Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

 

Xuất Ly Độ
(Nekkhamma Pāramitā)

Tỳ khưu Chánh Minh

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


CHƯƠNG I

Ý nghĩa về hình thức xuất ly

Nekkhamma (xuất ly) là pháp rất cần thiết cho sự chứng đắc thiền định lẫn Nípbàn, là nồng cốt cho các pháp balamật (pāramī), những phước thiện đã thực hành nếu không có nekkhamma thì không thể “đến bờ kia”.

Các Giáo thọ sư tiền bối dạy: “Nekkhamma (xuất ly) và paññā (trí tuệ) là 2 thành phần chủ yếu của balamật (pāramī)”.

Nekkhamma là “có ý thoát ra” và trí là “thấy được cách thoát ra”, theo phương cách hướng đó mà thực hành, để đến bờ kia.

I- Ý nghĩa các từ ngữ.

1- Nekkhamma.

Ngữ nghĩa ban sơ của nekkhamma là: Na + căn ikkh [1] + amma = nekkhamma.

Hoặc là: Ni + căn ikkh + amma.

Na (hay ni ) nghĩa là “không có”, căn ikkh nghĩa là “thấy”, amma là “nữ nhân”.

Theo ngữ cách Pāli thì a+i = e, nên na+ căn ikkh = nekkha

Nekkha + amma = nekkhamma.

“Không thấy nữ nhân” ám chỉ “không quan hệ dục lạc với nữ nhân”, (nữ nhân ở đây chỉ cho vợ, hay những nữ nhân có thể trở thành vợ).

Để không “thấy nữ nhân, không quan hệ dục lạc với nữ nhân”, phải lìa bỏ nhà, sống nơi thanh vắng. Đây là ý nghĩa ban đầu của nekkhamma, tức là lìa bỏ nhà, sống không nhà (xuất gia).

Một vị thiên nhân bạch hỏi Đức Thế Tôn rằng:

“Kacci nathi kulāvakā?: Ngài không có tổ ấm?

Đức Thế Tôn đáp: Taggha natthi kulāvakā: Ta không có tổ ấm.

(Chư thiên): Kiṃ te brūmi kulāvakā : Cái gì Ngài gọi là tổ ấm?.

(Đức Thế Tôn): Bhariyaṃ brūsi kulāvakā: Vợ, gọi là tổ ấm. [2]

Nekkhamma thường được hiểu là “xuất gia”. Nhà ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng.

Trước thời Đức phật, các Bàlamôn xuất gia, tu tập thiền định với mục đích “thoát ra căn nhà dục giới” để tiểu ngã này trở về với đại ngã (Phạm thiên chủ). Như vậy nhà theo quan niệm Bàlamôn ám chỉ cho Dục giới (kāmabhūmi) hay lìa bỏ đắm nhiễmtrong năm dục (sắc, thinh, hương ,vị, xúc), gọi là xuất gia.

Khi Giáo pháp của Đức Thế Tôn lan rộng, thì ý nghĩa “nhà”, được mở rộng thêm, nhà ám chỉ “pháp hữu vi” hoặc “tam giới”.

Xuất gia là thoát ra khỏi pháp hữu vi (là danh sắc), là thoát ra khỏi tam giới. Vì rằng: “khi thoát ra mọi ràng buộc của pháp hữu vi, khi ấy pháp vô vi (Nípbàn) mới xuất hiện”.

Lại nữa, “ra khỏi nhà”, ám chỉ ra khỏi ái dục (taṅhā), khi dứt tuyệt ái (taṅhā) bấy giờ không còn sinh tử luân hồi, là ra khỏi tam giới”.

Như vậy, “nhà” ở đây chỉ cho ái (taṅhā), “xuất gia” là “ra khỏi ái”.

Khúc khải hoàn (udāna) của Đấng Giác Ngộ khi Ngài vừa chứng đạt quả Vô Thượng Chánh Giác đã nêu rõ điều này.

… Gahakārakaṃ diṭṭho’si, puna gehaṃ na kāhasi…

Ôi! Người thợ làm nhà kia, nay ta đã thấy ngươi.

Ngươi không làm nhà nữa…

Các Giáo thọ sư có giải thích: Người thợ làm nhà (gahakāraka) ám chỉ ái dục (taṅhā).

Như vậy, căn nhà trong kệ ngôn trên ám chỉ cho danh sắc hay thân ngũ uẩn, một khi người thợ “xây nhà (ái) [3] ” không còn, thì sẽ không có căn nhà (danh sắc) nào khác trong tương lai.

Lại nữa, nhà là một trú xứ đầy vướng bận, nên ra khỏi nhà ám chỉ thoát ra mọi phiền não, không còn vướng mắc bất cứ loại phiền não nào, nhà ở đây ám chỉ phiền não.

Kaṇhaṃ dhammaṃ vippabāya. Sukkaṃ bhāvedha paṇḍito

Okā anokaṃ āgarama.Viveke yattha dūramaṃ.

Kẻ trí bỏ pháp đen. Tu tập theo pháp trắng

Bỏ nhà sống không nhà. Sống viễn ly thanh vắng [4] .

Danh từ viveka, nghĩa đen là sự vắng vẻ, sự tách biệt. Viveka xuất phát từ động từ viveceti (vi+ căn vic +e), tiếp đầu ngữ VI nghĩa là “đặc biệt”, nên nghĩa bóng của viveaka là: “lánh xa phiền não, thoát khỏi mọi trói buộc của thế tục”.

Một cách giải tự khác là:

Nekkhamma là biến âm từ nikkhamma; nikkhamma xuất phát từ động từ nikkhamati.

2- Động từ nikkhamati.

Xét động từ nikkhamati= Ni + căn kamu [5] + a.

Căn kamu là: “đi, tiến tới”.

Ni + căn kamu + a -> động từ nikkamati hay nikkhamati, nghĩa là: “đi ra khỏi”, biến cách của nghĩa trên là “xuất gia”.

Quá khứ phân từ (past participle) của nikkhamati là nikkhanta, nghĩa là “đã đi ra ngoài”.

Từ nikkhanta, nảy sinh nikkhamma (hay nekkhamma) mà nghĩa ẩn dụ “thoát ra ” đã thay thế hoàn toàn nghĩa đen “xuất gia”.

Một trong những ý nghĩa ẩn dụ của nekkhamma là “ra khỏi ái”, nên nekkhamma (hay nikkhamma) có thể nảy sinh từ chữ nikkāma, nikkāma là “không có dục” hay “không tình dục”, nhưng tính từ nikkāma mang ý nghĩa hạn hẹp và không phổ biến lắm. Sự tương phản giữa kāma (dục) và nekkhamma (xuất ly) được tìm thấy qua những đoạn kinh văn sau:

“Kāmānametaṃ nissaraṇaṃ yadidaṃ nekkhammaṃ

- Thoát ra sự liên hệ với dục (kāma), đó là xuất ly” [6] .

