiếc bình đất nung vậy.a” – Xin ngài trưởng lão nói những điều đó cho chàng biết để chàng mau mau có mặt tại đây”. “Tốt lắm”. Vị trưởng lão đồng ý, và ngài đã vội vã từ cõi thiên giới[67] quay trở về cõi con người và ngài hỏi Ðức Phật trước sự hiện diện của bốn tăng chúng mà rằng, “Bạch thầy, phải chăng thù thắng thiên giới cũng đã xuất hiện cho những người thực hiện phước đức trong lúc họ còn hiện hữu trên cõi đời này chăng?” Phải chăng thù thắng thiên giới đã chẳng xuất hiện với Nandiya chính ngài đã được chứng kiến đó sao, hỡi Moggallāna – tại sao ngươi còn hỏi ta?” Thế rồi để chứng minh cho ngài trưởng lão thấy cũng giống như bạn bè và người thân ruột thịt chào đón và chấp nhận một người ra đi từ lâu nay quay trở về nhà thế nào, chính phước thiện của người đó cũng chấp nhận và tận tay nhận là thù thắng của người đã thực hiện phước đức đó[68] khi người đó đã ra đi[69]từ cõi đời này sang cõi đời sau Ðức Thế Tôn liền thốt lên những đoạn kệ sau:

1[70]. Khi có người đi xa vắng nhà trong một thời gian dài quay trở về nhà an toàn thì họ hàng bạn bè và những người đến chia vui đều đến chào đón người đó trở về.

2. Cũng cùng một cách thức như vậy khi một người đã thực hiện phước đức từ giã cõi đời này sang cõi đời sau thì phước đức đó cũng nhận đón người ấy[71], giống như họ hàng thân thiết [72] đã làm đối với người thân yêu của họ quay trở về.”

[222] Khi Nandiya nghe những lời này, chàng thực hiện bố thí, và phước đức với mức độ lớn hơn. Khi chàng quyết định ra thực hiện các thương vụ,[73] chàng nói cùng Raveta vợ mình mà rằng, “Em yêu, em phải kiên trì tiếp tục thực hiện bố thí điều hoà cho Tăng Ðoàn và phân phát vật thực đã nấu chín cho những người nghèo khổ thiếu thốn chúng ta đã thường xuyên cung cấp cho họ.” Và nàng đồng ý nói rằng, “Ðược rồi, chàng cứ an tâm lên đường.” Ngay cả khi chàng vắng nhà và đến cư ngụ ở bất kỳ nơi đâu, chàng cũng bố thí cho chư vị Tỳ khưu, cho người thiếu thốn và những người hành khất[74] tùy theo phương tiện chàng có trong tay. Xuất phát từ tâm đại bi, đối với chàng tất cả những kẻ nào đã triệt phá hết các lậu ngay từ xa đến gặp chàng đều nhận được của bố thí. Nhưng ngay khi chàng ra đi, nàng Revati chỉ thực hiện bố thí trong ít ngày và rồi ngưng không phân phát vật thực cho những người thiếu thốn nữa. Trong khi đó[75] đối với lương thực dành cho chư vị Tỳ khưu nàng chỉ dâng cho họ cháo hoa, ăn kèm với tương chua. Ngay tại vị trí chư vị Tỳ khưu dùng bữa nàng cho rải một số hạt cơm trộn với chút thịt cá là những gì còn lại sau khi nàng đã dùng và chỉ[76] cho bá tánh thấy nói rằng, “Hãy nhìn kìa hành vi chư vị ẩn sĩ đã dục sang một bên của thí với niềm tin như vậy đó!” Thế rồi Nandiya quay trở về nhà với tài sản và tiền bạc rất nhiều với những gì chàng kiếm được tại nơi đó[77]. Khi chàng nghe thấy những gì đã diễn ra, chàng liền tống cổ Revati ra khỏi nhà rồi vào nhà đóng cửa lại. Ngày hôm sau chàng đã tổ chức một cuộc bố thí rất lớn cho chư vị Tỳ khưu với Đức Phật dẫn đầu. Và rồi khai trương một cách thích hợp cuộc cung cấp lương thực đều đặn cho tăng đoàn và bố thí lương thực cho những người thiếu thốn; trong khi đó phần lương thực rất nhiều đã được bạn bè đưa về, Revati cũng đã bố thí chỉ có cỏ khô và chăn mền.

Một khoảng thời gian sau đó chàng qua đời và đã xuất hiện nơi chính thiên cung[78] của chàng nơi cõi Tam Thập Tam. Tuy nhiên, Revati đã chấm dứt mọi cuộc bố thí, và đi lang thang[79] khắp nơi rồi tiếp tục lăng mạ chư vị Tỳ khưu[80] nói rằng, “Do chư vị đó mà của cải và công việc phục vụ của ta đã đi đến chỗ phá sản.” Thế rồi chư thiên Vessavana đã ra lệnh cho hai dạ xoa nói rằng, “Ta truyền cho hai vị hãy đến thành Bernares và la lớn tiếng cho mọi người biết, chỉ trong vòng bảy ngày nữa, cho dù vẫn còn sống, Revati sẽ bị ném vào lửa hỏa ngục.” Khi chúng sanh nghe điều này họ bị dao động và run lên vì sợ hãi. Nhưng Revati bước lên tầng lầu thứ hai,[81] đóng chặt cửa lại và ngồi trong đó. Vào ngày thứ bảy có hai dạ xoa, với diện mạo vô cùng đáng sợ, có màu giống như một đám mây mưa, mắt họ đỏ ngầu như máu, răng nanh nhọn hoắt, mũi tẹt xuống và hình dạng quái gở có tóc và râu tỏa sáng. Nhà vua chư thiên Vessavana ra lệnh đuổi nàng ra khỏi nhà do những ác nghiệp nàng đã làm. [223] đến gặp nàng (Revati), mỗi người nắm lấy một cánh tay nàng, nói rằng, “Nào hỡi Revati, hãy đứng dậy mau, hỡi đồ ác tâm.” v.v... và dẫn nàng đi diễu[82] qua hết phố này sang phố khác quanh thành phố nói rằng, “Quần chúng hãy nhìn xem đây!” và rồi bay lên không trung, dẫn theo nàng về cõi Tam Thập Tam. Họ chỉ cho nàng thấy thiên cung của Nandiya và thù thắng của chàng và rồi đang lúc nàng còn rên rỉ họ đã khiến cho nàng phải nhào xuống gần Hoả Ngục chật ních người[83]. Những nhân sự Diêm Vương[84] liền quẳng nàng xuống hỏa ngục đầy tội nhân. Vì lý do đó họ[85] nói rằng:

3. “Hỡi Revati, hãy đứng dậy mau, hỡi đồ ác tâm.”Hỡi nữ nhân đủ các thói gian tham; cửa đưa vào hỏa ngục đã mở toang[86] chúng ta sẽ dẫn ngươi vào nơi khốn khổ, nơi kẻ đến sẽ phải khóc[87] than sầu khổ, kẻ bị giam vào ngục đó phải chịu sầu khổ đau buồn[88].”

