|
THERAVĀDA PHÁP ĐỘ A Treatise on the Paramis,
from the Commentary to the Cariyapitaka
LỜI NÓI ĐẦU. Trong bốn bộ kinh chính [1] của Tạng kinh (Suttantapiṭaka), mối quan tâm hàng đầu của Phật giáo là đạt đến Nípbàn nhờ tu tập bát chánh đạo. Trong các bộ kinh này, Đức Phật giảng thuyết giai đoạn cuối cùng để đi đến giải thoát, đặc tính cấp bách này được hiển lộ đặc biệt so với các đặc tính khác và có lẽ không có đặc tính nào thật nổi bật hơn so với đặc tính “cấp bách” này, Đức Phật mong muốn các đệ tử đạt đến mục tiêu cuối cùng là quả vị Vô sinh bất tử. Như người phát hiện ra cái khăn quý của mình đang bị lửa đốt cháy, ngay lập tức tìm cách dập tắt ngọn lửa. Cũng vậy, Ngài chỉ dạy đệ tử nổ lực dập tắt những ngọn lửa ái (taṅhā) để đạt đến trạng thái an toàn tuyệt đối, hưởng lạc Nípbàn trọn vẹn. Những bài kinh cổ sơ có đề cập đến ba hạng người đạt đến trạng thái giải thoát trọn vẹn [2] , đó là: - Đức Phật Chánh giác (Sammāsambuddha): Vị tự chứng đạt pháp vô sinh bất tử, không thầy chỉ dạy, đồng thời có khả năng dạy người khác chứng đạt quả vị này. Tức là Ngài có lời giáo hóa (sāsanā). - Đức Phật Bíchchi (Paccekabuddha- Đức Phật Độc Giác): Tuy Ngài tự chứng đạt, không thầy chỉ dạy, nhưng Ngài không có khả năng giáo hóa kẻ khác chứng đạt pháp Bất tử, nên Ngài không có giáo thuyết (sāsanā). - Đức Alahán (Arahanta). Vị chứng đạt pháp Bất tử nhờ sự chỉ dẫn của Đức Chánh giác và sau đó giảng dạy lại cho người khác tùy theo khuynh hướng và khả năng của mình. Các Ngài là đệ tử của Đức Chánh giác. Vì thời gian và sự nổ lực tu tập của ba bậc có sai khác nhau, nên phẩm vị có khác nhau là như thế. Và không tìm thấy hạng nào vượt trội hơn ba bậc này, nên ba bậc Thánh nêu trên được xem là mẫu mực lý tưởng, tối thiểu cũng phải đạt đến phẩm vị Alahán. Tất cả ba bậc Thánh nêu trên đều giống nhau về sự chứng đạt Nípbàn, nhưng mỗi bậc lại khác nhau ở những khía cạnh riêng biệt về trí thông đạt (paṭivedhañāṇa)..., đó là do khuynh hướng và hành trình với phương thức (yāna) [3] khác nhau. Trường phái Theravāda (Nguyên Thủy), một trong các trường phái cổ xưa nhất so với các trường phái trong Phật giáo. Theo sự chỉ dạy của Đức Phật lịch sử, lý tưởng của trường phái này là “chứng đạt Alahán”, đó là tầm quan trọng nhất được đặt trên nền tảng yên tịnh, lý tưởng này thường được mô tả trong các bài kinh Pāli. Những lý tưởng khác như “chứng đạt Độc giác Phật, chứng đạt Chánh giác Phật” vẫn được đề cập đến, nhưng lại là một phạm trù khác, nên không mô tả chi tiết. Những trường phái khác như Sarvāstivāda (Hữu bộ) và Mahāsaṅghika (Đại chúng bộ), trong khi ủng hộ tính ưu việt của các vị Thánh Alahán và lý tưởng Alahán, nhưng cũng quan tâm đến những lý tưởng khác như “lý tưởng Bíchchi Phật”, “lý tưởng Chánh giác Phật”, những lý tưởng này vẫn có thể đạt được đối với những người có ước vọng mãnh liệt, theo đuổi các mục tiêu đó. Do vậy, họ cũng thừa nhận 3 phương thức (yāna) hay ba đường lối dẫn đến thông đạt. Tất cả đều có giá trị nhưng mỗi phương thức có khó khăn riêng, thời gian dài ngắn khác nhau, đồng thời có tác dụng hổ tương lẫn nhau. Trong tất cả các trường phái xưa, các vị Giáo thọ sư tiền bối, các tư tưởng gia, các thi sĩ cùng nỗ lực điền vào lịch sử của ba bậc giác ngộ với các câu chuyện tiền thân, đặc biệt là “tiền thân Đức Phật”. Vào những thời điểm quá khứ, tiền thân các vị ấy tạo ra nền tảng cho những thành tựu trong tương lai, nỗi bật nhất là vị Bồtát Chánh giác, đó là hình bóng của Đức Phật Chánh giác tương lai, là người tìm ra “con đường dẫn đến thông đạt pháp”. Đức Chánh giác là người chủ các pháp, là bậc đáng tôn kính và nễ vì hơn tất cả mọi sinh chúng. Dần dần một tác phẩm được hình thành [4] , bắt đầu miêu tả làm nổi bật lên sự phát triển của Bồtát hạnh hay “Phật Chánh giác tương lai” với con đường tu tập đầy cam go. Theo cách này, dáng vẻ của vị Bodhisattvā (Bồtát), người khao khát thành Phật Chánh giác trong tương lai nổi bật như vầng thái dương trong đời sống Phật giáo phổ biến. Cực điểm của sự cách tân này là sự xuất hiện của trường phái Mahāyāna (Đại thừa - còn được hiểu là “Đại phương tiện” hay “cổ xe lớn”) vào khoảng cuối thế kỷ thứ I trước Tây lịch. Theo Mahāyāna thì: Trong ba phương thức (yāna) giác ngộ, thì phương thức của Bồtát Chánh giác là tối thắng, hai hạng còn lại chỉ là những cách mà Đức Phật nghĩ ra, chỉ cho những đệ tử ít giỏi hơn tu tập, để hoàn thiện đi đến thành Phật Chánh giác trong tương lai, hai phương thức: Độc giác thừa, Thinh văn thừa chỉ có giá trị lý tưởng trong tâm. Trường phái Theravāda, với khuynh hướng “theo đúng truyền thống” (còn gọi là bảo thủ) và cách ly với “sự cách tấn” của các trường phái khác. Tuy vẫn chấp nhận những thay đổi vốn phải có trong thế giới Phật giáo, nhưng Theravāda vẫn bảo toàn các bài pháp trong kỳ kết tập lần I, không thay đổi khung cơ bản của Pháp. Tuy nhiên, hình bóng của vị Bồtát đã có trong trường phái Theravāda, thậm chí có trước khi trường phái cách tân Mahāyāna ra đời. Hình bóng vị Bồtát đã bắt đầu xâm nhập vào môi trường tâm linh lẫn văn hóa Phật giáo trong hệ thống giáo thuyết của Theravāda. Hai tiêu chí trong giáo thuyết của Đức Phật, dường như tạo phôi thai cho sự phát triển này. Một là: Thực tế Đức Phật đã sử dụng từ “bodhisattvā (Bồtát)” để chỉ chính mình vào lúc trước khi giác ngộ, hoặc ngay từ khi còn ở cõi trời Đẩu Suất (Tusitadeva), trước khi xuống nhân loại. Hai là: Ngài thừa nhận có nhiều vị Phật trong quá khứ, Đức Sakya Gotama không phải là dáng vẻ duy nhất trong bảng phả hệ của vũ trụ, Ngài chỉ là nhân vật xuất hiện mới nhất so với những vị Phật đã thành tựu giác ngộ và đưa nhiều chúng sinh ra khỏi chướng ngại của khổ luân hồi. Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya) có đề cập đến tên của sáu vị Phật trước Đức Phật Gotama (D ii. 2) và cũng chỉ ra Bồtát Metteyya, Đức Chánh giác tương lai, người sẽ thắp lại ngọn đèn chánh Pháp sau khi bị chôn lấp trong bóng tối hàng ngàn kỷ nguyên phía trước ( D iii. 76). Hai tiêu chí này ám chỉ đến sự tồn tại của “các vị Phật tiềm năng - Phật Chánh giác tương lai” hay ám chỉ đến vị Bồtát đang tự hoàn thiện qua vô vàn kiếp sống để đạt đến đỉnh giác ngộ tối thắng. Những thử thách và thành tựu của vị trở thành Phật Chánh giác của chúng ta, được ghi nhận trong các câu chuyện Bổn sanh, đề cập đến cách hành xử của Bồtát trong các kiếp quá khứ, đồng thời có liên hệ đến tiền thân của các vị Thánh đệ tử Alahán. Việc Bồtát bước vào con đường này khi nào và ra sao? thì có ghi trong Phật Sử (Buddhavaṃsa), là bản có thêm sau này cho Tạng Kinh (Sutta Piṭaka). Trong bản Phật sử này, câu chuyện Bồtát Sumedha (Thiện Huệ) đã trở thành tiền đề kiểu mẫu cho tất cả sự phát triển sau này của vị Bồtát Chánh giác. Theo câu chuyện này, trong vô số kiếp trái đất xa xưa, Bồtát của chúng ta là ẩn sĩ Sumedha, đã ước nguyện ra lời (abhinīhāra) dưới chân Đức Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng), vị Phật thứ 24 khi xưa. Khi đó cửa chứng đạt quả Chánh giác được mở ra cho Bồtát, để Ngài có thể trở thành Phật Chánh giác trong tương lai, cứu khổ (tế độ) cho nhân loại lẫn chư thiên. Đức Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Bồtát Sumedha, xác nhận sự thành công trong tương lai của Bồtát. Sau khi được Đức Nhiên Đăng thọ ký, Bồtát quán xét về những pháp cần tu tập để đạt được mục đích của mình. Mười pháp balamật hình thành, đó là những nền tảng ban đầu để Bồtát tu tập, tạo điều kiện cho “những pháp trợ đạo” (bodhisambhāra) sinh khởi sau này. Và mười balamật được ghi nhận trong bản kinh Phật sử này. Trường phái Theravāda vẫn biết được hành trình đầy cam go của vị Bồtát Chánh giác, theo quan điểm của Theravāda, vị trí Bồtát Chánh giác vượt trội, chiếm ưu thế so với những vị Bồtát Bíchchi, Bồtát Thinh văn, và “con đường này chỉ dành cho những cá nhân phi thường và hiếm có”. Nhưng do điều này không được