Hoặc:

“Dvemāni, bhikkhave, sukhāni. Katamāni dve? Kāmasukhañca, nekkhamma sukhañca, imāni kho, bhikkhave, dve sukhāni.

- Có hai loại lạc này các tỳ khưu! Thế nào là hai? Dục lạc và xuất ly (dục) lạc”, này các tỳkhưu, đây là hai loại lạc.

Etadaggaṃ, bhikkhave, imesaṃ dvinnaṃ sukhānaṃ yadidaṃ nekkhammasukhan’ti.

Này các tỳkhưu, tối thắng trong hai lạc này, đó là xuất ly lạc. [7] .

Hay:

“Pañca kāmaguṇe hitvā, piyarūpe manorame,

saddhāya gharā nikkhamma,

dukkhassantakaro bhava.

Bỏ năm dục trưởng dưỡng, khả ái và đẹp ý.

 Với lòng tin ra khỏi nhà (gharā nikkhamma),

hãy trở thành con người,

Làm chấm dứt khổ đau”. [8]

Một Bàlamôn bạch hỏi Đức thế Tôn rằng:

“Pucchāmi muniṃ pahūtapaññaṃ.

Tiṇṇaṃ pāraṅgataṃ parinibbutaṃ ṭhitattaṃ;

Nikkhamma gharā panujja kāmā.

Kathaṃ bhikkhu sammā; so loke paribbajeyya?.

“Tôi hỏi bậc ẩn sĩ; có trí tuệ rộng lớn.

Đã vượt qua bờ kia; tịch tịnh, tự an trú.

Làm sao một tỳkhưu; bỏ nhà, bỏ các dục.

Lại có thể chân chánh; du hành ở trên đời?

Đức Thế Tôn đã dạy những pháp của bậc xuất gia chân chánh, một trong những pháp ấy là:

“Rāgaṃ vinayetha mānussesu; dibbesu kāmesu cāpi bhikkhu.

Atikkamma bhavaṃ samecca dhammaṃ; sammā so loke paribbajeyya.

“ Tỳkhưu nhiếp phục tham; đối với các dục vọng (kāma).

Tại thiên giới, nhân giới; vượt hữu, chứng tri pháp.

Tỳkhưu ấy chân chánh; du hành ở trên đời” [9] .

(chữ gharā nghĩa đen là “chỗ trú ngụ”, nghĩa bóng là “cảnh giới tái sinh – bhava”).

Thay thế cho nekkhamma với ý nghĩa “xuất gia” là từ pabbaja, như bản Sớ giải Hạnh tạng (Cariyapiṭaka – atthakathā) có ghi:

Nekkhammam pabbajjamūlakaṃ [10] .

Câu pāli này có thể hiểu hai cách:

- Nền tảng xuất gia là sự thoát ly. Tức là: “ý muốn thoát ra là nhân, đời sống xuất gia là quả.

Hay:

- Sự xuất gia là nền tảng cho thoát ly. Tức là: “Đời sống xuất gia (là nhân) dẫn đến “sự thoát ra” mọi trói buộc (là quả).

Những từ dùng để chỉ bậc xuất gia là: Pabbajjā (bậc xuất gia), isi (đạo sĩ), muni (ẩn sĩ), paribbājaka (du sĩ), samaṇa (Samôn), bhikkhu (Tỳkhưu)… Nhưng mỗi từ lại có nét sai biệt khác nhau.

3- Pabbaja (xuất gia).

Danh từ này được dùng nhiều trong hệ thống kinh điển Phật giáo. Như:

Khantī paramaṃ tapo tikikkhā

Nibbānaṃ paramaṃ vadanti buddhā

Na hi pabbajito [11] parūpaghātī

Samaṇo hoti paraṃ viheṭhayanto.

Chư Phật dạy:

Nhẫn nại là hạnh tối thượng

Nípbàn là chứng đắc tối thượng, gây tổn thương người

không phải là bậc xuất gia,

Sa môn không hại ai [12] .

Hoặc:

“Sambādho ghārāvāso rayāpatho.

Abbho kāso pabbajjā

- Đời sống gia đình bị gò bó, con đường đầy những bụi đời.

 Đời sống xuất gia (pabbajjā) như sống giữa hư không” [13] .

Hay là: “Dvemāni, bhikkhave, sukhāni. Katamāni dve?

- Này các Tỳkhưu! Có hai lạc. Thế nào là hai?

Gihisukhañca pabbajitasukhañca”.

Lạc tại gia và lạc xuất gia [14] .

- Trước tiên, một ý nghĩa của pabbaja là “lau, sậy”. Như Kinh văn:

“… Etassa, Ānanda, dhammassa ananubodhā appaṭivedhā evamayaṃ pajā tantākulakajātā kulagaṇḍhikajātā muñjapabbajabhūtā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ saṃsāraṃ nātivattati.

“… Này Ānanda, chính vì không hiểu rõ pháp này [15] , không giác ngộ, không chứng nhập (pháp này) mà chúng sinh này bị rối ren như cuộn chỉ, bị phủ đầy bệnh cằn cỗi (kulagaṇḍhikajātā), như cỏ muñjā, như cây lau (pabbaja), không thoát khỏi luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ.” [16]

Hình ảnh cây lau cho chúng ta ý niệm “dù có cuồng phong bảo tố, sau khi những cơn gió mạnh đi qua, cây lau vẫn vươn mình đứng dậy”.

Cũng vậy, đời sống xuất gia “an nhiên” trước những ngọn gió đời, không vì hạnh phúc thế gian hay bất lạc của cuộc sống mà chao động tâm. Cho dù có những chướng ngại trong đời sống xuất gia, nhưng với người có tâm tầm cầu pháp của bậc thánh sẽ vượt qua như “lau sậy” vượt qua được cuồng phong bảo tố.

Một thiên nhân có hỏi bạch hỏiĐức Phật:

“Araññe viharantānaṃ, santānaṃ brahmacārinaṃ;

Ekabhattaṃ bhuñjamānānaṃ, kena vaṇṇo pasīdatī’ti.

“Thường sống trong rừng núi, liên tục hành phạm hạnh

Một ngày ăn một bữa, sao dung sắc thù diệu?

Đức Phật đáp:

Atītaṃ nānusocanti, nappajappanti nāgataṃ;

Paccuppannena yāpenti, tena vaṇṇo pasīdati;

Không than việc đã qua, không mong việc sắp tới.

Sống ngay với hiện tại, do vậy, sắc thù diệu.

Anāgatappajappāya, atītassānusocanā;

Etena bālā sussanti, naḷova harito luto’ti.