Về điểm này:

3. Hãy dậy mau: uṭṭhehi = uṭṭhaha (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) có nghĩa là vào thời điểm này[89] tầng lầu trên cũng không thể bảo vệ nhà ngươi khỏi nỗi lo sợ hỏa ngục đâu; chính vì thế hãy đứng dậy mau và tới đây.[90] Hỡi Revata (Revate): họ đang nói với nàng[91], họ đã gọi đích danh nàng. Họ cho biết[92] vì lý do nàng phải đứng dậy cho mau như sau, “Ðồ ác tâm’ v.v... : “ Vì nàng thuộc dạng có hạnh ti tiện và ác bạo do đã xúc phạm và lăng nhục v.v... những kẻ bậc thánh và vì cánh cửa hỏa ngục đã rộng mở để đón mi vào trong hỏa ngục. Chính vì thế mà hãy dậy mau![93] Thiếu đức hạnh bố thí.(adānasīle): không tỏ ra sẳn lòng đức hạnh để bố thí một chút gì[94] cho bất kỳ ai hỡi đồ keo kiệt và bủn xỉn. Ðây cũng là một lời khẳng định về lý do nàng phải đứng dậy cho mau. Vì trú xứ nơi cõi hạnh phúc chỉ dành cho những kẻ nào giống như đức lang quân của nàng, là người có đức hạnh bố thí và những kẻ không keo kiệt mà thôi. Ngược lại trú xứ trong hỏa ngục dành cho những ai giống nhà ngươi, thiếu đức hạnh bố thí và những kẻ tỏ ra keo kiệt. Chính vì thế hãy đứng dây mau; chúng ta không cho phép[95] nhà ngươi lưu lại ở đây nữa, cho dù chỉ trong một dây lát mà thôi.– đây là ý nghĩa. Trong đó những kẻ phải xa vào chốn sầu khổ than van (yettha thumanti duggatā): họ trở thành những người xa vào chốn sầu khổ vì phải trải qua đau khổ.[96] Những kẻ phải chịu hình phạt hỏa ngục (nerayikā): chúng ta sẽ dẫn ngươi (nessāma = nayissāma, một dạng ngữ pháp hoán chuyển) chúng ta sẽ tống khứ ngươi vào nơi đó, vào hỏa ngục, là nơi những kẻ phải chịu, những kẻ phải trải qua[97] hình phạt hỏa ngục đau khổ muôn bề; không được phép thoát ra ngoài chi đến khi nào không chấm dứt[98] được những ác hạnh. [224] Họ bắt đầu kêu gào[99] đây là cách chúng ta nên phân tích.

4. Nói vậy xong, hai Dạ Xoa mắt đỏ ngầu, là sứ giả Diêm Vương mỗi người chộp[100] lấy tay Revatā[101] và lôi nàng đến trước mặt đoàn chư thiên – đây là lời chư vị kiết tập Kinh Tạng Phật Pháp [102]

Về điểm này:

4. Sau khi thốt lên những lời như vậy (icc eva vatvana) sau khi chỉ nói như vậy với nàng “Hãy đứng lên” v.v... có nghĩa là tiếp theo sau những lời này. Những sứ giả của Dạ Ma Vương (Yamassa Dūtā): giống như những xứ giả Dạ Ma vương, vô cùng quyền uy và bất biến, vì chính Vessanana đã sai họ tới đây và cũng như vậy họ sẽ dẫn nàng về cõi Tam Thập Tam. Có một số người cho rằng ý nghĩa là “các sứ giả của Vessavana”, liên quan đến nguyên âm na (giống như) trong tiếng Phệ Ðà cộng chung với từ Yamassa như vậy: na Yamassa duta có nghĩa là (giống như sứ giả của Diêm vương)[103]; nhưng điều này không chính xác, vì điều tiếp theo không giống[104] với các sứ giả Dạ Ma Vương mà họ là sứ giả của Vua Vessavana được.[105] Họ còn là Dạ Xoa thiên chủ vì người ta dâng hy tế (yajanti)[106] cho họ, vì chúng sanh dâng hy lễ cúng dường cho họ. Trong đó, mắt đỏ lừ (lohitakkhā): mắt đỏ; vì đôi mắt của dạ xoa vô cùng khát máu. Vĩ đại (brahantā): to lớn. Mỗi người nắm lấy cánh tay nàng: paccekabāhāsu = pacceaṃ bāhāsu (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Người này nắm chặt lấy cánh tay của nàng, người kia cũng nắm lấy cánh tay khác. Nàng Revatā (Revataṃ): Revatī; Revatā cũng chính là tên của nàng. Người ta cũng nói[107] giống vậy với Revate (Revata). Hướng dẫn: pakkāmayuṃ = pakkāmesuṃ[108] (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) có nghĩa là dẫn nàng tới. Một đám chư thiên (devagaṇassa): một đoàn chư thiên nơi cõi Tam Thập Tam .

Sau khi những tên Dạ Xoa đó đã đưa nàng tới cõi Tam Thập Tam và đặt nàng xuống gần thiên cung của chàng Nandiya. Vừa nhìn thấy ánh sáng rực rỡ thiên cung tỏa ra như mặt trời, Revati liền hỏi Dạ Xoa mà rằng:

Lâu đài của ai kia mà tấp nập thiên nữ, lại tỏa sáng như mặt trời sáng chói, thiên cung đó được bao vây bằng lưới dệt bằng vàng đang tỏa sáng tựa chiêu dương.