tìm thấy trong các ghi chép cổ xưa về những bài pháp của Đức Phật nên những ai là đệ tử Đức Phật, thường được khuyên “nên làm theo những chỉ dẫn của Đức Phật”, là “tu tập bát chánh đạo để thành tựu Nípbàn”. Do vậy, phần chủ yếu văn học Pāli của trường phái Theravāda, chú trọng giải thích sâu và chi tiết về “bát chánh đạo” cùng những phân nhánh của bát chánh đạo. Trong khi đó, tu tập các balamật chỉ ở bề rộng và khái quát. Tuy nhiên, thời gian trôi qua, có lẽ một phần do ảnh hưởng của Mahāyāna (Đại thừa), lý tưởng của Bồtát được tăng thịnh trong tâm của các Phật tử, vì thế cần phải có tác phẩm giải thích cách thực hành các pháp của con đường Pāramitā (balamật – hay con đường đến bờ kia) mà không chệch hướng, không ra khỏi giáo thuyết của Theravāda. Các công trình giải thích chi tiết về sự nghiệp của Bồtát có rất nhiều trong các trường phái Mahāyāna, vì đây là mối quan tâm chính của các trường phái đó. Trong khi đó Theravāda không có tác phẩm nào giải thích rộng về hành trình tu tập các balamật của Bồtát Chánh giác. Hình như để đáp ứng nhu cầu này, Ngài Āraciya Dhammapāla soạn tập Pāramī (Pháp độ), được tìm thấy ít nhất ở hai nơi trong văn học Pāli, một phần hoàn chỉnh trong Cariyāpiṭaka Aṭṭhakathā ( Sớ giải Hạnh Tạng) và một phần ngắn gọn trong ṭikā hay phụ chú giải của bài kinh Brahmajāla Sutta (kinh Phạm võng trong Trường bộ kinh – Nd). Tự tác phẩm là bài luận về “những thành viên trong thị tộc của Bồtát Chánh giác”, đã nhiệt tâm cùng sự thiện xảo của mình, khi tu tập pháp balamật làm duyên cho “những pháp trợ đạo” sinh khởi, đạt được sự giác ngộ cao tột. Những phụ chú giải của các bài kinh (suttantika) được định rõ cho những ai mong muốn theo hướng đi Bồtát phải thực hành. Trong tác phẩm có trích dẫn từ nhiều bài kinh để xác định những cách tu tập thích hợp với mục đích của mình, như chính kinh điển đã được ghi chép. Theo trường phái Mahāyāna (Đại thừa), đề cập đến “phương thức giác ngộ tối thắng” (mahābodhiyāna) không phải chỉ biểu thị sự vĩ đại trong sự nghiệp của Bồtát, mà còn là “sự cao thượng trong mục đích và khả năng giúp cho nhiều chúng sinh được giải thoát”. Chủ đề chính của quyển sách này là: “Các balamật là nền tảng cho các pháp trợ đạo”. Từ pāramī dẫn đến parama (tối thắng), vì thế balamật ám chỉ đến sự cao quý của các pháp mà Bồtát đã tu tập trong quá trình phát triển tâm linh lâu dài. Những từ cùng gốc pāramitā, được dùng nhiều trong kinh điển Mahāyāna (Đại thừa) cũng như Pāli thì đôi khi được giải thích là pāram + ita “đến bờ kia”, chỉ ra phương diện thâm sâu của những pháp này. Danh sách các balamật trong truyền thống Pali có khác với các bản quen thuộc trong các tác phẩm Sanskrit có trước khi Mahāyāna xuất hiện. Tác giả của chúng ta chỉ ra rằng hai bản danh sách này có thể có liên quan với nhau (xem phần 12), chúng có sự trùng hợp với nhau về nội dung (theo từng khía cạnh), chúng chỉ khác nhau về số lượng, điều này cho thấy cả hai có cùng một gốc, trước khi tách ra thành hai truyền thống. Danh sách balamật trong các bản kinh Sanskrit là: Bố thí, trì giới, nhẫn nại, tinh tấn, thiền và tuệ. Các tác phẩm Pāli, bao gồm cả những tác phẩm trước thời Mahāyāna đưa ra một bản danh sách 10 balamật: Bố thí, trì giới, xuất ly, tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, quyết định, từ và xả. Từ sáu balamật ban đầu của kinh Sanskrit, sau đó kinh điển Mahāyāna thêm vào bốn: xuất ly, thiện xảo, thần thông và thắng trí - để phối hợp một một danh sách các balamật gồm 10 trạng thái hướng đến thành Phật Chánh giác tương lai của Bồtát. Không giống như Mahāyāna, Theravāda không bao giờ phát triển một học thuyết về các trạng thái nào khác, dù điều đó có thể hoàn toàn để xếp loại các balamật vào một ba cấp độ là: nền tảng, bậc trung và tối thắng (xem phần 11). Tác phẩm này dẫn nhiều nguồn, cả Theravāda và Mahāyāna và do vậy mà có lẽ là “chứng cứ duy nhất” cho tác phẩm Theravāda cổ xưa, một tác phẩm “có họ hàng phía bắc”; tuy nhiên, về giáo pháp thì tác phẩm này không bao giờ đi chệch hướng khỏi giáo thuyết Theravāda. Chính mười balamật là từ Phật Sử (Buddhavaṃsa) khi thảo luận về đại ước nguyện (abhinīhāra) với tám đặc tính của vị Bồtát được thọ ký từ Đức Chánh giác. Tất cả điều này là một phần của truyền thống Theravāda mà theo thời gian tác phẩm này được soạn ra và dễ dàng lôi cuốn những ai muốn trở thành Bồtát Chánh giác trong tương lai. Các nguồn Pali khác – kinh điển, Jātaka (câu chuyện tiền thân), các tác phẩm kinh điển sau này như Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)... đều được trích dẫn trong tác phẩm này. Phương pháp luận cơ bản của các chú giải là giải thích 10 balamật theo bốn chi phần là: đặc tính, chức năng, sự hiển lộ và nhân gần ( xem phần 5). Di sản của truyền thống văn học khẩu truyền của nhiều vị thầy Pāli sau này cũng được tìm thấy với nhiều quan điểm thể hiện trong ba giai đoạn tu tập từng balamật (xem phần 11), trong sự tương quan của bốn nền tảng với những giai đoạn khác nhau trong sự nghiệp của Bồtát ( xem phần 12) và trong sự phân loại thời gian cần thiết để hoàn tất các balamật ( xem phần 14). Có lẽ do ảnh hưởng của trường phái cổ khác, Sarvāstivāda (Hữu bộ) chỉ đề cập sáu balamật (xem phần 12). Tác phẩm chính Mahāyāna được tác giả sử dụng là Bodhisattvabhūmi, chương 15 của Yogācārabhūmi, kinh điển của trường phái Yogācāra của Maitreyanātha, vị thầy của Ngài Asanga (Vô trước). Bodhisattvabhūmi có đóng góp vào trong những phần tu tập các balamật, đặc biệt là balamật đầu tiên, phần bốn sự trói buộc của bố thí và trong phần thực hiện đặc biệt có được từ các balamật. Tuy có sử dụng những bản nêu trên, nhưng tác giả đã làm chệch hướng khỏi các đặc tính Mahāyāna một cách đặc biệt, làm cho chúng phù hợp với giáo thuyết của Theravāda. Sự ảnh hưởng của Mahāyāna có thể thấy rõ trong tác phẩm này trong: “phần nhấn mạnh về bi và thiện xảo”, “trong những lời nguyện mang lợi ích cho tất cả chúng sinh” và trong phần nói rằng Bồtát làm cho chúng sinh “đến và đạt được độ chín mùi trong ba phương thức”... Như chúng tôi đã đề cập về học thuyết của các trường phái, nhưng tác phẩm này vẫn tuân thủ theo giáo thuyết của Theravāda. Về phần tuệ balamật, tuy văn học Prajñāramitā (Bátnhã balamật) có đề cập đến, vì đó là cốt lõi của Phật giáo mà tất cả các trường phái đều phải có. Nhưng trong tác phẩm này không bàn đến Nípbàn, vòng luân hồi, ba thân phật (báu thân, pháp thân và hóa thân), Duy thức học (ám chỉ phần Alạidathức – Nd), “ước nguyện thành bậc Chánh giác của vị Thánh Alahán” hay của “Độc giác Phật”, cũng không có bất kỳ những quan điểm nào khác, nhằm mục đích “phân biệt với chủ thuyết của Mahāyāna”. Thậm chí, “sự trống rỗng (suññatā) trong các bài kinh Bátnhã balamật (Prajñāramitā) của Mahāyāna” cũng không thảo luận đến. Phần thảo luận về tuệ balamật, hoàn toàn theo các bài kinh Pāli và Thanh Tịnh Đạo, nêu rõ rằng “Bồtát phải cân bằng tuệ, bi, thiện xảo và phải trì hoãn con đường đến đạo Siêu thế cho đến khi các pháp trợ đạo được chín mùi đầy đủ. Nên lưu ý rằng trong truyền thống Theravāda, các balamật không được đề cập đến như là phương pháp tu tập đặc biệt cho riêng các vị Bồtát mà là những pháp hành cho tất cả những ai muốn giải thoát cần phải tu tập, cho dù là thành Phật Chánh giác, Độc giác hay Thánh Thinh văn. Điều phân biệt Bồtát Chánh giác với hai bậc kia là gì? Đó là mức độ tu tập các balamật và độ dài thời gian mà các Ngài phải có. Nhưng chính các balamật là những pháp cần thiết để giải thoát mà tất cả ba hạng Bồtát cần phải tu tập trong mức độ tối thiểu cần phải có, cho đạo quả giải thoát sớm sinh khởi. Bản dịch này dựa vào bản Sớ giải Cariyāpiṭaka Aṭṭhakathā, trong ấn bản Kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ 6 bằng tiếng Miến. Bản này được cô đọng lại vài chỗ theo giới hạn kích cở của một quyển sách nhỏ. Về bản dịch đầy đủ, độc giả xem phần dịch của tôi về bài kinh Brahmajāla Sutta và chú giải “The Discourse on the All-embracing net of views” (BPS 1978, 1992), phần IV. Tỳ khưu Bodhi -ooOoo- PHÁP ĐỘ Bây giờ chúng tôi giải thích chi tiết về các balamật (pāramīs) từ các bài kinh để chư Phật tử nắm bắt, cho những ai thật tâm tầm cầu sự giải thoát, sẽ nương theo lời dạy của Đấng Đại giác (mahābodhiyāna), tu tập những pháp cần thiết dẫn đến giác ngộ, đồng thời phát triển kỹ năng của mình khi tu tập. Sau đây là các câu hỏi: 1- Pāramīs [5] là gì? 2- Với ý nghĩa nào được gọi là balamật? 