Do mong việc sắp tới, do than việc đã qua.

Nên kẻ ngu héo mòn, như lau xanh rời cành. [17]

Và rõ ràng, trong kệ ngôn trên, Đức Phật ví danh sắc này như cây lau, mỏng manh, yếu ớt.

Lại nữa, cây lau có bản chất yếu ớt mong manh, đời sống chúng sinh cũng mong manh như thế, đời sống danh sắc này do có nhân có duyên, danh sắc này thật mong manh, yếu ớt như lau sậy.

Đức Sāriputta đưa ra hình ảnh hai cọng lau nương dựa nhau mà đứng, một khi có một cọng lau rơi ra thì cọng lau kia cũng ngã xuống. Cũng vậy, dựa vào danh sắc, thức sinh khởi; dựa vào thức danh sắc sinh khởi, khi danh sắc diệt thì thức diệt, khi thức diệt thì danh sắc diệt. Tương tự như thế với các pháp còn lại trong 12 duyên khởi. [18]

Bậc xuất gia, quán xét danh sắc này không bền vững, nó mong manh và từ đó có hướng thoát ly ra khỏi “cái mong manh, yếu ớt” này, không mong cầu có danh sắc nào khác.

“Pheṇūpamaṃ kāyamimaṃ viditvā

Marīcidhammaṃ abhisambudhaano

Chetvāna mārassa papupphakāni

Adassanaṃ maccurājassa gacche.

Biết rằng thể xác này tựa hồ như bọt nước và thấu triệt bản chất mờ ảo của nó, ta phải tiêu trừ những cánh hoa của dục vọng (ma vương) và vượt qua tầm mắt của tử thần”. [19]

Lại nữa, thân lau trống rỗng; cũng vậy, danh sắc này vốn rỗng không (một đặc tướng của vô ngã), không có cốt lõi và bậc xuất gia nhìn danh sắc này với ý niệm “không phải là ta”, “không phải của ta”.

*-Pabbaja với nghĩa xuất gia.

Chữ pabbajati = pa (đầy đủ) + căn vaja + e [20] .

Căn vaja có hai nghĩa: đi, đến tầm cầu, tìm kiếm [21] .

Như vậy, có thể hiểu pabbaja (xuất gia) là “người đi tới trọn vẹn” hay “người tầm cầu đầy đủ”.

a- Pabbaja với ý nghĩa “đi tới trọn vẹn”.

 Đó là người “lìa bỏ nhà, sống không nhà”, là người có:

- Hình thức khác kẻ thế.

- Nội tâm thì không còn luyến lưu đời sống thế tục.

Và pabbaja được hiểu là “xuất gia”.

“ Sacce ca so pabbajati, agārā anagāriyaṃ;

Vivaṭṭacchado sambuddho, arahā bhavati anuttaro.

“Nếu vị ấy xuất gia; bỏ nhà sống không nhà,

Quét sạch màn vô minh; vị ấy, được trở thành,

Bậc Chánh đẵng giác. Bậc Ứng cúng vô thượng” [22] .

b- Ý nghĩa: “Bỏ nhà, sống không nhà (agārā anagāriyaṃ)”.

Trước tiên là khước từ trú xứ ở bên ngoài, bất kỳ một trú xứ nào cũng mang lại nhiều vướng bận, nên đời sống của bậc xuất gia thường “nay đây mai đó”, không có trú xứ nhất định, đời sống của các Ngài như “hạc nội mây ngàn”, không thể lưu luyến chỗ trú ngụ như kinh văn:

Santha vāto bhayaṃ jātaṃ; niketa jāyate rayo

Aniketatama santhavaṃ, etaṃ ve munidassanaṃ.

“Thân mật, sanh sợ hãi; trú xứ, sanh bụi bậm

Không trú xứ, không thân; hình ảnh bậc ẩn sĩ” [23] .

 Thứ đến là nói đến trú xứ tái sinh hay cảnh giới tái sinh, bậc xuất gia khước từ mọi cảnh giới tái sinh.

“Trú xứ (niketa) sinh bụi bậm”, hiểu theo nghĩa rộng thì: “Bất cứ cảnh giới tái sinh nào cũng sinh nhiều khổ lụy”.

“Aññāya sabbāni nivesanāni, anikāmayaṃ aññatarampi tesaṃ

Save muni vitagedho agiddho…

“Đã rõ mọi trú xứ. [24]

Không ham trú xứ nào Vị ấy, chân ẩn sĩ

Không tham, không say đắm… (sđd).

c- Pabbaja với ý nghĩa tầm cầu.

Trong thời không có Giáo pháp của Đức Chánh giác, vị xuất gia thường “tìm kiếm” những thiền chứng.

Theo truyền thống Bàlamôn thì: Từ nhỏ đến 48 tuổi, các Bàlamôn có huyết thống thanh tịnh thường tầm cầu minh và hạnh.

Minh là tam minh, hạnh là không dâm dục, sau đó đi xuất gia tu tập để chứng đạt các tầng thiền.

Về Tam minh theo truyền thống Bàlamôn là:

- Huyết thống thanh tịnh cả 7 đời từ phụ mẫu hệ.

Để có được huyết thống thanh tịnh này, cha mẹ phải thuộc dòng Bàlamôn, nam Bàlamôn không giao phối với nữ Bàlamôn trong thời nữ Bàlamôn có mang, vì như thế đứa bé sẽ bị ô uế.

Nam bà la môn không giao phối với nữ Bàlamôn trong thời nữ Bàlamôn cho con bú, vì hài tử sẽ bị ô uế.

- Là nhà phúng tụng (ajjhāyako), nhà trì chú (mantadharo), thông hiểu ba tập Vedā với: Danh nghĩa, lễ nghi (nighaṇdu - keṭubhānaṃ), ngữ nguyên, chú giải (sākharappabhedānaṃ) và các cổ truyện (itihāsapañcamānaṃ) là thứ năm.

- Là nhà biện tài (anavayo) về thuận thế học (lokāyata), thông thạo đại nhân tướng (mahāpurisalakkhaṇa [25] )

Đức Thế Tôn có giảng cho Bàlamôn Doṇa về 5 hạng Bàlamôn:

- Bàlamôn đồng đẳng với Phạm thiên.

- Bàlamôn đồng đẳng với chư Thiên.

 - Bàlamôn có giới hạn.

- Bàlamôn vượt giới hạn.

- Bàlamôn như chiênđàla (caṇḍala).

Cả 5 hạng Bàlamôn này đều có huyết thống thanh tịnh cả 7 đời từ mẫu phụ hệ, đều sống 48 năm phạm hạnh đồng trinh, đều học tập những chân ngôn (những môn học kể trên).