Ðoàn tiên nữ tẩm tính chất chiên đàn, thắp sáng lên thiên cung từ hai phía; hình như vẻ tráng lệ thiên cung tựa ánh mặt trời giữa ngọ – ai đã tái sanh nơi thiên giới lại được hưởng cảnh thiên cung thế?

“Xưa ở thành Bernares một thiện nam tên là Nandiya. Chẳng keo kiệt, song bậc thầy bố thí, đó chính là thiên cung chàng được hưởng. Cả đàn tiên nữ hầu hạ chàng còn thiên cung tỏa sáng tựa ánh mặt trời, thắp sáng liên thiên cung từ hai phía, vẻ kiều diễm không khác chi ánh[109] mặt trời ngọ.

Ðoàn tiên nữ tẩm tinh chất chiên đàn thắp sáng liên thiên cung từ hai phía; hình như vẻ tráng lệ thiên cung tựa ánh mặt trời giữa ngọ – ai đã tái sanh nơi thiên giới lại được hưởng cảnh thiên cung như thế?

Về điểm này:

6. Ðược xức tinh chất dầu chiên đàn (candanasāralittā): các tiên nữ đã bôi hương liệu chiên đàn lên toàn thân họ đó chính là dầu tinh chất chiết từ cây chiên đàn. Trên tứ bề thiên cung đó (ubhanto vimānaṃ): sau khi cùng nhau tham gia v.v... chư tiên nữ đó đã tạo cho thiên cung[110] tỏa sáng tứ bề từ bên trong ra bên ngoài.

Thế rồi Revati cho biết thêm:

9. “Thửa trước ta là phu nhân Nandiya, là nữ chủ nhân trong nhà đó, ta có toàn quyền trong gia đình và cả trên chồng của ta nữa; giờ đây ta[111] sung sướng được hưởng thiên cung này, ta chẳng mong ước nhìn cảnh hỏa ngục trần ai.”

Về điểm này:

9. Là bà chủ cai quản gia đình đó (agārinī): là nữ chủ nhân trong ngôi nhà[112] đó. Họ cũng giải thích thêm là bhariyā cagāminī[113] (người bạn đời), có nghĩa là người vợ luôn hộ tống[114] chồng mình. Nắm quyền hành trên toàn thể gia đình họ hàng nhà chồng (sabbakulassa issara bhattu): nàng nói rằng, “Ta nắm toàn quyền, là bà chủ toàn bộ tài sản và nhà cửa[115] trong gia đình của chồng ta là Nandiya; chính vì thế giờ đây ta cũng sẽ là chủ nhân của thiên cung đó”. [226] Giờ đây ta cũng muốn hưởng lạc thú thiên cung đó (vimāne ramissāmi dān’ ahaṃ): họ dẫn nàng tới thiên cung đó chính là để lôi kéo nàng bằng cách này. Ta không mong ước nhìn cảnh hỏa ngục (na patthaya nirayaṃ dassanāya); nàng cho biết, “Hơn thế nữa, hỏa ngục các ngươi đã dẫn ta tới đó, ta chẳng muốn nhìn thấy cảnh đó, chớ đừng nói[116] phải vào chốn khốn khổ đó.”

Khi nàng còn đang nói như vậy thì họ liền dẫn nàng tới gần hỏa ngục đó nói rằng, ‘Cho dù nhà ngươi có muốn hay không ước mong điều đó – nhà ngươi muốn[117] được phục vụ ra sao đây?” và thế rồi họ thốt lên đoạn kệ này:

10. Hỏa ngục này chỉ dành cho ngươi, đồ thất đức ác nhân, đó là nơi ngươi phải trải qua muôn vàn đau khổ, ngươi chẳng thực hiện bất kỳ phước đức nào khi còn sống trên cõi đời này. Vì kẻ nào keo kiệt[118] hay phẫn nộ và có ác tâm chẳng được hưởng tình bầu bạn với những kẻ được hưởng thiên giới bao giờ.”

10. Ðây là ý nghĩa đoạn này: hỏa ngục này quả dành cho ngươi, là nơi diễn ra đủ thứ đau khổ, là nơi ngươi phải trải qua trong một thời gian dài. Tại sao thế? Vì ngươi chẳng thực hiện phước đức nơi cõi trần gian giữa thế nhân, vì nơi cõi trần gian giữa thế nhân nhà ngươi chẳng thực hiện được bất kỳ phước đức nào cho dù chỉ là những điều vặt vãnh nhỏ mọn. Hơn thế nữa, cũng giống vậy chúng sanh thuộc hạng người đó chẳng thực hiện phước đức, lại keo kiệt[119] có tâm địa bủn xỉn thể hiện ở chỗ chỉ muốn che dấu thù thắng[120] của chính mình, lại khiến keo kiệt nổi lên nơi người khác và là người ác tâm bằng cách khiến khởi sanh[121] những điều bất thiện như thèm khát tham lam v.v... chẳng được bầu bạn hay cùng đi với những kẻ được hưởng thiên giới đó là các chư thiên – đây là cách ta nên phân tích.

Sau khi đã nói những lời đó, ngay sau đó hai Dạ Xoa đã biến mất. Thế rồi có hai người canh giữ hỏa ngục tương tự như hai dạ xoa đó kéo nàng theo rồi ném nàng vào chốn hỏa ngục đầy phân tro rác rưởi. Có tên là Samsavaka nàng tìm hiểu xem hỏa ngục đó nói rằng:

11.Cái gì đây lại lộ rõ đám phân tro dơ bẩn, cái gì đây lại có mùi xu uế nồng nặc bốc ra. Ðiều gì thế kia là đủ thứ phân tro bồng bềnh trôi nổi.

12. Chốn đó tên gọi là hỏa ngục Samsavaka, là nơi giam cầm trăm ngàn chúng sanh. Cả nhà ngươi nữa, hỡi Revata cũng phải vào đó và bị thiêu đốt muôn muôn ngàn kiếp.”