3- Balamật có mấy? 4- Trình tự của các balamật như thế nào? 5- Các đặc tính, chức năng, sự hiển lộ và các nhân gần của các balamật? 6- Duyên của balamật là gì? 7- Nhơ bẩn (āsava) của balamật là gì? 8- Sự trong sạch balamật là gì? 9- Balamật đối nghịch với pháp gì? 10- Thực hành balamật như thế nào? 11- Balamật được phân tích như thế nào? 12- Các balamật kết hợp ra sao? 13- Các balamật được thực hiện theo các cách nào? 14- Mất bao lâu để thực hiện balamật? 15- Những lợi ích của balamật? 16- Quả của balamật? Giải đáp: 1- Paramīs là gì? Balamật là những đức tính cao quý như bố thí, trì giới..., chúng đồng hành cùng với tình thương (karuṇā), thực hiện với phương thức khéo léo một cách tốt đẹp (kosalla – thông thạ0, thiện xảo), đồng thời không bị hư hoại bởi ái (taṅhā), ngã mạn (māna) và tà kiến, [6] (thông thường pāramī được dịch là pháp độ - Nd). 2- Với ý nghĩa nào được gọi là pháp độ? Các vị bodhisattvā (Bồtát), là bậc đại nhân, là bậc cao tột (parama) trong các chúng sinh, vì các Ngài có những phẩm chất tốt đẹp khi thực hành bố thí, trì giới.... cùng cách hành xử của các vị ấy. Bồtát là vị vượt trội hơn người khác, do vậy mà Ngài trở thành cao thượng (paratī ti paramo). Bồtát là người thực hiện và gìn giữ những gì có phẩm chất cao thượng như bố thí, trì giới...; đồng thời cách hành xử của vị Bồtát cũng mang tính chất cao thượng, qua các việc làm: Bố thí, trì giới... nên gọi là pāramī . 3- Pháp độ có mấy? Nói ngắn gọn thì balamật có mười, được ghi nhận trong kinh điển với đặc tính riêng biệt. Đức Sāriputta (Xálợiphất) có bạch hỏi: “Bạch Đức Thế Tôn, một vị Bồtát có bao nhiêu phẩm chất?” “Này Sāriputta, một vị Bồtát có 10 phẩm chất. Đó là gì? Này Sāriputta, bố thí là phẩm chất của Bồtát. Giới (sīla)..., xuất ly (nekkhamma)..., tuệ (paññā)..., tinh tấn (viriya)..., nhẫn nại (khantī)..., chân thật (sacca)..., quyết định (adhitthāna)..., từ (mettā).... Xả (upekkhā) là phẩm chất của Bồtát”. [7] Nhưng một số chỗ lại ghi có sáu, đó là nói theo cách tổng quát, chúng tôi sẽ giải thích ở phần 12. 4- Trình tự của các balamật như thế nào? Ở đây “sự trình tự” có nghĩa là trình tự theo lời dạy. Sự trình tự theo lời dạy này bắt nguồn theo một trình tự các balamật được thực hiện, hoặc là : “sự trình tự này theo các balamật được suy gẫm”. [8] Balamật nào được suy gẫm rồi thực hành trước tiên, balamật ấy được thuyết giảng trước Ở đây, bố thí (dāna) được Bồtát suy nghiệm rồi thực hành trước tiên, nên được thuyết giảng trước, bố thí giúp cho giới sinh khởi để dễ dàng tu tập, như: “Bố thí lại có giới hạnh thì có quả và lợi ích to lớn”, vì vậy giới được đề cập đến ngay sau bố thí. Giới giúp cho xuất ly sinh... xuất ly giúp tuệ sinh... tuệ giúp tinh tấn sinh... tinh tấn giúp nhẫn nại sinh... nhẫn nại giúp chân thật sinh... chân thật giúp quyết định sinh... quyết định giúp từ sinh... Và Từ (mettā) giúp Xả (upekkhā) sinh. Từ tâm có xả thì có quả và lợi ích to lớn; do vậy xả được đề cập đến ngay sau Từ. Xả lại ẩn tàng Bi (karunṇā) và khi có Bi thì có Xả. Một số người có thể hỏi: “Làm sao Bồtát, bậc có tấm lòng bi mẫn với chúng sinh lại có thể nhìn chúng sinh bằng tâm Xả? Một số vị giáo thọ sư nói: “Đôi khi các vị ấy thể hiện tâm xả đối với chúng sinh khi cần phải làm vậy, nhưng thật ra Ngài vẫn có tâm thương tưởng đến chúng sinh ấy”. Nhưng một số vị khác nói: “Các vị Bồtát không thể hiện tâm xả với chúng sinh, mà thể hiện với những nghiệp bất thiện của chúng sinh ấy đã gây ra cho Ngài”. Một cách giải thích khác về “sự trình tự” là: a- Bố thí được nêu lên đầu tiên vì: *- Bố thí có tính phổ biến với tất cả chúng sinh, thậm chí người bình thường cũng tu tập pháp bố thí. *- Bố thí cho quả kém nhất (so với các balamật còn lại). *- Bố thí là pháp dễ thực hiện nhất. b- Giới được nêu lên ngay sau bố thí vì: *- Giới làm trong sạch cả người thí lẫn người nhận. *- Để chỉ ra rằng trong khi bố thí mang lại lợi ích cho người thì trì giới không mang đến tai họa cho người. *- Để chỉ ra sự an lành (giữ giới), ngay sau khi có hành động tích cực (là bố thí). *- Để chỉ ra nhân thành tựu trạng thái thuận lợi trong kiếp tương lai ngay sau nhân thành tựu tài sản (là bố thí). [9] c- Xuất ly (nekkhamma) được đề cập đến ngay sau giới vì: *- Xuất ly giúp hoàn thiện việc giữ giới. *- Để đưa ra những lối hành xử trong tâm ngay sau lối hành xử tốt qua thân và khẩu. *- Vì thiền (jhāna) dễ thành tựu với người có giới trong sạch. *- Để chỉ ra rằng việc thanh lọc những khuynh hướng (āsaya) thấp hèn của một người, qua việc từ bỏ ác, bất thiện của thân - khẩu. Hay qua sự hiểu biết (payoga) sẽ từ bỏ các ý bất thiện trong tâm. *- Để nêu lên sự từ bỏ các ám ảnh trong tâm ngay lập tức sau khi từ bỏ không phạm về thân và khẩu. [10] d- Tuệ được đề cập đến ngay sau xuất ly vì: *- Tuệ giúp cho xuất ly được hoàn thiện và trong sạch. *- Để chỉ ra rằng: khi không có thiền (jhāna) thì không có tuệ, vì định là nhân gần của tuệ và tuệ là sự hiển lộ của định. *- Để chỉ ra “xuất ly dục là nhân gián tiếp của tuệ, vì xuất ly dục là nhân gần của định, định sinh tuệ”. *- Để chỉ ra rằng “tuệ trực tiếp mang lợi ích đến người qua năng lực thiền định”. e- Tinh tấn được nêu lên ngay sau tuệ vì: *- Chức năng của tuệ được hoàn thiện khi có tinh tấn. *- Để chỉ ra việc làm phi thường của Bồtát vì lợi ích của chúng sanh, sau khi Ngài hiểu rõ sự trống rỗng (suññatā) đối với người nhận lẫn người cho. *- Để chỉ ra “trí sinh tinh tấn”. *- Để khơi dậy tinh tấn ngay sau khi cân nhắc cẩn thận, theo câu nói “Hành động có suy nghĩ cẩn thận sẽ mang đến kết quả tuyệt vời”. f- Nhẫn nại được đề cập đến ngay sau tinh tấn vì: *- Nhẫn nại được hoàn thiện do tinh tấn như nói: “Người có nhẫn nại (chịu đựng), khơi dậy được tinh tấn của mình thì vượt qua khổ cảnh”. *- Nhẫn nại là vật trang trí của tinh tấn như nói: “Nhẫn nại của người có tinh tấn thì sáng chói”. *- Để chỉ ra nền tảng “nhân cho định ngay sau nền tảng tinh tấn”, vì loại trừ được sự tinh tấn quá mức, hoặc từ sự suy gẫm pháp. *- Để chỉ ra sự quân bình của người có tinh tấn, người có nhẫn nại sẽ không hoạt động quá sức của mình trong mọi công việc. *- Để chỉ ra rằng Bồtát không có tham muốn được tưởng thưởng, luôn hành động vì lợi ích của người khác. Không có tham, sân, si khi Ngài quán xét Pháp theo đúng thực tướng. *- Để chỉ ra rằng Bồtát phải chịu đựng những khổ nạn do người khác tạo ra, thậm chí khi Ngài hoàn toàn vì lợi ích của người khác. g- Chân thật được nêu lên ngay sau nhẫn nại vì: *- Nhẫn nại được hành trì kéo dài nhờ thấy được sự thật. *- Sự nhẫn nại là chịu đựng những sai trái do người khác gây ra, rồi tiếp đến chỉ ra sự chân thật với lời nói của người khác để giúp họ. *- Để chỉ ra rằng vị Bồtát nhờ nhẫn nại mà không bị chao đảo khi chống đối lại những chướng ngại, nhờ lời nói chân thật nên không từ bỏ kẻ nghịch. *- Để chỉ ra sự chân thật giúp tuệ phát triển, nhờ quán xét đến sự trống rỗng của chúng sinh. h- Quyết định được đề cập đến ngay sau chân thật vì: *- Chân thật được hoàn thiện nhờ Quyết định. Tránh không làm điều sai; điều tốt được hoàn thiện, khi quyết định của người ấy không bị dao động. *- Trước tiên chỉ ra sự không dối trá trong lời nói, kế đến chỉ ra sự cam kết không thay đổi lời nói, vì Bồtát luôn nói chân thật để thực hiện lời nguyện bố thí..., không hề dao động trước bất cứ sự