Sau đó, vị Bàlamôn trao sự nghiệp (việc tế lễ, dạy học cho các Bàlamôn trẻ …) cho người kế thừa, vị ấy xuất gia tu tập tứ vô lượng tâm. Đây gọi là Bàlamôn đồng đẳng với Phạm thiên.

Vị Bàlamôn sau khi trao sự nghiệp cho người kế thừa, vị ấy đi tìm vợ đúng pháp, với mục đích sinh con. Sau khi có con, vị ấy xuất gia, tu tập chứng được 4 thiền chứng. Đây là hạng Bàlamôn đồng đẳng với chư thiên.

Vị Bàlamôn sau khi trao sự nghiệp lại cho người kế thừa, vị ấy tìm vợ đúng pháp, với mục đích sinh con. Sau khi có con, vì thương con, sống trong gia đình, không xuất gia, nhưng không vượt qua giới hạn của các bàlamôn thời xưa. Đây gọi là Bàlamôn có giới hạn.

Hai hạng còn lại vượt qua truyền thống của Bàlamôn cổ sơ [26] .

Như thế, để tầm cầu những thiền chứng thì “giả từ dâm dục” là điều kiện cần thiết trước tiên. Do đó cần phải “bỏ nhà, sống không nhà”, sống không liên hệ thân mật với nữ nhân.

 Trong thời có Giáo pháp của Đức Chánh giác thì bậc xuất gia thường tầm cầu Thánh quả Siêu thế hay Nípbàn.

Đức Phật có dạy:

Dhamma cariyaṃ brahmacariyaṃ. Etadāhu vasuttamaṃ

Pabbajito ce hoti. Āgarā anāgāriyaṃ.

Pháp hạnh và phạm hạnh. Được gọi là tối thượng hạnh

Nếu là bậc tầm cầu. Bỏ nhà, sống không nhà [27] .

Hay: “So evaṃ pabbajito samāno kiṃkusalagavesī anuttaraṃ … .

“Ta [28] xuất gia như vậy, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tầm cầu vô thượng tối thắng đạo lộ, hướng đến tịch tịnh…” [29] .

Ý nghĩa “tầm cầu trọn vẹn” này được tìm thấy qua bài kinh Gavesī [30] .

Tóm lược bài kinh ấy như sau:

Gavesī là một nam cư sĩ của Đức Thế Tôn Kassapa (Ca Diếp), Gavesī có hội chúng là 500 nam cư sĩ, nhưng cả Gavesī cùng hội chúng giữ giới không được viên mãn.

Cư sĩ Gavesī suy nghĩ: “Ta giúp đỡ nhiều cho 500 nam cư sĩ này, ta đi trước, ta khích lệ chúng. Nhưng ta không giữ giới luật được viên mãn, như vậy là đồng đẳng nhau. Vậy ta hãy thực hành trội hơn.

Nam cư sĩ Gavesī đi đến hội chúng nói rằng:

- Này các tôn giả, kể từ nay ta sẽ thọ trì viên mãn các giới luật.

Hội chúng 500 cư sĩ ấy suy nghĩ: “Tôn giả Gavesī giữ gìn viên mãn trong các giới luật. Tại sao chúng ta lại không như vậy”.

Thế rồi, hội chúng ấy thọ trì giới luật viên mãn như nam cư sĩ Gavesī. Nam cư sĩ Gavesī suy nghĩ “500 cư sĩ này thọ trì giới luật viên mãn như ta, vậy là đồng đẳng như ta. Ta phải thực hành trội hơn”.

Và nam cư sĩ tuyên bố hành phạm hạnh, từ bỏ dâm dục hạ liệt. Hội chúng của Gavesi cũng thực hành như thế.

Rồi Gavesi muốn vượt trội hơn hội chúng của mình nên từ bỏ ăn phi thời, hội chúng của Gavesi cũng thực hành như thế.

Thế rồi, Gavesī xuất gia trong Giáo pháp của Đức Phật Kassapa. Sau khi thọ đại giới, vị ấy sống một mình, an tịnh không phóng dật, không bao lâu vị ấy chứng quả Alahán.

Hội chúng 500 nam cư sĩ cũng theo gương Gavesī, xuất gia thọ đại giới, không bao lâu sau, các vị ấy cũng chứng quả Alahán.

Đây là ý nghĩa “tầm cầu trọn vẹn”, ám chỉ chứng đạt quả vô sinh bất tử.

4- Isi (đạo sĩ).

Isi là bậc xuất gia chứng đạt được năng lực thần thông, nên isi còn có nghĩa là “nhà tiên tri”, “tiên nhân”.

Xuất gia theo cách đạo sĩ là: “Tuy lìa bỏ nhà, sống không nhà, ở nơi thanh vắng, nhưng không cạo bỏ râu tóc”.

Vị đạo sĩ giữ 6 giới, đó là: Không sát sinh, không trộm cắp, không hành dâm, không nói dối, không uống rượu cùng các chất say và không ăn phi thời (tức là chỉ ăn trước khi mặt trời đứng bóng).

Kinh điển có ghi nhận từ Isi này:

- … Asito isi addasa divāvihāra: Đang lúc nghĩ trưa, đạo sĩ Asita thấy [31]

- Uḷaro so Kaṇho isi ahosi: Kaṇha là đại đạo sĩ. [32] .

- Isipatanaṃ migādāyo: Rừng nai ờ Isipatana. [33] ….

Tương truyền, trước khi Bồtát giáng sinh vào thai bào, có tiếng xôn xao (kolāhala) của Chư thiên, Phạm thiên báo hiệu Đức Chánh giác sắp xuất hiện.

Chư Độc Giác hiểu biết được điều này, các Ngài nhanh chóng viên tịch, các Ngài chọn rừng nai này để viên tịch.

Dân chúng thấy các đạo sĩ đi vào khu rừng nai, không thấy trở ra, nên gọi nơi này là “Isipatana (Tiên nhân rơi xuống)”.

Nên ghi nhận: Dân chúng gọi các vị Độc giác Phật là Isi, không phải vì các Ngài còn râu tóc, mà do nghĩ rằng “các Ngài là bậc đại tiên”.

Trong bản Sớ giải kinh Tê giác một sừng (khaggavisāṇasuttaṃ) [34] , câu truyện đầu tiên có ghi nhận:

Khi vua Brahmadatta giữa chốn ba quân, Ngài phát triển tuệ quán chứng quả Độc giác Phật (Paccekabuddha), triều thần cung thỉnh Đức vua trở về kinh thành để còn ban thưởng cho các tướng sĩ, Ngài dạy rằng:

-Ta không còn là vua nữa, ta là vị Phật Độc giác.

Triều thần ngạc nhiên nhìn Đức vua, rồi đồng ái ngại:

- Chư Phật Độc giác không có vị nào có hình tướng như Đại vương đâu ạ.