[227] Khi họ kể cho nàng biết như vậy, nàng tìm hiểu những việc mình đã làm khiến cho nàng phải xa vào chốn đó nói rằng[122]:

13. Giờ đây ác nghiệp nào thân khẩu ý ta đã làm đây? Do nguyên nhân nào Samavaka lại dành cho những hạng người đó?”

Họ nói rõ về những ác nghiệp nàng[123] đã thực hiện như sau:

14. “Với những lời lẽ dối trá ngươi đã lừa dối cả các vị ẩn sĩ, vị Phạm Thiên lẫn những kẻ khốn cùng - đó chính là ác nghiệp ngươi đã làm” và rồi họ nói thêm.

15. “Do đó hoả ngục Samsavaka đã dành cho muôn vàn hạng người đó và hỡi Revata, cả ngươi nữa cũng sẽ bị thiêu đốt trong đó muôn muôn kiếp.”

Về điểm này:

12. Tên là Samsavaka (Saṃsavaka nāma): nơi đó có tên gọi là Saṃsavaka do việc tuôn trào liên tục (saṃsavanato)[124]; việc rỉ ra những thứ phân tro xu uế nhơ bẩn như phân người nước tiểu v.v...

Thế rồi để chỉ ra cho nàng thấy, không những nàng chỉ phải gánh chịu cực hình Saṃsavaka nhưng sau khi đã bị thiêu đốt trong đó hàng ngàn năm sau khi đã xuất khỏi nơi đó nàng còn bị chặt chân tay v.v... nói về những cực hình nàng phải trải qua trong đó.

16. “ Họ sẽ chặt tay chặt chân ngươi; họ sẽ cắt tai mũi ngươi, cũng như vậy hàng ngàn con quạ đen sẽ đến gom sạch những thứ đó rồi ăn ngấu nghiến khiến cho ngươi phải quằn quại đau khổ vô cùng.

Về điểm này:

16. Từng đàn quạ đen (kākoḷagaṇā) ông đảo, người ta kể lại rằng cả ngàn, cả vạn con quạ xà xuống trên thân xác ngươi dài khoảng ba gavutas[125] với những chiếc mỏ cứng và sắc hơn dao cạo đã mổ thân xác ngươi có kích cỡ bằng cây thốt nốt, chiếc mỏ đó sắc như dao sắt và rồi xé xác nhà ngươi ra hàng nghìn mảnh bới tung văng ra khắp nơi[126] do sức mạnh của ác nghiệp[127] đó. Chính vì lý do đó họ cho biết:[128] hàng đàn đông đảo quạ đen sẽ tề tựu tại đó và xé xác ngươi vung vãi khắp nơi.”

Rồi còn nữa, nàng than vãn theo cách đó và năn nỉ họ dẫn nàng trở lại cõi trần gian. Chính vì lý do đó có lời nói rằng:

17. [228] Làm ơn dẫn ta trở lại cõi trần gian – ta đã quyết thực hiện những thiện nghiệp bằng bố thí, phẩm hạnh tốt, kiềm chế và thuần thục. Sau khi đã làm cho chúng sanh được hạnh phúc và sau này sẽ chẳng còn phải hối hận gì nữa.”

Những tên canh cửa hỏa ngục lại lên tiếng:

18 “Ngày xưa ngươi đã sống buông thả phóng dật nên giờ đây phải khổ đau than khóc; ngươi phải chịu bao quả nghiệp chính ngươi đã gây ra.

Nàng lại nói tiếp:

19-20. “Kẻ nào gia nhập thiên giới, quay trở lại cõi trần thế chúng sanh khi được hỏi lại nói cho ta biết “Ngươi phải thực hiện cúng dường của thí, nào y phục và còn cả tọa sàng[129], rồi cả thức uống đồ ăn đủ thứ, luôn kính trọng những kẻ cô thân đau yếu. Còn những kẻ tham lam, sân hận và có lòng ác đức nhẫn tâm sẽ chẳng được bầu bạn với kẻ bậc thánh đã được vào chốn thiên bồng[130]

21. Và giờ đây, sau khi đã rời khỏi chốn đau khổ đó, lại được gia nhập cõi chúng sanh ta sẽ giữ giới đức và sống hào phóng với tha nhân. Ta sẽ thực hiện thật nhiều phước đức bằng bố thí, bằng phẩm hạnh tốt, lại kiềm chế và thuần thục tánh tình.

Với tâm thanh thản ta sẽ trồng cây trong Hỷ Lạc viên.[131] Và bắc cầu ở nơi nào không thể vượt qua khô chân, rồi lại bầy nước và đào giếng nước ngay bên đường cúng thí.

Vào ngày mười bốn, ngày rằm rồi ngày tám tuần trăng và những ngày không trăng trong hai tuần ngược lại, ta sẽ thực hiện bổn phận Bát quan trai giới thành tám phần.

Ta sẽ giữ trai giới; rồi kiềm chế theo đúng ngũ giới luật; ta sẽ siêng năng thực hiện bố thí – là những gì ta thấy thật lòng.

Như vậy khi nàng đã than vãn la hét đau khổ và cố gắng chạy trốn khỏi nơi đầy đau khổ. Họ đã dục nàng xuống hỏa ngục chân[132] ở trên và đầu lộn xuống vào chốn hỏa ngục đầy khủng khiếp - Các vị kiết tập kinh điển kể tiếp chuyện này.

Và nàng thốt lên đoạn kệ kết luận như sau:

“Ngày xưa ta đã tỏ ra biển lận, gian tham lại còn phỉ báng chư vị ẩn sĩ[133] các vị bà la môn. Và đã lừa dối chồng ta bằng những lời thiếu trung thực. Ta đã phải thiêu đốt trong hỏa ngục kinh hoàng u tối.”

[229] Về điểm này:

17-26. Ðoạn kệ bắt đầu với “Trong quá khứ ta đã sống buông thả” chính vì thế nàng đã phải tái sanh nơi chốn hỏa ngục, là điều còn lại trong lúc nàng vẫn chưa phải tái sanh tại đó – Ðây chính là điều ta cần phải hiểu.

Phần còn lại quả rất dễ dàng hiểu rõ đựơc.