kiện nào. *- Để chỉ ra rằng “ngay sau tuệ thấy rõ sự thật”, quyết tâm thành đạt các pháp giác ngộ cần thiết (bodhisambhāra); với những ai nhận biết “những pháp cần thiết dẫn đến giác ngộ như thật” sẽ không do dự khi đối đầu những pháp đối nghịch, mau chóng hoàn thiện những pháp cần thiết này. [11] i- Từ được đề cập đến ngay sau Quyết định vì: *- Từ làm cho quyết định được hoàn hảo để hành động vì lợi ích của người khác. *- Để liệt kê hành động vì lợi ích của người khác ngay sau khi quyết định làm điều đó, vì “người quyết định hướng theo những bodhisambhāra trú trong tâm Từ. *- Hành động vì lợi ích của người khác không nao núng, chỉ khi quyết định vững chắc và có tâm từ (tâm thương mến hay không giận hờn). k- Xả được đề cập đến ngay sau Từ vì: *- Xả làm cho Từ được trong sạch. *- Để chỉ ra rằng phải giữ được sự điềm tĩnh đối với những hành động sai trái của người khác, và hành động vì lợi ích của người ấy. *- Đề cập đến sự phát triển tâm Từ, tiếp đến là phát triển phẩm chất có được. *- Để cho thấy giới tuyệt vời của Bồtát, tâm luôn vô tư thậm chí với những ai mang điều tốt đến cho Ngài. Do vậy, nên hiểu sự trình tự của các pāramī như đã giải thích. 5- Các đặc tính, chức năng, sự hiển lộ và nhân gần của các balamật? Trước tiên, tất cả các pāramī có điểm chung là: - Đặc tính: Mang lợi ích đến người khác. - Chức năng: Giúp đỡ người khác, hay không có sự do dự. - Hiển lộ: Mong muốn vì lợi ích của người khác, hay cho chính Bồtát. - Nhân gần: Có tâm đại bi (mahākaruṇā). Nói riêng ra thì: Hoàn hảo trong bố thí là: Tác ý từ bỏ; từ bỏ tài sản, vợ, con, tứ chi và mạng sống. Có tâm Từ và sự khéo léo (kosalla). Hoàn hảo trong giới là: Hành động tốt trong thân - khẩu, có tâm từ và thiện xảo. Theo định nghĩa, đó là tránh làm những điều không nên làm, tác ý làm những điều nên làm... Hoàn hảo trong xuất ly là: Tác ý từ bỏ dục lạc và sinh hữu; có hiểu biết về những gì không hài lòng vốn có; có tâm Từ và khéo léo. Hoàn hảo trong tinh tấn là: Hành động thân, lời nói và ý vì lợi ích của người khác, có tâm Từ và khéo léo Hoàn hảo trong nhẫn nại là: Chịu đựng sự nguy hại do chúng sinh mang lại và các hành. Hay tác ý “chịu đựng” xuất hiện nơi tâm với phương thức như vậy, trong khi đó sự vô sân chiếm ưu thế, có tâm Từ và khéo léo. Hoàn hảo trong chân thật là: Không dối trá trong lời nói, được phân tích thành tránh né lời không thật, tác ý chừa bỏ nói dối ... có tâm Từ và khéo léo. Hoàn hảo trong quyết định là: Quyết định vững chắc với việc làm có lợi ích đến người mình hay người khác, có tâm Từ và khéo léo. Hay đó là tác ý xuất hiện trong tâm với phương thức ấy. Hoàn hảo trong Từ là: Mong muốn vì lợi ích và hạnh phúc của thế gian, có từ và khéo léo. Theo định nghĩa, đó là lòng nhân từ. Hoàn hảo trong Xả là: Thái độ vô tư với những chúng sinh và các hành mình mong muốn cùng không mong muốn. Loại trừ sức lôi cuốn và sự ghê tởm, có từ và khéo léo. Theo những định nghĩa này, các đặc tính, chức năng, sự hiển lộ và nhân gần của các balamật, có thể như vầy: a- Bố thí có đặc tính là sự từ bỏ; chức năng là loại trừ tham luyến với những gì có thể được cho đi; hiển lộ là không bị dính mắc hay có sự thịnh vượng hoặc có sinh hữu tốt; nhân gần là cảnh có thể được từ bỏ. b- Giới có đặc tính là kiềm chế bản thân (sīlana); kết hợp (samādhāna) và thiết lập (patiṭṭhāna) cũng được xem như là đặc tính của giới. Chức năng của giới là loại trừ những hành động đồi bại hay chức năng của giới là vô tàm; sự hiển lộ là trong sạch giới; nhân gần là có sự hổ thẹn tội lỗi, ghê sợ tội lỗi. c- Xuất ly có đặc tính là thoát khỏi dục lạc và sinh hữu; chức năng là xác minh điều không đáng hài lòng của chúng; sự hiển lộ là thoát khỏi chúng; nhân gần là “có sự tác động (samvega)”. d- Tuệ có đặc tính là biết được bản chất thật sự (của chuỗi danh sắc) hay đặc tính hiểu biết trọn ven một cách chính xác, giống như người xạ thủ tài giỏi bắn trúng mục tiêu; chức năng làm sáng tỏ cảnh giống như ngọn đèn; sự hiển lộ là không bối rối giống như người dẫn đường trong rừng; nhân gần là định hay bốn sự thật. e- Tinh tấn có đặc tính là nỗ lực; chức năng là củng cố cho vững chắc; sự hiển lộ là không hề mệt mỏi; có dịp để đánh thức sự tinh tấn hay có sự tác động (samvega) là nhân gần. f- Nhẫn nại có đặc tính là chấp nhận; chức năng là chịu đựng những gì yêu thích và không yêu thích; sự hiển lộ là chịu đựng hay không chống đối; nhân gần là thấy các pháp đúng theo bản chất của chúng. g- Chân thật có đặc tính là không dối trá trong lời nói; chức năng là làm theo thực tế; sự hiển lộ là xuất sắc; nhân gần là trung thực. h- Quyết định có đặc tính là quyết định theo các pháp trợ đạo; chức năng là vượt qua những pháp đối nghịch; sự hiển lộ là không lay chuyển trong nhiệm vụ đó; nhân gần là các pháp trợ đạo. i- Từ có đặc tính thúc đẩy lợi ích (của chúng sinh); chức năng là vì lợi ích của chúng sinh hay chức năng là loại trừ sân; sự hiển lộ là tốt bụng; nhân gần là thấy được khía cạnh tốt của chúng sinh. k- Xả có đặc tính thúc đẩy khía cạnh quân bình; chức năng là nhìn các pháp một cách vô tư; sự hiển lộ là làm giảm bớt sự lôi cuốn và ghê tởm; nhân gần là quán xét thấy rằng tất cả chúng sinh có nghiệp là thai tạng. Và ở đây nên lưu ý rằng có tâm Từ và khéo léo (kosalla) là đặc tính riêng biệt trong đặc tính của mỗi balamật - tức là buông bỏ đối với bố thí... Với những balamật như bố thí... xuất hiện trong chuỗi tâm của Bồtát thì luôn có tâm từ và sự khéo léo. Đó là điều làm cho chúng trở thành pāramī (balamật). 6- Duyên của balamật là gì? Trước tiên, duyên của pāramī là nguyện vọng (abhinihāra) (xem dưới đây) được hỗ trợ bởi 8 đặc tính như vầy: - Ta sẽ vượt qua những gì phải vượt qua. - Thoát khỏi những gì phải thoát khỏi. - Chế ngự được những gì phải chế ngự. - Bình tĩnh trước những gì phải bình tĩnh. - An ủi những gì phải an ủi. - Đạt được nípbàn. - Làm trong sạch những gì phải làm trong sạch. - Giác ngộ những gì phải giác ngộ. Đây là duyên cho tất cả các pāramī, không có trường hợp ngoại lệ. Tám đặc tính để thành tựu được nguyện vọng, hay để được Đức Chánh giác thọ ký là: Là người, là người nam, có nhân, có Đức Phật Chánh giác xuất hiện, xuất gia, đạt được các ân đức cao thượng, thực hiện việc lành cao tột (adhikāra) và có chí nguyện mạnh mẽ (Bv. IIA, v. 59). 1’- Ở cõi người (manussatta): Nguyện vọng của Bồtát chỉ được thành tựu khi là nhân loại mà không phải là rồng (nāga) hay kim xí điểu(supaṇṇa)... Tại sao? Vì những trạng thái khác không tương ứng với trạng thái của Đức Phật (Đức Chánh giác luôn xuất hiện ở cõi nhân loại). 2’- Là người nam (liṅgasampatti): Với những ai là người nhân loại, chí nguyện chỉ thành tựu khi được làm người nam, không phải là người nữ, thái giám, người trung tính hay người lưỡng tính. Tại sao? Với lý do nói ở trên (tức là do Đức Phật luôn là người nam) và do không thực hiện được những đặc tính đòi hỏi (trong những trường hợp khác). Như: “Này các Tỳkhưu, không thể có chuyện một người nữ có thể trở thành Phật Chánh Đẳng Giác.” (A. i. 28). 3’- Có nhân (hetu): Là thành tựu được các duyên hỗ trợ cần thiết. Thậm chí, chí nguyện chỉ thành tựu cho người có các duyên hỗ trợ cần thiết, cho những ai thành tựu được nền tảng nhân cần thiết. 4’- Có Đức Phật Chánh giác xuất hiện (satthāradassana): Nguyện vọng chỉ thành tựu khi được Đức Chánh giác đang hiện tiền thọ ký. Chí nguyện sau khi Đức Phật Nípbàn - trước bảo tháp, dưới cội bồ đề, trước ảnh Phật, khi có mặt Đức Phật Độc Giác hay các vị đệ tử của Đức Phật, đều không thành tựu. Tại sao? Vì người nhận thiếu năng lực cần thiết để được thọ ký. Chí nguyện chỉ thành tựu khi ước nguyện trước mặt các vị Phật Chánh giác vì các Ngài có đủ năng lực thích ứng với sự cao thượng của lời ước nguyện. 