- Nghĩa là phải như thế nào?

- Thưa các Ngài có đủ y bát cùng các vật dụng của hàng xuất gia và tóc của chư Phật Độc giác có dài lắm chỉ khoảng 2 lóng tay thôi.

Ngay lúc ấy, Đức vua Brahmadatta đưa tay sờ lên đầu mình, chỉ trong nháy mắt hình thức cư sĩ biến mất, để Ngài thật sự trở thành vị Phật Độc giác với đầy đủ hình thức và nghi hạnh của bậc xuất gia thâm niên [35] .

Năm loại Kolāhala (lời tiên tri). [36]

Kolāhala là tiếng đồn lan rộng do nhiều người bàn tán, kolāhala giống như “lời tiên tri” được nhiều người bàn tán, như báo trước một sự kiện đặc biệt sắp xẩy ra và sự kiện này “thật sự xảy ra”, không phải là lời đồn nhãm.

Có 5 loại kolāhala là:

- Kappa kolāhala (tiên tri về hoại kiếp).

Là tiếng báo động cho nhân loại biết về sự tiêu hoại của quả địa cầu.

Theo Sớ giải Chánh giác Tông thì: Khi quả địa cầu sắp bị hoại sau 100 ngàn năm nữa, bấy giờ có hạng chư thiên địa cầu là lokavyūha, hóa thân thành nhân loại, mặc y phục đỏ, xỏa tóc, đi khắp nơi với mặt tràn đầy nước mắt, rằng: “Sau 100 ngàn năm nữa, kể từ hôm nay, quả đất này sẽ bị tiêu hoại. Hãy tu tập tứ vô lượng tâm, là pháp của những Phạm thiên, hãy cung kỉnh cha mẹ, hãy làm các phước thiện, đừng có dễ duôi.”

Rồi các đám đông bàn tán xôn xao về hiện tượng này. Đây là kappa kolāhala (lời tiên tri về hoại kiếp).

- Cakkavatti kolāhala (lời tiên tri về vua Chuyển luân).

Là tiếng xôn xao khởi lên trong cõi nhân loại “báo hiệu có vua Chuyển luân xuất hiện”.

Những vị Thiên nhân địa cầu, hộ trì thế gian (lokapāla), do biết trước có vị vua Chuyển luân xuất hiện, các vị ấy vui mừng, hóa thân thành nhân loại thông báo cho mọi người biết rằng:

“Thưa quí vị, kể từ hôm nay, sau một trăm năm nữa, sẽ có vua Chuyển luân xuất hiện.”

Thế rồi, nhân loại bàn tán xôn xao về vấn đề này. Đây là Cakkavatti kolāhala (lời tiên tri về vua Chuyển luân).

- Buddha kolāhala (lời tiên tri về Đức Chánh giác xuất hiện).

Các vị Phạm thiên cõi Tịnh cư (cõi dành cho bậc Thánh Anahàm) biết được “còn một ngàn năm nữa, Đức Chánh giác xuất hiện trong thế gian”, nên hóa thân thành nhân loại, trang phục như vị Phạm thiên đi khắp nơi thông báo tin vui này.

Và dân chúng bàn tán xôn xao về hiện tượng này. Đây là buddha kolāhala (lời tiên tri về sứ xuất hiện của Đức Chánh giác), chính vì nhận biết được vị Chánh giác sắp xuất hiện, nên các Độc Giác Phật nhanh chóng viên tịch.

- Maṅgala kolāhala(lời tiên tri về hạnh phúc).

Vì không thấu hiểu pháp dẫn đến điều hạnh phúc, các bậc trí giả hội nhau, bàn luận về “điều gọi là hạnh phúc cao tột (maṅgalamuttama)”, không ai chấp nhận ý kiến của ai cả.

Và tiếng bàn tán xôn xao này khởi lên trước khi Đức Phật giảng kinh Hạnh phúc (Maṅgalasuttaṃ) là 12 năm. Đây là maṅgala kolāhala (lời tiên tri về hạnh phúc).

- Moneyya kolāhala (lời tiên tri về pháp tịch mặc).

Các vị Phạm thiên Tịnh cư thiên, biết được vị Bồtát Chánh giác có 32 đại nhân tướng, xuất gia sẽ trở thành vị Chánh giác. Khi Bồtát xuất gia, các Phạm thiên hóa thân nhân lọai, thông báo “pháp của bậc chân ẩn sĩ sẽ được rao giảng”, dân chúng bàn tán về vấn đề này.

Và “pháp tịch mặc của chân ẩn sĩ”, được Đức Phật thuyết giảng cho đạo sĩ Nalaka. Từ khi tiếng xôn xao khởi lên cho đến khi Đức Phật thuyết giảng kinh Nalaka là 7 năm. Đây gọi là moneyya kolāhala (lời tiên tri về páhp tịch mặc xuất hiện).

Theo nghĩa bóng thì isi ám chỉ bậc có trí siêu việt, và Đức Phật cũng được xem như vị isi (và isi ở đây chỉ cho bậc ẩn sĩ, đồng nghĩa với muni).

“Nāganāmosi bhagavā, isinaṃ isisattamo…

Đức Thế Tôn là voi chúa,

Bậc ẩn sĩ thứ bảy, trong các vị ẩn sĩ … [37] .

5- Muni (ẩn sĩ).

Về hình tướng: Là bậc xuất gia, trú nơi thanh vắng, nơi yên tịnh.

Về nội tâm: Là vị đã đoạn tận mọi phiền não.

Trong Tiểu Bộ kinh, bài kinh Ẩn sĩ (Munisuttaṃ) [38] , Đức Phật giảng dạy “thực hành những pháp, để trở thành bậc ẩn sĩ”.

Và khi thành tựu được những pháp ấy, đó là “chân ẩn sĩ”. Xin nêu một vài đoạn kinh như sau:

“Yo jātamucchijja na ropayeyya, jāyantamassa nānuppavecche;

Tamāhu ekaṃ muninaṃ carantaṃ, addakkhi so santipadaṃ mahesi (Sn, 210).

“Vị chấm dứt táisinh, không còn gieo hạt giống;

Cắt đứt mọi sinh hữu, không tùy thuộc (vào sinh)

Không đi quanh trong tối, vị ẩn sĩ một mình,

Con đường thanh tịnh ấy, bậc Đại sĩ đã thấy.

“Saṅkhāya vatthūni bījaṃ, sinehamassa nānuppavecche;

Sa ve muni jātikhayantadassi, takkaṃ pahāya na upeti saṅkhaṃ (Sn, 211).

“Suy xét ruộng [39] , hạt giống [40] ,

 không tùy thuộc (nānuppaveccha) thương yêu [41] .