Chư vị Tỳ khưu thông báo cho Ðức Thế Tôn[134] biết việc Revati đã phải dẫn đi sau khi các Dạ Xoa bắt được nàng. Khi nghe biết biến cố này, Ðức Phật đã thuật lại chi tiết từ dầu câu chuyện và sau đó ngài diễn giải Phật Pháp đến tận chi tiết. Vào lúc kết thúc diễn giải giáo pháp đó rất đông người chứng đắc quả Nhập Lưu v.v... và như đã đề cập đến trước đó, đây là toàn bộ chuyện kể về “Thiên Cung của nàng Revati” do toàn bộ bài thuyết pháp lại liên quan đến Revati, trong lúc đó Revati lại không phải là thiên cung thiên nữ[135] tuy nhiên lại liên quan đến thù thắng thiên cung của thiên tử Nandiya. Chính vì thế chuyện kể này cũng được gồm trong bài Kiết Tập Kinh Tạng này trong phẩm thiên cung nam giới - đây là điều ta nên cứu xét đến.

Phần Chú giải thiên cung nàng Revatī kết thúc tại đây.

5.3 Chú Giải CHUYỆN KỂ THIÊN CUNG CHATTAMĀṆAVA
[Chattamāṇavakavimānavaṇṇanā]

“Người có tài hùng biện tuyệt vời nhất là Ðức Thế Tôn, đại trí, tộc Thích-Ca[136].” đây chính là chuyện kể thiên cung Chattamānava. Thiên cung này khởi xuất ra sao?

Bấy giờ Ðức Thế Tôn đang lưu lại trong thành Sāvatthi, trong cánh rừng Kỳ Viên. Vào thời điểm đó trong thành Setavyā[137] có một chàng thanh niên trẻ người Bà La Môn tên là Chatta, là cậu con trai rất chăm chỉ học hành của một vị bà la môn, khi cậu ta đến tuổi khôn cha mẹ cậu đã sai cậu đến thành Ukkaṭṭhā[138] và đến trình diện trước một vị bà la môn tên là Pokkharasāti[139], chẳng bao lâu sau đó do sẵn tính siêng năng và thông minh cậu ta đã thông thạo các câu châm ngôn thần trú (manstra) và nhiều ngành kiến thức[140] khác và đạt đến toàn hảo nghệ thuật Phạm Thiên. Chàng đến chào thầy mình và nói rằng, “Con đã thông thạo nghệ thuật này do học nơi thầy; con phải cúng dường thầy[141] điều gì để xứng với tư cách là sư phụ (guru)[142] của con?” Thầy dạy trả lời, “Vật thí cho thầy dạy (guru) chính là thực hiện điều gì thích hợp với khả năng một đồ đệ tại địa phương; hãy kiếm một ngàn đồng tiền vàng kahāpaṇas và đem đến cho thầy.” Chattamāṇa[143] chào thầy mình, và đến thành Setavyā, chàng đến chào cha mẹ và khi được cha mẹ chào đón trở về[144] và trao đổi với cha mẹ những lời chào hỏi thân tình và thông báo cho cha biết về vấn đề này và chàng còn nói thêm số tiền phải trả cho thầy mình và chàng sẽ quay trở[145] về nhà trong ngày. [230] Cha mẹ chàng nói, Hôm nay trể quá rồi, con trai ta ơi, ngày mai hãy đi.” nhận được số tiền, cột lại thành bó và để món tiền đó sang một bên. Mấy tên trộm nghe được sự việc đó, liền nấp trong một khu rừng rậm rạp để theo dõi Chattamāṇa, chờ cơ hội tốt nghĩ rằng, “Chúng ta sẽ giết chết chàng trai và cướp lấy số tiền vàng kahapanas[146] đó.”

Bấy giờ Ðức Thế Tôn vừa xuất định Ðại Bi, liền khởi hành từ lúc sáng sớm ngài đã nhìn thấy an trú tương lai của Chattamāṇa nơi Tam Qui và Ngũ Giới, cả việc tái sanh[147] nơi cõi thiên giới. Khi bị những tên cướp giết chết và việc thấu triệt Phật Pháp, vào lúc quay trở về từ cõi thiên giới, cùng với thiên cung của chàng, cùng với[148] thiên cung tại cõi đó và tiếp tục tiến tới và đến ngồi thiền ngay dưới gốc cây nọ trên đường chàng trai phải đi. Mang theo số tiền dâng cúng cho thầy dạy của mình, đang khi đi từ làng Setavya hướng về thành Ukhattha, trên đường đi chàng đã nhìn thấy Ðức Thế Tôn ngồi thiền tại gốc cây đó, cậu đã tiến đến gặp ngài và rồi đứng sang một bên. Khi Ðức Thế Tôn hỏi[149], “chàng đi đâu đó?” chàng trả lời nói rằng, “Bạch thầy Cồ Ðàm, con đi tới thành Ukkattha để dâng cúng dường cho thầy dạy Pokkharasati.” Thế rồi Ðức Thế Tôn nói, “Chàng trai kia, nhưng chàng đã thấu hiểu Tam Qui y và ngũ giới là gì chưa?”[150] Khi chàng cho biết, “Con chưa biết những sự đó; những điều đó nhằm mục đích gì và chúng ra sao?” (Ðức Phật nói tiếp), “Giống như vậy này.” Rồi ngài giải thích cho chàng hiểu rõ những lợi ích[151] do thánh quả tam qui y và thực hiện ngũ giới đem lại và rồi ngài nói tiếp, “Hỡi chàng trai trẻ, con phải học phương pháp Tam Qui Y”; và chàng trai đã xin ngài nói rằng, “Tốt lắm, con sẽ học điều đó; xin ngài hãy nói cho con nghe đi,” Ðức Thế Tôn thốt lên ba đoạn kệ chỉ ra cho chàng biết, bằng những đoạn kệ hết sức cô đọng thích hợp với khuynh hướng phương pháp Qui Y Phật.

Ðức thế tôn, ngài là vị có tài hùng biện đệ nhất giữa thế nhân, ngài là bậc Ðại Trí[152] thuộc dòng tộc Thích Ca. Ngài đã thực hiện đầy đủ bổn phận của mình và đã đến bến bờ bên kia, ngài được trang bị đầy đủ sức mạnh và tinh tấn[153] - hãy đến cùng đức Thiện Thệ để qui y ngài.