5’- Xuất gia (pabbajjā): Sự thọ ký thành bậc Chánh giác trong tương lai chỉ có cho người ước nguyện khi vị ấy bậc xuất gia, đó là vị tỳkhưu hay vị ẩn sĩ tin vào nghiệp và tác động thiện của nghiệp; Sự thọ ký thành Phật Chánh giác tương lai không có cho người tại gia cư sĩ. Tại sao? Vì ở tại gia thì không tương ứng với Đức Phật (chính Ngài là bậc xuất gia). Vị Bồtát (kiếp cuối) chỉ giác ngộ sau khi xuất gia, không phải lúc còn tại gia, do vậy, chỉ có những ai xuất gia, có những phẩm chất thích hợp mới được Đức Chánh giác thọ ký. 6’- Đạt được những ân đức cao thượng (guṇasampatti): Là thành tựu được các tầng thiền định và các thắng trí (abhiññā). Sự thọ ký chỉ có với bậc xuất gia và vị ấy phải thành tựu 8 thiền chứng (samāpatti) cùng 5 thắng trí [12] . Tại sao? Vì khi không có những phẩm chất này thì không thể tu tập được các balamật, khi vị ấy có những duyên hỗ trợ cần thiết này, sau khi được thọ ký, có thể tự tu tập các balamật. 7’- Có sự cống hiến (adhikāra): Khi đã có những phẩm chất nói trên, sự thọ ký chỉ có vào thời điểm vị ấy có sự cống hiến mạnh mẽ cho Đức Phật, vị ấy chấp nhận từ bỏ ngay cả chính mạng sống của mình cho Ngài. 8’- Có ước vọng mạnh mẽ (chandatā): Là khao khát thực hiện ước vọng trong sạch này. Người có được những phẩm chất nói trên, phải có mong ước mạnh mẽ, khao khát và duy trì những phẩm chất tốt đẹp của vị Bồtát; chỉ khi đó ước nguyện của vị ấy mới được Đức Chánh giác thọ ký. Những ví dụ sau minh chứng cho tầm quan trọng ước vọng mạnh mẽ: - Nếu vị ấy nghe rằng: “Vị Bồtát muốn thành tựu ước nguyện Chánh giác, khắp thế gian này toàn là nước, vị ấy phải lội trên đó bằng chính đôi tay của mình để sang bên kia bờ”; vị ấy không cho rằng điều đó thật khó khăn mà còn tràn đầy mong muốn làm được điều đó với ý chí mạnh mẽ, không hề bị lung lay. -Nếu vị ấy nghe rằng: “Vị Bồtát muốn thành tựu ước nguyện Chánh giác, là người phải đi khắp thế gian, toàn là than lửa hồng nóng rực bằng chính đôi chân trần, để đến bờ kia”; vị ấy không cho rằng điều đó thật khó khăn mà còn tràn đầy mong muốn làm được điều đó với ý chí mạnh mẽ, không hề bị lung lay. - Nếu vị ấy nghe rằng: “Vị Bồtát muốn thành tựu ước nguyện Chánh giác, là người phải bước trên những mũi gươm sắc nhọn phủ đầy khắp thế gian, để vượt đến bờ kia”... - Nếu vị ấy nghe rằng: “Vị Bồtát muốn thành tựu ước nguyện Chánh giác, là người phải đi khắp thế gian này, nơi đã trở thành một khu rừng với những dây leo đầy gai, với bụi cây tre cứng, để vượt qua đến bờ kia”... - Nếu vị ấy nghe rằng: “Vị Bồtát muốn thành tựu ước nguyện Chánh giác, là người phải chịu hành hình trong địa ngục suốt 4 A tăng kỳ và 100000 kiếp trái đất”; vị ấy không cho rằng điều đó thật khó khăn mà còn tràn đầy mong muốn làm được điều đó với ý chí mạnh mẽ, không hề bị lung lay. Đó là tầm quan trọng của nguyện vọng mãnh liệt. Chí nguyện này khởi lên nơi tâm (cittuppāda) cùng với 8 yếu tố của người có được tám yếu tố ấy. Tám yếu tố này có: - Đặc tính là: Giải quyết đúng đắn để đạt được giác ngộ tối cao. - Chức năng là: Khao khát: “Ồ, mong sao được chứng đạt giác ngộ tối cao và đem hạnh phúc và an lạc đến cho tất cả chúng sinh”. - Sự hiển lộ là: Gốc rễ cho các pháp trợ đạo. - Nhân gần là: Tâm đại bi hay thành tựu được những duyên hỗ trợ cần thiết. Tám yếu tố này có cảnh “lãnh vực phi thường của chư Phật, một lãnh vực không thể thấu hiểu hết” và “lợi ích của toàn bộ thế giới chúng sinh vô cùng tận”; nên tám yếu tố này được xem là cao thượng nhất, tuyệt vời nhất và phước báu xuất chúng, có uy lực vô cùng tận, là nguồn cội của tất cả các phẩm chất của vị Bồtát. Đồng thời bậc Đại nhân làm tăng trưởng các phẩm chất tốt đẹp của 8 yếu tố ấy, để thành tựu “con đường của bậc Đại giác (mahābodhiyānapaṭipatti)”. Ngài chỉ có một con đường, không có con đường nào sai khác được, do vậy Ngài được gọi là Bodhisattvā (Bồtát). Tâm Ngài hoàn toàn gắn liền với việc hoàn tất sự giải thoát của bậc Chánh giác và khả năng của Ngài là để tu tập các pháp trợ đạo. Vì khi được thọ ký, bậc Đại nhân suy nghiệm đúng đắn tất cả các balamật với tuệ tự hiểu biết rõ ràng, đó là điềm báo trước sự thành tựu Chánh giác trong tương lai. Và tiếp theo các Ngài thực hiện các balamật theo trình tự, như bậc trí Sumedha đã làm sau khi được thọ ký. Tương tự. tâm đại bi (mahākaruṇā) và trí thiện xảo (upāyakosalla) cũng là duyên cho các balamật. Ở đây, “thiện xảo” là tuệ biến đổi bố thí (và chín balamật kia) thành các pháp trợ đạo. Nhờ có tâm đại bi, bậc Đại Nhân tự hiến dâng mình làm việc không ngơi nghỉ vì lợi ích của người khác mà không quan tâm đến hạnh phúc của chính mình, không lo sợ bất kỳ khó khăn nào. Và bản chất của các vị ấy là: “Mang lợi ích và hạnh phúc đến cho chúng sinh”, thậm chí vào những lúc chỉ nhìn thấy, nghe hay tưởng tượng, vị ấy luôn mong chúng sinh được hạnh phúc. Nhờ tuệ thiện xảo, các vị Bồtát tự hoàn thiện phẩm chất của một vị Phật. Nhờ tâm đại bi, Ngài dẫn người khác vượt qua cái khổ, nhờ tuệ thiện xảo Ngài hiểu được cái khổ của người khác. Nhờ tâm đại bi Ngài cố gắng làm giảm đau khổ của họ, nhờ tuệ thiện xảo Ngài thấu đáo cái khổ. Nhờ tâm đại bi Ngài chấp nhận khổ, nhờ tuệ thiện xảo Ngài mong muốn chứng đạt nípbàn. Nhờ có tâm đại bi nên Ngài còn ở trong thế gian, nhờ tuệ Ngài không thích thú thế gian. Nhờ tuệ Ngài diệt trừ tất cả các dính mắc, nhưng vì tuệ đồng hành với bi nên Ngài không bao giờ ngừng nghỉ trong hành động đem lại lợi ích cho người khác. Nhờ bi, Ngài thông cảm cho tất cả chúng sinh nhưng do bi đồng hành với tuệ nên tâm Ngài không bị dính mắc. Nhờ tuệ, Ngài thoát khỏi “Ta” và “của ta”, nhờ bi Ngài thoát khỏi lãnh đạm và chán nản. Cũng vậy, nhờ tuệ và bi hòa hợp, Ngài trở thành người tự bảo vệ cho mình và bảo vệ cho người khác. Ngài là vị samôn cũng là bậc anh hùng, Ngài không dày vò bản thân và không dày vò người khác, thúc đẩy lợi ích của chính mình và lợi ích của người khác, là người không sợ hãi và cũng không làm người khác sợ hãi. Nhờ tuệ Ngài có sự chế ngự khi suy xét về Pháp, nhờ bi Ngài có sự suy xét thế gian và khi suy xét về thế gian, được an ủi về đặc ân đã làm và ban đặc ân cho người khác, không có si và không có tham, hành xử có tuệ và có giới, có các lực và có các nền tảng của tự tin. Đó là những phương cách đạt được mỗi quả balamật riêng biệt, tuệ và bi là duyên cho các balamật, đồng thời cũng là duyên cho “quyết định”. Bốn yếu tố - nhiệt tâm, khéo léo, vững vàng và có đạo đức cũng là duyên cho các balamật. Đó là nền tảng để làm cho Bồtát đạo sanh lên, những yếu tố này được gọi là “buddhabhūmiyo - Phật vức”. Ở đây, “nhiệt tâm” (ussāha) có nghĩa là tinh cần, cố gắng đạt được các pháp trợ đạo. “Khéo léo” (ummaṅga) là tuệ ứng dụng một cách thông thạo vào các pháp trợ đạo. “Vững vàng” (avatthāna) là quyết định, một quyết định không thay đổi. “Có đạo đức” (hitacariyā) là phát triển từ và bi. Ngoài ra, còn có các duyên khác như – khuynh hướng xuất ly, độc cư, vô tham, vô sân, vô si và từ bỏ. Đối với các vị Bồtát, Ngài thấy được khổ trong đời sống tại gia và dục lạc; các Ngài có khuynh hướng xuất ly. Thấy được khổ trong sự đồng hành, các Ngài có khuynh hướng độc cư. Thấy được khổ trong tham, sân và si, các Ngài có khuynh hướng vô tham, vô sân và vô si. Thấy được khổ trong tất cả các sinh hữu, các vị Bồtát có khuynh hướng từ bỏ các sinh hữu. Do vậy, sáu khuynh hướng này của các vị Bồtát cũng là các duyên cho các balamật. Vì các balamật không sinh lên khi không thấy được nguy hiểm của tham, sân, si và sự cao thượng của vô tham, vô sân và vô si. Khuynh hướng vô tham là tâm hướng về sự từ bỏ tham, vì Bồtát thấy được sự cao thượng của vô tham. Khuynh hướng vô sân là tâm hướng về sự từ bỏ sân, vì Bồtát thấy được sự cao thượng của vô sân Khuynh hướng vô si là tâm hướng về sự từ bỏ si, vì Bồtát thấy được sự cao thượng của vô si. Lại nữa, các vị Bồtát có sự quán xét sự nguy hại đối với các pháp nghịch của balamật, đồng thời thấy được lợi ích của các balamật, Ngài có khuynh hướng thoát ra các nghịch pháp, đó cũng