Vị ấy chân ẩn sĩ, thấy chấm dứt tái sinh,

Diệt trừ mọi lý luận, không rơi vào so sánh (saṅkha). [42]

“Sabbābhibhuṃ sabbaviduṃ sumedhaṃ,

Sabbesu dhammesu anūpalittaṃ;

Sabbañjahaṃ taṅhakkhaye vimuttaṃ,

Taṃ vāpi dhīrā muni vedayanti (Sn, 213).

“Bậc chiến thắng toàn diện, bậc toàn tri, thiện tuệ.

Đối với tất cả pháp, không còn bị ô nhiễm (anūpalittaṃ)

Bậc từ bỏ tất cả, ái đoạn diệt giải thoát.

Các bậc trí nhận thức, vị ấy thật ẩn sĩ. (HT. TMC dịch).

Như vậy chữ Muni (ẩn sĩ) ngầm ám chỉ bậc Alahán, bậc Độc Giác và bậc Chánh giác.

Bản Sớ giải bộ Pháp tụ (DhA.521) giải rằng:

Moneyya paṭipadāya maggaphalaṃ pattā asekkha = munayo

Con đường tịch mặc chứa đựng Thánh đạo của bậc Thánh vô học, gọi là “gương mặt ẩn sĩ”.

Bản Sớ giải Mahā Nidesa (57) và Cūla Nidesa (514A), có nêu ra 6 bậc ẩn sĩ là: Agāramuni (tại gia ẩn sĩ), anāgāramuni (xuất gia ẩn sĩ, ám chỉ các vị Tỳkhưu thực hành hạnh Đầu đà ở rừng), sekkhāmuni (vị Thánh hữu học), asekkhamuni (vị Thánh Alahán), paccekamuni (Đức Độc giác) và Munimuni (Đức Chánh giác).

6- Paribbājaka (dusĩ).

Là hạng xuất gia đi lang thang từ làng mạc này sang châu quận khác. Nếu những du sĩ này thích biện luận, vấn pháp với nhau, được gọi là những biện sĩ.

7- Samaṇa: (Samôn) (sama: là yên lặng):

Trước tiên, Samôn là danh từ gọi cho bậc xuất gia mà vị này không thuộc giòng Bàlamôn. Như chúng ta thấy các hội chúng Bàlamôn thường gọi Đức Phật là “Samôn Gotama” vì Ngài xuất thân từ dòng Sátđếlỵ (khattiya) …

Samôn là những bậc xuất gia sống an tịnh, không thích cảnh náo nhiệt, sống nương trú ở nơi thanh vắng, điển hình là câu chuyện của Aggidatta như sau:

Bàlamôn Aggidatta là vị cố vấn đại thần của vua Mahā Kosala (phụ hoàng của vua Pasenadi).

Khi vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) lên ngôi,, Bà la môn Aggidatta suy nghĩ “Ta nay đã già, đã đến lúc ta nên sống đời sống xuất gia”.

Rồi Bàlamôn Aggidatta xin từ quan, công bố lên bố lên ý định của mình bằng cách: “thông báo sự bố thí hết gia sản của mình trong thành Sāvatthī suốt bảy ngày”.

Sau đó, Bà la môn Aggidatta tìm đến một trú xứ thanh vắng ở giữa ba quốc độ Aṅga, Magadha và Kuru để ẩn tu [43] .

8- Bhikkhu (Tỳkhưu).

Danh tự này dùng chỉ cho những bậc xuất gia trong Phật giáo.

Ý nghĩa thông dụng của từ bhikkhu (khikkhu) là “người đi xin ăn”.

Lần trở về kinh thành Kapilavatthu (Catỳlavệ) để tế độ quyến thuộc, Đức Phật có nói với vua Suddhodana (Tịnh Phạn) rằng:

“Anekāni hi buddhasahassāni piṇṇāya caritvāva jīviṃsū’ti.

- “Hằng ngàn chư Phật quá khứ vẫn đi khất thực nuôi mạng sống” [44] .

Theo chú giải kinh Tứ Niệm Xứ thì:

Bhikkhati sīlenā’ti bhikkhu:

“ Là người có giới hạnh đi xin ăn, gọi là Tỳkhưu”.

Đây là ý nghĩa “người đi xin ăn”. Và đây là hình thức của bậc xuất gia trong Phật giáo.

Ngoài ra thì:

Bhikkhu = căn bhī + căn ikkh + u.

“Thấy sợ hãi, là bhikkhu (Tỳkhưu)”.

Ngài Buddhagosa (Giác Âm) có giải thích:

Saṃsāre bhayaṃ ikkhatī’ti bhikkhu [45]

Bậc thấy sợ hãi trong luân hồi, gọi là Tỳkhưu”.

Đây là ý nghĩa của “kinh sợ hiễm họa phiền não ma (Bố ma)”.

Hay: Bhikkhu = Căn bhidi [46] + căn ikkh +u.

“Thấy (rồi) phá vỡ, là bhikkhu (Tỳkhưu)”. Có thể hiểu theo hai cách: “Vị thấy rõ các phiền não rồi hủy diệt các phiền não ấy, vị ấy gọi là Tỳkhưu”, hay “hủy diệt quan kiến sai lầm, gọi là Tỳkhưu”.

Quan kiến sai lầm ở đây là thấy “ta” và “của ta”. Trong kinh điển Đức Phật thường khuyến cáo các môn đệ “hãy lìa bỏ cái tacái của ta”, vì đó là chướng ngại (palibodha) trước tiên cho sự chứng đắc Thánh quả.

- Bhinna kilesa = bhikkhu:

Đã loại trừ phiền não, là tỳkhưu” [47] .

Rõ ràng hơn là:“Sattannaṃ dhammānaṃ bhinnattā bhikkhu [48] .

“Trừ diệt bảy pháp (đưa đến luân hồi), gọi là tỳkhưu”.

Bảy pháp đó là gì?

Đó là: Thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), hoài nghi (vicikicchā), giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa), luyến ái (rāga), sân (dosa), mạn (māna).

“Paṭipannako hī devo vā hotu manusso vā bhikkhu’ti saṅkhayaṃ gacchatiyeva”.

“Người thực hành đi đến phá hủy (tội lỗi), dù là người hay chư Thiên, đều được xem là tỳkhưu”.

Đây là ý nghĩa của phá ác.

Như vậy, bhikkhu (tỳkhưu) có ba nghĩa:

- Kẻ đi xin ăn.

- Kẻ kinh sợ phiền não luân hồi.

- Kẻ hủy diệt điều xấu xa, tội lỗi.

Điều 1 là hình thức tỳkhưu, hai điều sau là “tâm lý tỳkhưu”.

II- Sự liên hệ giữa xuất ly và xuất gia.