Ðạo Pháp này khiến ly ái dục và thoát khỏi lo phiền, pháp không do tạo tác lại thật diệu huyền, [231]lại êm ái khéo giải bầy phân tích. – nào hãy đến qui y Phật Pháp này.

Ta thường nói: điều cúng dường sẽ đem lại nhiều kết quả to lớn[154] (có nghĩa là) khi ta cúng dường lên tám[155] vị tịnh tâm, là những vị tiên tri Giáo Pháp[156], nào hãy đến qui y Tăng Ðoàn.”

Về điểm này:

1. Ngài chính là (yo) là đại từ liên kết, là cách thể hiện điều ta cần phải hiểu nhờ điểm này “Liên quan tới vị (Thiện Thệ)”[157]. Về các vị có tài hùng biện : vadataṃ = vadantanaṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Là (vị hùng biện) tuyệt vời nhất (pavaro): là người tuyệt vời nhất, có nghĩa là ngài là người diễn giải tuyệt vời nhất, là người có tài hùng biện (ăn nói) ưu tú.[158] Thuộc dòng dõi Thích Ca (manujesu): đây là cách mô tả xác định[159] tối đa liên quan đến “vị đạo sư chư thiên và chúng sanh”; hơn thế nữa Ðức Thế Tôn còn là người tuyệt vời nhất nơi chư thiên lẫn con người, kể cả các vị Phạm Thiên và toàn thể chúng sanh. Hay nói cách khác[160] nơi những kẻ thuộc dòng dõi Thích Ca (Manujesu) được đề cập đến do Đức Phật đã khởi sanh giữa những người phàm tục trong lần tái sanh cuối cùng của ngài. Chính vì có cùng một lý do ngài được coi như là Vị Ðại Trí thuộc dòng tộc Thích Ca (Sakyamunī): ngài là vị Thích Ca do được sanh ra trong bộ tộc Thích Ca và là con vị đại trí (muni) do ngài có trí thông thái (moneyya) liên quan đến hiểu biết về thể xác v.v... [161] và nhờ vào tính chất ngài thật sự khôn ngoan (munanato), không bỏ qua bất kỳ điều gì nơi những điều khả giác. – chính vì thế ngài là vị đại trí. Ngài là vị Thiện thệ vì bốn lý do sau đây: ngài là người sở hữu những điều đáng khen ngợi v.v... [162] ngài còn là người phải thực hiện những gì cần được thực hiện. (nói cách khác ngài đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình một cách tuyệt vời), liên quan đến việc ngài đã chu toàn những gì phải làm gồm mười sáu loại: bốn loại là những gì phải am hiểu hoàn toàn v.v...[163] là những điều phải thực hiện thông qua tứ chánh đạo; ngài là người đã đến được bến bờ bên kia vì ngài đã xuất gia. Vì ngài đã chứng đắc nhờ kiến thức của một người tự lập[164], liên quan đến điều xa sôi, tức là bến bờ bên kia nơi nhóm hiện hữu (khandhas)[165], tức là tới níp bàn; ngài còn được trang bị sức mạnh và tinh tấn do ngài sở hữu sức mạnh thể chất vô song, một sức mạnh hiểu biết không bất kỳ người nào trên trần gian này có thể chia sẻ được. Và ngài còn có chánh tinh tấn gồm bốn loại[166]; trong khi đó ngài là đấng Thiện Thệ do phương cách (sobhaṇa) xuất gia (gamana) tuyệt vời của ngài, vì đây là nơi cư trú tuyệt vời[167] (sundaraṃ). vì ngài đã công bố (gaditattā)[168] một cách chính xác (sammā). Hãy đến, hãy tiến lại gặp vị Thiện Thệ, là Ðức Phật toàn hảo, nhằm mục đích Qui Y, để được qui y, được hỗ trợ, được bảo vệ khỏi sầu khổ đó chính là vòng luân hồi đau khổ nơi hiện trạng hư mất; nghĩ rằng. “Ðức Thế Tôn chính là tôi qui y ngài, là niềm bảo đảm của tôi, là chốn tôi cư trú[169] (nương tựa) là niềm hỗ trợ[170] là số mệnh và chỗ dựa[171] của ta”. Hãy tham gia vào, hãy ấp ủ (ngài đi) kể từ ngày hôm nay về sau bằng cách quay lưng lại với những gì đi ngược lại với hạnh phúc của bạn và hãy gia tăng thêm những gì là chính hạnh phúc của bạn; hay nói cách khác[172] có nghĩa là, hãy thể hiện, hãy giác ngộ theo cách này vậy.