là duyên để tu tập balamật. Do thấy được nguy hại của keo kiệt, nên Bồtát thực hành hạnh bố thí. Do thấy được nguy hại của phá giới, nên Bồtát thực hành hạnh trì giới. Do thấy được nguy hại của dục lạc và đời sống tại gia, nên Bồtát thực hành hạnh xuất ly. Do thấy được nguy hại của si và phóng dật, nên Bồtát thực hành hạnh trí tuệ. Do thấy được nguy hại của lười biếng, nên Bồtát thực hành hạnh tinh tấn. Do thấy được nguy hại của sự không nhẫn nại, nên Bồtát thực hành hạnh nhẫn nại. Do thấy được nguy hại của lời nói dối trá, nên Bồtátt thực hành hạnh chân thật. Do thấy được nguy hại của sự thiếu quyết định, nên Bồtát thực hành hạnh quyết định. Do thấy được nguy hại của sân, nên Bồtát thực hành hạnh Từ. Do thấy được nguy hại của sự thăng trầm nơi thế gian, nên Bồtát thực hành từ xuất ly cho đến hạnh xả bỏ. Khi quán xét được sự nguy hại trong các pháp đối nghịch của balamật và lợi ích khi tu tập pháp balamật. đó là duyên cho các balamật. Tức là đối với bố thí balamật, nguy hại là keo kiệt và lợi ích là sự từ bỏ... Đây là phương pháp quán xét. Quán xét ra sao? 1- Bố thí balamật: Nên quán xét như vầy: “Những tài sản như ruộng, đất đai, vàng thỏi, vàng miếng, gia súc, trâu, gia nhân, con cái, vợ... đem đến thật nhiều nguy hại cho những ai dính mắc với chúng. Chúng khơi dậy lòng tham nên được nhiều người mong muốn, chúng có thể bị vua tịch thu, bị trộm cắp, bị tranh chấp và có kẻ thù. Chúng không có thực chất để tự bảo vệ khi phải tranh đấu với người. Khi chúng bị tiêu hoại, sẽ mang đến sầu khổ cho những ai dính mắc với chúng. Do bị dính mắc với chúng nên tâm bị những bợn nhơ của keo kiệt và kết quả là người đó bị tái sinh vào khổ cảnh. Nói cách khác thì khi từ bỏ được những thứ ấy, là đi được một bước đến sự an toàn. Ta nên từ bỏ chúng một cách vô tư”. Khi có một người đến hỏi xin vật gì đó, vị Bồtát thường quán xét: “Người này là bạn thân của ta vì gìn giữ bí mật cho ta”. Hay “người này là thầy ta vì đã dạy ta, ta hãy giúp thầy để trả ân thầy đã dạy ta”.... Đây là cách quán xét với người thân. Đối với người không thân, Bồtát quán xét: “người này giúp ta mang tài sản từ thế giới này sang thế giới khác, giống như một ngôi nhà đang cháy, người này giúp ta mang tài sản ra khỏi ngôi nhà đang cháy; cũng vậy thế giới này đốt cháy ta bằng ngọn lửa tham lam, khi ra đi ta chẳng mang theo được gì, người này đang giúp ta mang tài sản sang thế giới khác, người này là bạn đồng hành tốt của ta; người này giúp ta thoát khỏi phiền muộn. Người này là bạn tốt nhất của ta vì giúp ta thực hiện được việc bố thí cao thượng, giúp ta thực hiện thành tựu được điều cao thượng và khó khăn nhất trong tất cả các điều thành tựu, đạt đến phẩm vị Phật Chánh giác”. Cách quán xét khác của vị Bồtát là: “Người đời đã tán thán ta “là bậc hiền nhân”; do vậy ta nên nhận biết điều tán thán một cách đúng đắn”. Hoặc “cuộc đời này có giới hạn, vậy ta nên ban phát rộng rải, thậm chí khi không được hỏi xin thì ta cũng cho, khi được hỏi ta hãy cho nhiều hơn cái được hỏi”. Hay: “Những ai có tính cao thượng thường tìm người để cho, nhưng người này tự nguyện đến chỗ ta, người này đến vì phước của ta”. Hay “tặng quà cho người xin sẽ mang lại lợi ích cho ta và người đó”. Hoặc “như ta mong có lợi ích cho chính mình, ta cũng nên mang lại lợi ích cho toàn thế gian”. Hoặc “nếu không có người nào xin thì làm sao ta tu tập được pháp bố thí?”. Hoặc: “Mọi thứ ta có được chỉ để cho người khác”. Hay: “Khi nào người thọ nhận vật thí của ta mà không cần phải hỏi xin ta?” ; “Làm thế nào ta có thể trở nên thân thiết và dễ chịu với những người thọ nhận vật thí? Làm thế nào, người thọ thí thân thiết và dễ chịu với ta? Làm thế nào, sau khi bố thí ta cảm thấy phấn chấn, hân hoan, tràn đầy hỷ lạc? Và làm thế nào, người nhận vật thí cũng được như vậy? Làm thế nào, sự bố thí của ta có thể trở nên cao quý? Làm thế nào, ta có thể cho mà không cần phải đợi họ xin? Làm thế nào, ta có thể biết được mong muốn trong tâm của họ?”. Hay Bồtát suy nghĩ: “Có phải ta đã xem tài sản này là của chung chăng? Họ đã đến xin, không cho họ, đó là sự tự lừa đảo lớn đối với ta”. Và: “Làm thế nào, ta có thể lìa bỏ thân thể, ngay cả mạng sống này cho những ai đến hỏi xin ta?”... Các vị Bồtát thường khơi dậy lòng mong muốn bố thí mà không lo lắng khi quán xét: “Điều tốt trở lại với những ai cho đi mà không lo lắng, như cái bumơrang (vật khi ném đi tự quay trở lại chỗ người ném - Nd) [13] quay lại chỗ người ném mà không cần người đó điều khiển”. Lại nữa, nếu người thân hỏi xin cái gì, vị ấy khởi lên sự hoan hỷ khi quán xét: “Người thân hỏi xin ta, ta nên cho để tình thân càng thân”. Nếu người không thân hỏi xin cái gì, vị ấy khởi lên sự hoan hỷ khi quán xét: “Nếu ta cho, chắc chắc người này sẽ trở thành bạn của ta, nhờ vật thí ta sẽ có được cảm tình của người đó”. Và nếu kẻ thù hỏi xin cái gì, vị ấy hoan hỷ một cách đặc biệt, khi nghĩ: “Kẻ thù của ta đã hỏi xin, khi nhận được món quà này, chắc chắn người này trở thành bạn của ta, không còn là kẻ thù của ta nữa”. Vì thế, vị Bồtát khởi lên tâm Từ tâm Bi trước tiên đối với người không thân, kẻ thù, rồi bố thí cho họ như cho người thân. Do năng lực tham ngủ ngầm khởi lên với thân thể, vị mong trở thành Bồtát nên quán xét: “Này, bậc thiện nhân, có phải ngươi nguyện được giải thoát trọn vẹn chăng? Vì sao ngươi không dám từ bỏ xác thân này cũng như phước báu có được để giúp đỡ tất cả chúng sinh? Dính mắc với các đối tượng này, giống như dính mắc nơi tắm của voi; do vậy, ngươi không nên dính mắc với điều gì cả”. Giả sử như có một cây thuốc lớn và ai đó cần gốc thì lấy gốc; ai cần cành non, vỏ, thân, nhánh, lõi, lá, hoa hay quả thì lấy cành non, vỏ, thân... cây thuốc không hề nghĩ: “Họ đang lấy đi tài sản của ta”. Cũng vậy, khi nỗ lực vì lợi ích của thế gian, ta không nên khởi lên những tà ý vi tế nhất về cái thân không trong sạch, đầy đau khổ và bạc bẽo này, cái thân ta nên vì người khác. Và ngoài ra, có sự khác biệt nào giữa các thành phần vật chất bên trong (thân) và các thành phần vật chất bên ngoài (thế gian)? Cả hai đều bị vô thường, phân tán và hủy hoại. “Đây là ta”, “đây là của ta”, “đây là tự ngã của ta”, đó là chuyện tầm phào, gây bối rối. Ta không nên quan tâm đến tay, chân, mắt, thịt của ta nữa, đó chỉ là những vật chất bên ngoài. Thay vào đó, ta nên khởi lên ý nghĩ “hãy để cho những ai thích chúng, hãy lấy chúng đi”. Khi quán xét như vậy, với quyết tâm giải thoát trọn vẹn, nên không còn bận tâm về thân thể hay mạng sống thì các nghiệp thân, khẩu và ý sẽ dễ dàng được trong sạch đầy đủ. Khi nghiệp thân, khẩu và ý được trong sạch, vị ấy tu tập đúng đắn và nhờ thiện xảo với được và mất, vị ấy có thể mang lợi ích đến cho tất cả chúng sinh, thậm chí còn to lớn hơn việc từ bỏ các quà tặng vật chất và bố thí sự không sợ hãi và bố thí chánh Pháp. Đây là phương pháp quán xét về bố thí balamật. 