Có lần, ông Hoàng Mahānāma dòng Thíchca có bạch với Đức Phật rằng: Tuy ông vẫn biết tham, sân, si là nhơ nhớp (upakkilesa) của tâm, nhưng vì sao thỉnh thoảng tham, sân, si vẫn xâm chiếm và an trú trong tâm của ông.

Ông bạch hỏi “trong ông còn một pháp gì chưa đoạn trừ, khiến tham, sân, si khởi lên an trú trong tâm của ông?”. Phật dạy: “Chính là dục (kāma)”.

“So ca hi te Mahānāma dhammo ajjhattaṃ pahīno abhavissaya na tvaṃ agāraṃ ajjhāvaseyyāsi, na kāme pari bhuñjeyyāsi.

“ Và này Mahānāma, có thể đoạn trừ pháp ấy trong ngươi, khi người sống không nhà, không thụ hưởng các dục.” [49]

Theo lời Phật dạy ở trên, chúng ta thấy “Đời sống thụ hưởng năm dục (kāma), là sự trói buộc tâm, khiến tâm rơi vào tham, sân, si; bị tham, sân, si xâm chiếm và chế ngự. Đồng thời cũng là duyên (paccaya) khiến tham, sân, si sinh khởi và tăng trưởng”.

Như đã giải thích: Nekkhamma với nghĩa ẩn dụ “thoát ra”, hoàn toàn thay thế ý nghĩa “xuất gia” ban đầu, như nói “mừng thầm trong bụng”, bụng không còn mang ý nghĩa “phần chứa đựng dạ dày, ruột già, ruột non”, mà mang ý nghĩa “tình cảm hân hoan”.

Nhưng hai ý nghĩa “xuất ly” và “xuất gia” lại có mối tương quan với nhau, nên các Giáo thọ sư trong bộ Sớ giải Hạnh tạng có nêu lên: “Nekkhamma pabbajjamūlakaṃ”.

Nekkhamma mang ý nghĩa “xuất ly”, ý nghĩa này tương đương với “giải thoát – vimutti”.

Có hai loại giải thoát: Thoát ra khỏi dục lạc (kāma) và thoát ra khỏi luân hồi (saṃsāra).

Có thoát ra các dục (kāma), rồi thực hành pháp khi ấy mới thoát ra khỏi luân hồi, như lời dạy của Đức Phật: “Vị Tỳkhưu ly ác- bất thiện pháp, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh …”

Mặt khác, sinh tử luân hồi là quả của tham (dục), chỉ khi nào thoát ra khỏi tham (dục), khi ấy mới thoát ra khỏi sinh tử.

Để thoát ra sinh tử luân hồi, phải tu tập những pháp nhằm mục đích thoát khỏi tham, mà ra khỏi tham dục là bước trước tiên.

Đời sống xuất gia là nhân gần cho sự thoát ra khỏi tham dục, nên có cách hiểu: Xuất ly có nền tảng là xuất gia (tức là xuất ly là kết quả của xuất gia).

Nhưng cũng có những chúng sinh có trí, khi thấy những bất ổn, tai hại, hiễm họa trong cuộc sống, người này có hướng “thoát ra những hiểm nạn ấy”, nên từ bỏ đời sống gia đình ra đi xuất gia, nên có cách hiểu “đời sống xuất gia là quả của xuất ly”.

Có ví dụ cho hai cách hiểu này như sau:

Có hai người cùng đi đốn cây, người thứ nhất đốn cây để tu sữa lại căn nhà hư hỏng, người thứ hai đi đốn cây để xây dựng căn nhà mới.

Hai căn nhà, một có trước, một chưa có, nhưng sự đốn cây chỉ có một “mục đích”. Cũng vậy, “cho dù xuất gia trước, ý thoát ly sinh sau” hay “ý thoát ly có trước, đời sống xuất gia có sau”, tất cả chỉ có mục đích thoát ra cái khổ do tham dục mang đến”.

Cho dù hiểu như thế nào đi nữa thì: Nekkhamma vẫn là chính, còn đời sống xuất gia là phụ.

Tuy nhiên, cũng không nên xem nhẹ đời sống xuất gia, vì đó là phương tiện tốt nhất trong sự “tầm cầu giải thoát khỏi sinh tử luân hồi”.

1- Đời sống xuất gia.

Đời sống xuất gia là đời sống không nhà, như Sớ giải:

Agārasmā anāgāriyaṃ = pabbajja:

Bỏ nhà, sống không nhà, gọi là xuất gia. [50]

Sự lìa bỏ gia đình để trở thành bậc xuất gia, có hai cách:

- Trở thành bậc xuất gia trước, lìa bỏ gia đình sau.

- Lìa bỏ gia đình trước, trở thành bậc xuất gia sau.

a- Trở thành bậc xuất gia trước, ra khỏi nhà sau.

Như trường hợp Bồtát Mahājanaka, câu truyện được tóm lược như sau

 

Bồtát Mahājanaka. [51]

Bồtát Mahājanaka khi lên ngôi vua xứ Mithilā, trị vì quốc độ theo Thập vương pháp (dasa rājadhammā), Ngài thường cúng đường đến các bậc Độc Giác Phật.

Con trưởng của Đức vua và Hoàng hậu Sīvalī là Thái tử Dīghāvu kumāra, khi Dīghāvu kumāra trưởng thành, Đức vua đặt Thái tử vào địa vị Phó vương.

Một hôm, người giữ vườn Ngự Uyển dâng lên Đức vua những trái ngon ngọt trong vườn.

Để ban vinh dự đến người giữ vườn, Đức vua bảo người giữ vườn “hãy trang hoàng Ngự Uyển, Ta sẽ du ngoạn nơi ấy”.

- Thưa Đại Vương, vâng.

Sau khi sữa soạn vườn Ngự Uyển xong, người giữ vườn đến tâu lên Đức vua.

- Thưa Đại vương, vườn Ngự Uyển đã sữa soạn xong, thỉnh Đại vương du ngoạn.

Đức vua ngự trên lưng vương tượng, che bên trên là cây lọng trắng, cùng với Phó vương Dīghāvu và các quan đại thần, quân binh hộ giá, đi đến vườn Ngự Uyển để du ngoạn.

Trên đường du lãm, Đức vua thấy một cây xoài đang trĩu nặng những quả xoài ngon ngọt, Ngài cho Vương tượng đi đến, hái một trái xoài, bảo người hầu gọt dâng lên để Ngài dùng thử, hương vị xoài rất thơm ngọt. Đức vua nghĩ thầm “khi trở về, ta sẽ hái thêm vài quả nữa để dùng”, rồi cho vưưng tượng thong dong đi ngoạn cảnh.