2. [232]Khiến ly ái dục (rāgaviragaṃ): ngài đề cập đến chánh đạo; vì chỉ nhờ điều này mà những vị thánh tự giải thoát mình khỏi ái dục vì[173], là điều sẽ tạo ra đổ nát[174], ngay cả ái dục đó đã được thực hiện từ muôn thuở.[175] Không nao núng, thoát khỏi ưu phiền (anejaṃ asokaṃ) lại là thánh quả; vì thánh quả này có tên gọi là “không nao núng”. “thoát khỏi ưu phiền” do cách ta triệt hạ hoàn toàn được các lậu hoặc còn lại liên quan đến cái gọi là trạng thái lo lắng, thèm khát, và điều đó được coi như là mối sầu khổ. Phật Pháp (Dhammaṃ): với chính bản chất Phật Pháp; vì đây chính là thứ Phật Pháp ta phải hiểu được chính tự bản chất[176] của nó , tức là, chánh đạo, thánh quả và níp bàn và không phải là Phật Pháp được ghi trong các bản văn, đó chỉ là Phật Pháp nằm trong khái niệm[177]. Hay nói cách khác Phật Pháp (dhammaṃ): Phật Pháp là ý nghĩa nội tại[178], có nghĩa là Phật Pháp này chính là níp bàn. Ðó chính là điều hữu vi được tạo ra do những điều kiện liên kết lại với nhau, sau khi đã trở thành (đồng hiện hữu) khởi sanh[179] với nhau, vì pháp đó không bị điều kiện gì chi phối, pháp đó hoàn toàn mang tính chất vô vi, pháp đó cũng đồng nghĩa với níp bàn vậy. Pháp đó không ghê tởm vì chẳng có bất luận[180] điều ghê tởm nào tồn tại nơi pháp đó. Pháp đó lại rất ngọt ngào vì lúc nào pháp đó cũng hoàn toàn rất dễ chịu – ngay lúc ta lắng nghe, ngay lúc ta xem xét, và ngay lúc ta đem ra thực hiện, pháp đó lúc nào cũng được lão luyện (competent) do đã được ấn định thực hiện một cách thích hợp[181] những gì ta đã khởi động thông qua chứng đắc bằng việc đã biết khai sáng tâm linh[182]. Là điều tuỳ thuộc[183] hoàn toàn vào kiến thức toàn tri. Và do pháp đó mang tính chất tinh tế vậy. Pháp đó được phân tích một cách thích hợp do cách phân tích vấn đề cách thích hợp qua các uẩn v.v... [184] bằng những gì là toàn hảo v.v... [185] và cũng bằng cách tóm lược v.v... Hơn thế nữa với ba từ này ngài chỉ đề cập đến Phật Pháp ghi trong bản văn Kinh Tạng mà thôi. Chính vì lý do đó “pháp này” được đề cập đến với mục đích chỉ rõ bản chất trước tiên theo cả hai cách vì, thoạt tiên ta nhận thức được pháp đó, cũng như vậy ta có thể tiếp cận[186] pháp đó, điều nghe được cũng như điều ta đem ra thực hành. Thực hiện với pháp đó. Phật pháp (dhammaṃ): Phật Pháp hiểu theo nghĩa đề cao những kẻ nào thực hiện pháp theo những gì phù hợp với gì thực sự đang xảy ra[187] kể từ khi rơi vào đau khổ nơi cõi hư mất. Có một từ chung biểu thị bốn[188] pháp do bởi vì chỉ có một thực chất duy nhất đó là việc an trú nơi tam qui và nơi ngũ giới, ngay cả, nơi Phật Pháp chỉ thấy xuất hiện nơi bản văn thì cũng phải được đề cao.[189] (một người nào đó) thông qua tu luyện phù hợp với pháp đó[190], xuất phát từ chỗ rơi vào hiện trạng đau khổ nơi các tình thế hư mất. Trước tiên đã đặt vào phật pháp đã nói đến ở trên[191] một cách chung ngài lại nói thêm, “Ðiều này’ ám chỉ ‘pháp này’ mà thôi.

3. Xét theo khía cạnh đó (yattha[192]); có liên quan đến Tăng Ðoàn bậc thánh trong đó. Của bố thí (dinnaṃ): một việc cúng dường vật thực v.v... đã bị bỏ qua. Những điều được bố thí đem lại thánh qua to lớn (dinna mahapphalaṃ): [233] một cách đọc lướt giọng mũi, theo vần thơ, liên quan đến bốn cặp hạng người ta đang đề cập tới bằng cách nói tới ‘vị nhập lưu’[193], tức là hạng người đang tu tập thể hiện thánh quả nhập lưu v.v... là người hoàn toàn tinh tuyền liên quan đến những ô uế lại chính là các lậu hoặc. Tám vị đó (aṭṭha): tám cá nhân qua việc xử lý từng người một (tại xếp họ thành cặp) liên quan đến ai nào đã an trú nơi chánh đạo và những người đã an trú nơi thánh quả; và ở đây từ này đã được cắt ngắn thành puggala[194] dhammadasa), cũng vậy đây chỉ là cách tuân thủ luật làm thơ. Là những người tìm kiếm Phật Pháp (dhammadasā): những người đó trước tiên đã nhận ra[195] rằng Phật Pháp đó chính là Tứ Diệu Ðế và Phật Pháp đó chính là Níp bàn vậy. Ðối với Tăng đoàn này đó chính là tăng đoàn do đã được thoả thuận (saṃghāta-)[196] thông qua đặc tính cân bằng về Chánh Kiến và trì giới.

Khi phương pháp Tam Qui, đi kèm với biểu hiện những phẩm chất thiện liên kết với Tam Qui đó, lại là điều chính Ðức Phật đã đề cập đến. Như vậy ngài đã thốt lên trong ba đoạn kệ đó, hỡi chàng trai trẻ, sau từng đoạn kệ được lặp lại với việc giải thích: “Ngài có tài ăn nói (hùng biện) tuyệt vời”; bằng cách thiền định từng phẩm hạnh thiện liên kết với Tam Quy đó, thực chất là hành vi Tam Qui đã được gắn chặt trong tâm trí của ngài. Khi ngài an trú sau khi đã lặp lại[197] Tam Qui (Ðức Phật) giải thích thêm năm điều tu luyện khác nữa dưới dạng Tam Qui thể hiện và lợi ích Tam Qui đó đem lại và rồi ngài nói tới phương pháp thực hiện Tam Quy, với tâm tịnh tín sau khi đã cân nhắc điều này, chàng trai nói. “Tốt lắm, Bạch thầy, con phải thực hiện Tam Qui đó’ và đang khi nhập niệm chính những phẩm chất liên kết với Tam Bảo, chàng tiếp tục tiến tới trên chánh đạo đó; đang khi biết rõ hành vi thiện ở mức độ đủ để khởi sanh nơi thiên giới, Ðức Phật đã đi thẳng trở về cánh rừng Kỳ Viên.