2- Giới balamật: nên quán xét như sau: - Ngay cả nước sông Hằng cũng không thể rửa sạch được nhơ bẩn của sân, nhưng nước giới thì có thể được. - Ngay cả gỗ chiên đàn vàng cũng không thể làm giảm đi cơn sốt của tham - sân, nhưng giới thì có thể loại trừ cơn sốt ấy. - Giới là vật trang sức duy nhất của thiện, hơn cả những đồ trang sức của người thường như vòng cổ, vương miện, hoa tai.... - Giới là mùi hương thơm ngát ngọt ngào hơn cả hương trầm, hương của giới lan tỏa tất cả các hướng và luôn luôn ở khắp nơi; có sức hút thần kỳ, được chư thiên, các bậc khattiya (satđếlỵ)... coi trọng. - Giới là chiếc thang đi đến thế giới chư thiên, đến cõi trời của Tứ Đại Thiên Vương [14] ..., là phương tiện để đắc thiền và thắng trí; là đại lộ dẫn đến đô thị lớn Nípbàn; là nền tảng giác ngộ cho các vị Thánh Alahán, Đức Phật Độc giác và Phật Chánh giác. Và vì là phương tiện để thành tựu được tất cả những ước nguyện của mỗi người, nên giới vượt trội hơn cây như ý”. Nên quán xét giới là nền tảng của hỷ và lạc. Vì hỷ lạc sinh lên sau khi quán xét về sự thành tựu giới của chính mình: “Ta vừa làm xong điều trong sạch, ta vừa làm xong điều tốt, tự ta là chỗ trú không sợ hãi”. Người có giới không lo sợ bị tự chỉ trích, cũng không sợ bị bậc trí chỉ trích. Có giới không bị trừng phạt theo luật hình thế tục trong hiện tại, cũng không bị rơi vào khổ cảnh sau khi chết. Giới được bậc trí tán thán. Giới là cội rễ cho giải thoát khỏi hối hận, sự hối hận chỉ sinh lên ở người không có giới, khi nghĩ: “Ta phạm phải nghiệp ác, xấu xa và tội lỗi” Giới là nền tảng của an toàn, là nền tảng của an lạc và là một phương tiện để thành tựu những lợi ích to lớn như ngăn ngừa, không bị mất tài sản.... Tu tập giới được tái sinh vào gia tộc cao quý như Khattiya (Sátđếlỵ - giòng vua chúa), người không có giới, sẽ có giòng dõi thấp kém, có nơi tái sinh đau khổ. Giới cho có tài sản vật chất vì không thể bị trộm cắp, tài sản này theo người đó đến thế giới bên kia. Giới cho quả báu lớn vì là nền tảng cho thiền định, thắng trí... Và nhờ giới, chúng sinh có thành tựu quả vị tương ứng của mình [15] . Thậm chí giới còn vượt trội với cuộc sống, vì “sống một ngày có giới còn tốt hơn sống trăm năm không có giới” (Dhp. 110); và sống không tu tập giới (trong đời sống phạm hạnh), xem như chết rồi (tâm linh). Giới cho sắc đẹp vì giới làm cho người đẹp thậm chí đối với kẻ thù và giới không thể bị tuổi tác hay bệnh tật lấn át. Giới là nền tảng để làm nổi trội các trạng thái hạnh phúc, giới cho những chỗ ngụ tốt đẹp nổi trội như cung điện, đền đài... và những vị trí cao trong xã hội như vua, hoàng tử hay quan tướng. Do giới thúc đẩy lợi ích cao nhất của một người và theo người đó đến thế giới bên kia, nên giới là thân quyến tốt nhất, vượt qua cả người thân và bạn bè, thậm chí những ai thân thuộc. Lại nữa, khi thực hiện nhiệm vụ khó khăn tự bảo vệ mình, giới nổi trội hơn cả đoàn tượng binh, mã binh, xa binh và bộ binh, cũng như với các công cụ khác. Giới vượt trội hơn các câu thần chú, bùa mê, kinh phúc chúc, vì giới phụ thuộc vào chính mình, không phụ thuộc vào người khác và có sức ảnh hưởng to lớn. Do vậy, có nói rằng: “Pháp bảo vệ người hành Pháp” (Thag. 303). Khi quán xét như vậy với nhiều phẩm chất cao thượng của giới, sự thành tựu giới chưa thực hiện sẽ được thực hiện và giới chưa trong sạch sẽ được làm cho trong sạch. Do năng lực của sân ngủ ngầm, nếu các trạng thái đối nghịch với giới như sự ác cảm sinh lên chậm chạp, Bồtát quán xét: “Ngươi không quyết định chứng đạt Giác ngộ trọn vẹn đủ hay sao? Người phạm giới thì thậm chí còn không thể thành công trong lãnh vực trần thế, còn nói gì đến lãnh vực Siêu thế chứ?. Ngươi nên đạt đến đỉnh cao của giới, vì giới là nền tảng để giác ngộ siêu phàm, tối thắng trong tất cả mọi sự thành tựu. Ngươi nên luôn đối xử tốt, giữ giới hoàn hảo, còn cẩn thận hơn con gà mái bảo vệ trứng của mình. Hơn nữa, khi giảng Pháp để giúp chúng sinh thành tựu, đạt đến độ chín muồi trong ba phương thức (yāna- xem trang 1-2); nhưng lời của người không giữ giới thì không đáng tin cậy, như phương thuốc của vị bác sĩ không cân nhắc loại nào thích hợp với bệnh nhân của mình. Làm thế nào, ta có thể trở nên đáng tin cậy để có thể giúp chúng sinh thành tựu, đạt đến độ chín muồi trong ba phương thức? Ta phải có giới trong sạch. Làm thế nào, ta có thể chứng đạt thiền, thắng trí, để có thể giúp đỡ người khác và tu tập tuệ balamật? Những điều thành tựu như thiền... không thể đạt được nếu không có giới trong sạch. Do vậy, giới nên được trong sạch hoàn hảo”. 3- Xuất ly balamật: Trước tiên, nên nhận thức được sự khổ trong đời sống tại gia theo lời dạy của Đức Phật: “Đời sống tại gia đầy phiền trược, một con đường đầy bụi bặm”... (D. i. 63); thấy được cái khổ trong dục lạc theo câu: “Dục lạc giống như khúc xương”... (M. i. 364) và khổ trong ái dục theo câu: “giả sử như người mượn tiền và làm việc”... (D. i. 63). Đây là phần ngắn gọn. Nói chi tiết thì nên quán xét các câu kinh như “Đống khổ” (M. i. 83-90) hay “Ví dụ về những con rắn độc” (S. iv. 172-75). 4- Tuệ balamật: Nên quán xét các tính chất cao thượng của tuệ như sau: -Không có tuệ, những balamật như bố thí, trì giới... sẽ không trong sạch và không thể thực hiện được những chức năng tương ứng, ví như không có thân thì cơ thể mất đi vẻ lộng lẫy, không thể làm được những hành động thích hợp. Hay ví như “không có tâm thì các quyền không thể làm được các chức năng của chúng trong các cảnh tương ứng”; cũng vậy, không có tuệ thì các quyền như tín, tấn, niệm, định ... không thể thực hiện được những chức năng của mình. - Tuệ là nhân chủ yếu để tu tập các balamật khác, vì khi tuệ nhãn mở ra, các vị Bồtát thậm chí còn cho đi cả chân tay và cơ thể mình mà không hề tán dương mình và chê bai người khác. Giống như những cây thuốc cho đi mà không phân biệt cách đối xử của người nhận, tâm các Ngài tràn đầy hoan hỷ cả ba thời [16] . - Với tuệ, hành động từ bỏ, sự tinh tấn, sự thiện xảo và sự tu tập vì lợi ích của người khác, đạt được các balamật; mà bố thí vì chính lợi ích của người đó giống như một sự đầu tư. - Lại nữa, không có tuệ, giới không thể thoát khỏi các ô nhiễm (āsava) như tham, tà kiến, si mê. Do vậy, thậm chí Giới còn không thể được trong sạch, huống chi các pháp làm nền tảng cho các phẩm chất của vị Phật Chánh giác. - Chỉ có bậc trí mới nhận biết rõ ràng khổ trong đời sống tại gia, trong dục lạc, trong vòng luân hồi và thấy được những lợi ích của xuất gia, đắc thiền, chứng đạt nípbàn; và vị ấy xuất gia sống không nhà, tu tập thiền và hướng tới Nípbàn, thiết lập những điều khác ở đây. - Tinh tấn mà không có tuệ thì không đạt được mục đích mong muốn vì sẽ tác ý sai và thà không khởi lên tinh tấn gì cả còn tốt hơn là làm sai. Nhưng khi tinh tấn có tuệ thì không có gì không thể thực hiện được nếu có các phương thức thích hợp. - Lại nữa, chỉ có bậc trí mới có thể kiên nhẫn chịu đựng được sự sai trái của người khác, người không có trí thì không. Với người thiếu trí, sai trái của người chỉ làm khiêu khích sự mất kiên nhẫn; còn đối với bậc trí, các vị ấy có thể kiên nhẫn và thậm chí còn làm cho sự kiên nhẫn của mình được lớn mạnh hơn. - Khi hiểu được ba Đế, [17] nhân và các pháp đối nghịch thì không bao giờ nói dối với người khác. - Khi có tuệ, bậc trí có quyết định vững chắc để tu tập tất cả các balamật. - Chỉ có bậc trí mới thiện xảo trong hành động vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà không có sự phân biệt người thân, người không thân và kẻ thù. -Và chỉ nhờ tuệ thì bậc trí mới thản nhiên đối với sự thăng trầm của thế gian như được, mất, khen chê..., không bị chúng làm dao động tâm. Theo đó, nên quán xét về các đặc tính cao thượng của tuệ và xem đó là nhân làm trong sạch tất cả các pháp balamật. Hơn nữa, không có tuệ thì không thành tựu được sự tưởng niệm và giới không trong sạch. Không có giới và sự tưởng niệm thì không thể thành tựu được định và không có định thì thậm chí không thể bảo vệ được lợi ích của chính mình huống chi là vì lợi ích của người khác. Do vậy, khi tu tập vì lợi ích của người khác, vị Bồtát nên tự nhắc nhở mình: “Ngươi có nỗ lực để làm trong sạch tuệ chưa?” Vì qua năng lực của tuệ các bậc Đại nhân có được bốn nền tảng tạo lợi ích cho thế gian, giúp chúng sinh bước vào đạo lộ giải thoát, làm cho các quyền của họ được chín muồi. [18] Lại nữa, nhờ năng lực của tuệ, các vị ấy mới quán xét về các uẩn, các giác quan như mắt, tai..., hiểu rõ ràng các quá trình sinh diệt theo thực tế, đồng thời phát triển các đặc tính tốt đẹp của bố thí, trì giới, xuất gia..., đạt đến đỉnh cao và hoàn thiện pháp học của các vị Bồtát. Do vậy, nên tăng cường hoàn thiện tuệ bằng cách xác định các phẩm chất cao thượng của tuệ với nhiều phương thức và các chi phần. 5- Tinh tấn balamật: Nên quán xét như vầy: - Không có tinh tấn thì thậm chí không thể đạt được sự