Đây là xoài đầu mùa, khi Đức vua chưa dùng, người giữ vườn gìn giữ cây xoài, đồng thời chưa một ai dám dùng xoài trước Đức vua, nay thấy Đức vua đã dùng xoài rồi.

Khi đức vua đi xa, mọi người cùng nhau hái xoài để dùng, cây xoài trở nên xơ xác, trơ trụi quả.

Sau khi du ngoạn thỏa thích, buổi chiều Đức vua trở về Hoàng thành, đi ngang qua cây xoài ban sáng, Ngài thấy nó xơ xác, trơ trụi, nhưng gần đó có cây xoài xanh tươi, Đức vua hỏi:

- Vì sao cây xoài này xơ xác như vậy.

Các quan hộ giá thưa lên Đức vua sự việc “Phó vương cùng các quan quân thấy Đức vua dùng xoài, những vị ấy cũng hái xoài để ăn, nên cây xoài trở nên xơ xác,

- “Kiṃ nukho bhaṇe, imassa pana neva pattaṃ na vaṇṇo khīṇo’ti?

“Vì sao cây xoài kia không bị hoại, không bị rơi lá, không xơ xác?”

-Nipphalatāya na khīṇa, devā’ti.

- Thưa Đại vương, vì nó không có trái.

Với những bậc có trí, mỗi một hiện tượng bình thường của cuộc sống cũng gợi lên tâm trí Ngài một bất ổn, một mối đe dọa cho kiếp nhân sinh.

Đức vua động tâm (saṃvega), suy nghĩ “vương quyền này cũng như cây có trái (rajjaṃ sapphalarukkhasadisaṃ), rồi mọi người sẽ dành lấy nó để thụ hưởng, rồi đây ta cũng xơ xác như cây xoài này”. Hình ảnh những vị samôn (Đức Phật Độc giác) chợt hiện ra trong trí của Đức vua.

Đức vua thầm nghĩ “chính những người có tài sản mới sợ hãi, kẻ vô sản thì có lo sợ chi? Ta sẽ như cây không trái kia, ta từ bỏ tất cả những gì đang có để trở thành bậc xuất gia (imaṃ sampattiṃ cayitvā nikkhamma pabbajissāmī’ti).

Sau khi quyết định xuất gia, Đức vua đi vào Hoàng thành, khi đến trước cửa cung điện của Ngài, Đức vua bảo các vị Đại thần rằng:

-“Kể từ hôm nay, chỉ cho một người mang thực phẩm, nước súc miệng, cây chà răng và tăm xỉa răng cho ta mà thôi. Việc triều chính, các người hãy đãm trách, còn ta ta sẽ sống an tịnh để hành pháp Samôn (samaṇadhammaṃ karissāmī’ti)”.

Và0 lúc bấy giờ, tuổi thọ con người là 10 ngàn tuổi, Đức vua Mahājanaka được 7 ngàn tuổi.

Đức vua sống trong cung được 4 tháng, Ngài suy nghĩ “nơi đây vẫn còn bẩn chật, sống bên ngoài như vị những vị Samôn mà ta thường cúng dường, tốt hơn là ở trong Hoàng cung.”

Đức vua bảo người hầu, bí mật tìm cho Ngài y càsa và cái bát đất. trong đêm ấy, Ngài cắt bỏ râu tóc, tự đấp lên mình y càsa, tâm Ngài vô cùng thỏa thích, trọn đêm không ngũ, sáng ra, Ngài từ trên lầu đi xuống ngự ra khỏi Hoàng cung.

Đây là “xuất gia trước, lìa bỏ nhà sau”.

Trong trong thời Đức Phật, Ngài Mahā Kassapa (thanh niên Pippali) cùng nàng Bhaddā cũng trở thành bậc xuất gia trước khi lìa bỏ gia đình.

Tương tự như thế là bà Pajāpati Gotamī cùng năm trăm nàng công chúa dòng Thích ca, các vị ấy trở thành phẩm mạo người tu trước, rồi sau đó mới lìa bỏ Hoàng cung.

b- Ra khỏi nhà trước, thành bậc xuất gia sau.

Đây là phương cách thường thấy nhất.

2- Nguyên nhân xuất gia.

Nguyên nhân xuất gia này rất đa dạng, có thể tóm gọn vào các trường hợp như sau:

a- Xuất gia theo truyền thống.

Có nhiều khía cạnh trong “truyền thống” này. Trước tiên là một trong những truyền thống cổ sơ của Bàlamôn.

Các Bàlamôn sau khi có người nối dõi, thì bỏ nhà đi xuất gia, hoặc khi tuổi cao thì lìa bỏ quan trường để xuất gia … Điển hình như Bàlamôn Aggidatta như sau:

 

Bàlamôn Aggidatta. [52]

Bàlamôn Aggidatta là vị cố vấn đại thần của vua Mahākosala (Phụ hoàng của vuaPasenadi).

Khi vua Pasenadi lên ngôi, Bàlamôn Aggidatta suy nghĩ: “Ta nay đã già, đã đến lúc ta nên sống đời sống xuất gia”.

Bàlamôn xin từ quan, công bố lên ý định của mình, rồi thông báo “bố thí hết tài sản của mình trong thành Sāvatthī suốt 7 ngày”.

Sau đó, Bàlamôn tìm đến một trú xứ thanh vắng gần bờ sông vùng biên địa của ba nước Aṅga, Magadha và Kuru. Có 10 ngàn người theo vị ấy, tôn vị ấy là tôn sư, Bàlamôn Aggidatta ban giáo huấn đến các đệ tử rằng:

- Này các đệ tử, nếu ai khởi lên một tư tưởng tầm cầu dục lạc (kāmavitakka), hoặc một tư tưởng sân hận (vyāpādavitakka), hoặc một tư tưởng hại người (hiṃsavitakka), phải tự phạt, bằng cách lấy một bụm cát từ dưới sông lên bỏ vào nơi này.

Nhóm đệ tử tu tập dưới sự chỉ dạy của Bàlamôn Aggidatta đã tuân lời.Thời gian sau, nơi ấy trở thành một gò cát lớn, một con mãng xà vương đến trú ấn nơi ấy. Lời giáo huấn cho môn đệ của Bàlamôn Aggidatta là:

“Này các môn đệ, hãy nương tựa nơi rừng cây, đồi núi, cội cây. Nương tựa những nơi ấy, các ngươi sẽ chấm dứt được khổ đau, các ngươi sẽ giải thoát khổ”.

Khi duyên lành của Aggidatta hội đủ, hình ảnh của ông xuất hiện trong võng trí của Đức Thế Tôn, Ngài dạy Đức Moggallāna (Mụckiềnliên) đến nơi trú ngụ của Bàlamôn Aggidatta để tiếp dẫn ông cùng hội chúng.

Đức Moggallāna đi