Tuy nhiên với tâm tịnh tín liên quan đến nhận thức những phẩm hạnh thiện liên kết với Tam Bảo, chàng trai đã an trú Tam Qui.[198] Trong đó chàng đã nẩy sanh suy nghĩ tiến hành như sau, “Ta phải chạy tới qui y Tam Bảo”, và thọ ngũ giới thông qua quyết định nắm giữ ngũ giới theo cách Ðức Phật đã đề cập tới. Ðang lúc chàng trai đến qui y Tam Bảo trong khi vẫn nhập định theo cùng một cách thức đó những phẩm hạnh thiện liên kết với Tam Bảo thì những tên trộm đó đã bao vây chàng trên đường đi. Và vì chàng không để ý đến những tên trộm đó và vẫn tiếp tục đi trên đường, nhập định những phẩm chất thiện liên quan đến Tam Bảo đó. Bấy giờ có một tên cướp đang đứng nấp trong một bụi cây đã thình lình[199] bắn chàng trai một mũi tên tẩm độc [234] và đã kết thúc sanh mệnh của chàng và chộp lấy sâu tiền vàng kahāpaṇas biến dạng[200] cùng với những tên tòng phạm. Tuy nhiên khi chàng trai qua đời, anh ta đã tái sanh nơi cõi Tam Thập Tam, như tỉnh dậy khỏi một giấc mơ, vây quanh chàng là một đoàn tuỳ tùng khoảng một ngàn tiên nữ, toàn thân được trang điểm với một số đồ trang sức[201] chất đầy tới sáu mươi chuyến xe. Những tia sáng thiên chúng đó lan toả khắp cả một vùng lên tới hai mươi do tuần.

Bấy giờ khi họ nhìn thấy chàng trai trẻ[202] đó đã chết, những cư dân thành Setavya[203] đã trẩy đến thành Setavya và báo cho mẹ và cha của chàng trai biết, trong khi đó những cư dân thành Ukkattha lại chạy tới thành Ukkattha và nói với vị bà là môn Pokkharasati. Khi nghe thấy tin này cha mẹ họ hàng và bạn bè của chàng trai[204] và cả thầy bà la môn Pokkharasati cùng với đoàn tuỳ tùng của họ, đã đi tới điểm đó khóc lóc với bộ mặt đẫm lệ; và thực tế toàn bộ dân chúng cư ngụ tại Setavya, Ukkhattha và Icchanangala[205] đã tề tựu đông đủ tại đó. Quả là một cuộc tụ tập rất đông người. Thế rồi cha mẹ chàng trai đã cho dựng[206] một đài hỏa thiêu không xa con đường đó là bao và bắt đầu thực hiện nghi thức hỏa táng. Thế rồi Ðức Phật nghĩ. “ Khi ta tới (đó) thì Chattamanava sẽ đến đảnh lễ ta và sau khi đã khiến hắn kể lại sự việc hắn đã làm. Trước tiên ta sẽ đặt quả phước đức đó rồi diễn giải Phật Pháp - như vậy những con người đó sẽ thấu triệt Phật Pháp”. Nghĩ thế rồi, ngài đi tới địa điểm đó kèm theo là một đoàn tùy tùng chư vị Tỳ khưu rất đông và rồi ngài ngồi dưới một gốc cây, tỏa ra luồng sáng sáu màu của vị Đức Phật. Khi vị tiên Chattamanava[207] suy nghĩ về chính thù thắng của mình, trong khi suy xét lý do tạo ra thù thắng đó, chàng đã nhận ra việc đến quy y Tam Bảo và thọ ngũ giới; tâm chàng tràn ngập kinh ngạc và với tâm tịnh tín và thành kính Ðức Thế Tôn, nghĩ rằng, “là cách công nhận điều gì đã được thực hiện ngài phải đảnh lễ Ðức Thế Tôn và tăng đoàn các vị Tỳ khưu và thể hiện nơi chúng sanh những phẩm hạnh thiện kèm theo với Tam Bảo. Biến toàn bộ điểm đó thành một cánh rừng ánh sáng chàng trai đã xuất hiện cùng với thiên cung, xuống khỏi thiên cung đó và sau khi đã tiến lại gần có đoàn tuỳ tùng đông đảo đi kèm chàng trai đã hiện rõ nguyên hình, [235] ảnh lễ Đức Phật, rồi xụp đầu lạy xuống tận chân vị trưởng lão. Và rồi đứng sang một bên thực hiện kính lễ anjali. Khi dân chúng nhìn thấy chàng trai đầy kinh ngạc và nghĩ rằng. “Chàng ta là ai? Liệu có phải là chư thiên hay Phạm Thiên?” thế rồi họ tiến lại vây quanh Ðức Thế Tôn để thể hiện được phước đức chàng đã làm Ðức Thế Tôn đã hỏi thiên tử đó như sau:

Cả mặt trời cũng không chiếu sáng bầu trời[208] như vậy, đến cả mặt trăng lẫn sao Phussa[209] không sánh bằng[210] đại ánh quang của chàng được – Giờ đây ngươi là ai hỡi vị giáng trần từ thiên giới?

Rồi[211] ánh hào quang này dập tắt (cắt đứt) mọi tia nắng[212] khắp hai mươi do tuần lan toả sáng hào quang – hơn thế nữa: ngay cả[213] lúc bóng đêm lan toả khắp lại sáng ngời tựa lúc ban ngày: ôi thiên cung tinh tuyền, thanh tịnh vô cùng tuyệt mỹ.

Với hoa sen padumas và hoa súng pundarikas khoe đủ màu đủ sắc, trải khắp muôn nơi tô điểm đẹp vô ngần che phủ khắp nơi với mạng lưới vàng ròng óng ả, vô tỳ vết chiếu sáng một khoảng không tựa vầng nhật trong sáng[214].

Choáng đầy bầu trời với muôn vàn tinh tú, bao phủ khắp những xiêm y tựa tia sáng hồng đỏ vàng, và khiến toả hương ngát một hương thơm bách huệ rồi chiên đàn[215] rồi bảy tiên nữ nước da óng ánh tựa vàng ròng đông đúc tựa ngàn sao rực rỡ.

Lại xuất hiện muôn vàn tiên đồng ngọc nữ[216]với sắc diện tươi tắn tựa vầng trăng rồi tiếp đến những kẻ với tâm tịnh tín được trang điểm sáng chói tựa vàng ròng, theo làn gió tỏa thiên hương phảng phất[217] khắp nơi, như che phủ ánh quang vàng ròng rực rỡ.[218]

Việc tu thân nào đã đem quả lớn thế này? Do quả nghiệp nào chàng đã hóa sanh[219] tại nơi đây? [236] và bằng cách nào chàng đã biết thiên cung hào nhoáng thế – nào ta đã hỏi, hỡi thiên tử hãy giải thích ngắn gọn từng chi tiết.

Về điểm này:</