thành công trong các công việc thế gian, không thể có được kết quả tốt nhất. Nhưng người có nỗ lực không mệt mỏi, không có gì không đạt được. - Người không có tinh tấn thì không thể cứu mình, còn nói gì đến sự giúp được chúng sinh ra khỏi dòng luân hồi rộng lớn. Thậm chí nếu tinh tấn của vị ấy chỉ ở mức độ vừa phải thì vị ấy sẽ từ bỏ nửa chừng; nhưng có tinh tấn thì có thể hoàn thành được tất cả những gì cần phải hoàn tất, thực hiện được những gì cấn phải thực hiện”. Nên quán xét hơn nữa về các phẩm chất cao thượng của tinh tấn như sau: - Thật đúng đắn khi tự mình thoát khỏi khổ luân hồi bằng chính năng lực tinh tấn. Khi còn là kẻ phàm tục, si mê thì khó kềm chế các ô nhiễm (āsava), như khó kềm chế đoàn voi điên. Các ô nhiễm này như những tên sát nhân với thanh gươm trần bén nhọn đang chờ ta, chúng tạo ra những ác - bất thiện nghiệp, nơi đến của các ác - bất thiện nghiệp này là vùng khổ cảnh với những cánh cửa luôn mở rộng đang chờ ta. Những ô nhiễm ấy là những người bạn ác, đang ở trong những nghiệp xấu xa ấy, họ xúi giục ta thực hành những nghiệp ác ấy. Và: “Chỉ có thể thành tựu giác ngộ trọn vẹn mới thoát ra khỏi chúng, điều khó khăn ở đây là gì? Đó là sự tinh tấn.” 6- Nhẫn nại balamật: Nên quán xét như sau: - Nhẫn nại là vũ khí sắc bén cắt đứt chướng ngại sân, giúp người tốt phát triển các phẩm chất cao thượng, vì sân là pháp đối nghịch của tất cả các phẩm chất cao thưiợng, nhẫn nại thiêu đốt tất cả cặn bả của sân. - Nhẫn nại là vật trang điểm cho những ai có khả năng đánh bại được kẻ thù; là sức mạnh của các Samôn, Bàlamôn; là dòng nước dập tắt ngọn lửa sân; là nền tảng để có danh tiếng tốt; là câu thần chú để khắc chế lời độc ác của kẻ ác. -Nhẫn nại là biển sâu vì có t1nh mát lạnh; là bờ biển ngăn chận nước sân; là cái chốt khóa chặt cánh cửa dẫn đến khổ cảnh; là cầu thang dẫn đến cõi chư thiên và Phạm thiên; là nơi nương cho các khuynh hướng cao thượng; là sự trong sạch cao tột của thân, khẩu và ý. Nên củng cố nhẫn nại hơn nữa bằng cách quán xét: - Những ai thiếu nhẫn nại thì bị khổ sở trong thế gian này và chính họ lại tạo thêm những nghiệp dẫn đến khổ cảnh trong kiếp kế. - Với những hành động bất thiện của người khác, khiến sự khổ sinh lên nơi thân của ta, khổ này là quả của hạt giống ác nghiệp mà ta đã gieo nên, ta nên nhẫn nại đối với quả xấu của ác nghiệp đã tạo, xem như ta trả được món nợ. - Nếu không có người làm sai trái thì làm sao ta có thể tu tập pháp nhẫn nại?. - Dù bây giờ người đó làm điều sai trái nhưng trong quá khứ người đó là người hảo tâm của ta. - Người làm điều sai cũng là người hảo tâm vì giúp ta có cơ hội để phát triển nhẫn nại. -Tất cả chúng sinh giống như con ta. Ai lại giận dữ với những hành động bất thiện của chính con mình? - Người đó làm điều sai trái với ta vì một số cặn bã sân còn lại trong ta; ta nên loại trừ cặn bã này. -Như người đó, ta cũng đã tạo nhân cho điều sai trái, do vậy sự khổ sinh lên (ta không nên trách họ). - Những chuỗi danh sắc đang tạo nên điều sai trái, chuỗi danh sắc khác nhận lại quả xấu của điều sai trái; các chuỗi danh sắc ấy ngay tại sátna này bị diệt đi. Vậy ta giận dữ với ai? sân này khởi lên từ ai? Khi tất cả các chuỗi danh sắc là vô ngã thì ai làm điều sai trái với ai? Do năng lực của sân ngủ ngầm khởi lên do điều sai trái của người khác, tiếp tục tràn ngập trong tâm thì nên quán xét: - Nhẫn nại là nhân tốt để giúp đỡ người khác, là điều kiện để trả lại điều sai trái của họ. - Sự sai trái này làm khổ ta, nhưng lại là duyên cho tín sinh lên (tin nghiệp báo), hổ trợ cho quyết định và cũng là duyên cho tuệ sinh, vì hiểu được sự bất ổn trong thế gian. - Đây là bản chất của các quyền khi đối đầu với các cảnh tốt đẹp cùng không tốt đẹp, cảnh hài lòng cùng không hài lòng, cảnh như ý cùng không như ý. Ta có thể không đối đầu với các cảnh không toại nguyện được chăng? - Người bị sân kiểm soát thì trở nên điên dại và mất trí, vậy tại sao lại trả thù? - Tất cả chúng sinh được Đức Phật thương mến, như thể họ là con của Ngài. Do vậy, ta không nên giận dữ với họ. -Khi người làm điều sai trái có những phẩm chất cao thượng thì ta không nên giận dữ với người đó. Và khi người đó không có các phẩm chất cao thượng thì ta nên đối xử với người đó bằng tâm bi. - Sân làm giảm danh tiếng và các phẩm chất cao thượng của ta, làm kẻ thù hài lòng, ta trở nên xấu xí, ngủ bất an... - Sân là kẻ thù thật sự vì đó là nơi xuất phát mọi nguy hại và là kẻ hủy diệt tất cả điều tốt. -Khi nhẫn nại thì không có kẻ thù. -Do tạo ra điều sai trái, người sẽ chịu đau khổ trong tương lai, khi nhẫn nại ta không bị đau khổ trong tương lai. -Kẻ thù muốn ta giận dữ; khi ta chế ngự giận dữ bằng nhẫn nại thì kẻ thù cũng bị ta chế ngự. -Ta không nên từ bỏ phẩm chất cao thượng của nhẫn nại chỉ vì một chút giận dữ. Sân là đối nghịch và chướng ngại cho tất cả các phẩm chất cao thượng, vì vậy nếu giận dữ thì làm sao ta có thể tu tập được giới, xuất gia ...? Và khi không có những phẩm chất cao thượng này thì làm sao ta có thể giúp đỡ người khác và đạt đến quả Chánh giác theo đúng lời nguyện của mình. - Có nhẫn nại thì có định, nhờ có định nên thoát khỏi sự quấy nhiểu ở bên ngoài. Với tâm định, quán xét thấy được các hành là vô thường, khổ, tất cả các chuỗi danh sắc là vô ngã, quán xét Nípbàn là chân đế, bất tử, yên tịnh và tối thượng. Nhờ có định nên hiểu biết được ân đức chư Phật là vô lượng vô biên. Khi đó, có anulomiyaṃ khantiyamṇ ṭhito (thuận thứ nhẫn nại an trụ), [19] thấy rõ điều “ta và của ta” là không thật có, chỉ có chuỗi danh sắc tồn tại, không có ngã hay bất kỳ thứ gì liên quan đến ngã. Chúng sinh diệt theo duyên của chúng, chúng không từ bất cứ nơi nào đi đến cũng không đi đến bất kỳ nơi nào, không có cõi trung gian cho chúng. Và vị Bồtát chỉ có một con đường dẫn đến giác ngộ, không có con đường nào sai khác, con đường ấy chính là sự nhẫn nại (kinh Pháp cú). Đây là phương pháp quán xét về nhẫn nại balamật. 7- Chân thật balamật: Nên quán xét như vầy: -Không có chân thật thì không thể có giới... và không thể tu tập theo ý nguyện. Tất cả các trạng thái bất thiện đều dẫn đến không chân thật. - Người không chân thật thì không đáng tin cậy và lời của người đó không được chấp nhận trong tương lai. Nói cách khác, có chân thật thì có nền tảng cho tất cả các phẩm chất cao thượng; với nền tảng là chân thật, người này có thể làm trong sạch và tu tập tất cả các pháp trợ đạo. Không tự đánh lừa mình về bản chất thật sự của danh sắc, người này thực hiện các chức năng của tất cả các pháp trợ đạo và tu tập hoàn tất bồtát đạo. 8- Quyết định balamật: Nên quán xét như vầy: - Các pháp balamật sẽ không thành tựu vững chắc nếu không có quyết định thực hành. - Các pháp balamật sẽ không thành tựu nếu không có quyết định loại trừ pháp đối nghịch của balamật. - Các pháp balamật sẽ không thành tựu nếu không có quyết định bền bỉ, kiên cường và khi ấy các pháp là nền tảng của sự giác ngộ như bố thí, giới, xuất ly... không sanh lên. 9- Từ balamật: Nên quán xét như vầy: - Chỉ vì lợi ích của chính mình mà không quan tâm đến lợi ích của người khác, thì không thể thành công trong thế gian này hay được tái sinh an lạc trong kiếp kế; như thế, không có tâm Từ thì làm sao có thể làm cho tất cả chúng sinh thành tựu Nípbàn ? Và nếu muốn đưa tất cả chúng sinh đến Nípbàn Siêu thế, thì nên bắt đầu mong mỏi họ được thành công. - Bây giờ ta giúp họ bằng cách vì lợi ích và hạnh phúc của họ, sau đó họ sẽ là những người đồng hành cùng chia xẻ Pháp với ta. - Không có những chúng sinh này, ta không thể thành tựu được các pháp trợ đạo. Tâm từ là nhân làm hiển lộ và hoàn thiện tất cả các phẩm chất của Đức Chánh giác, những chúng sinh này là phước điền của ta để gieo trồng những cội rễ trong sạch, là nền tảng mà không một nền tảng nào có thể so sánh được, chúng sinh này là cảnh tốt đẹp đáng kính mến cao tột. Do vậy, nên đặc biệt khơi |