|
Hòa thượng Piyadassi, Vị Sứ giả Hòa bình Kirthie Abeyesekera
* Bức Thông Điệp của Ngài Pannasiha Mahanayaka Thera ở Madihe Ngài Hoà Thượng Đại đức Siri Vajiranana Mahanayaka ở Pelene là hiện thân trọn vẹn đạo hạnh như Đức Phật tuyên bố- đạo hạnh có phẩm chất đặc sắc và có kỷ cương, thông thái và hoạt dụng, giữ vững tinh thần và sống hoàn toàn đúng theo chân Pháp. Người đệ tử kiệt xuất của ngài, Đại đức Narada Mahathera, là vị sứ giả hoà bình nổi tiếng trên thế giới. Sư đây là người đệ tử thứ năm và Đại đức Piyadasi Nayaka Thera là thứ sáu. Được sanh ra ở Kotahena trong thành phố Colombo, Đại đức Piyadasi sớm được giáo dục ở Trường Phât Học Nalanda. Vào tháng bảy năm 1934 người xuất gia và được thọ tỳ khưu vào tháng 12 năm 1934. Đã từng nghiên cứu cổ ngữ Pali và Phật học trong Tam tạng kinh điển, người sớm trở thành giảng sư uyên bác và văn sĩ Phật giáo tài ba. Sau đó người theo học Trung Tâm nghiên cứu Tôn Giáo Thế Giới ở Đại Học Harvard, Hoa Kỳ. Thầy của chúng tôi, Mahanayaka Thera ở Pelene, là người tiên phong thuyết pháp theo phong cách phổ biến nhất ngày nay. Đại Dức Narada Mahathera, đệ tử cao hạ của ngài, theo cách thuyết pháp của ngài, thuyết giảng rất thành công, không những ở Tích Lan, mà còn nhiều nơi trên thế giới vào thời đó. Đại đức Piyadassi, đi sau Đại đức Narada, đang trở lại hải đảo sau mười ba chuyến du hoá hoằng truyền chánh pháp trên thế giới. Đại Hội Tăng Già Amarapura ở Tích- Lan, sau khi suy xét chuẩn xác đã phong tặng ngài tước hiệu, "Visvakīrti Sri Sāsanasobhana, Ánh Hào Quang Giáo Pháp Rạng Ngời Khắp Năm Châu. Sư ban phước cho Ông Kirthie Abeyesekera, nhà báo và tác giả, đứa con trai chân chính của Tích Lan, đã viết cuốn sách về cuộc đời và thời đại của Đại đức Piyadassi Nayaka Thera. -ooOoo- LỜI NÓI ĐẦU Tiến Sĩ Ananda W.P.Guruge Cuốn sách về cuộc đời và thời đại của Đại đức Piyadassi Nayaka Thera ở Tích Lan không những đem lại nguồn cảm hứng và động viên mà còn cung cấp nhiều thông tin. Đây là một nhân cách năng động có một không hai, đã trải qua mười ba chuyến hoằng pháp khắp thế giới với một mục đích duy nhất trong tâm là đem thông điệp hoà bình và thương yêu của Đức Từ Phụ đến mọi hang cùng ngõ hẻm của thế giới nầy. Tính dễ thích nghi đặc biệt của người đã đem lại tình ấm cúng trong gia đình cho nhiều bạn bè và những người hâm mộ thường xuyên thông tin liên lạc qua lại với người qua những địa chỉ trong mọi lục địa- trong thành phố nhỏ xa xôi hẻo lánh ở nước Áo ngày nay, ở Đài Loan tuần sau, và ở trong một thủ đô chính ở Âu Châu hay Mỹ một tháng kể từ đó.Vì vậy, thật hợp lý, người được gọi là "Sứ Giả Hoà Bình". Thuật ngữ "sứ giả hoà bình" mang nhiều nghĩa, gợi lên lý tưởng hoằng pháp mà Đức Từ Phụ đã đề ra cho đệ tử của ngài từ thời sơ khai: Caratha bhikkhave cārikam bahujananahitāya bahujanasukhāya- " Nầy chư tỳ khưu, hãy đi hoằng pháp vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người," Chính pháp lệnh nầy của Đức Phật đã truyền cảm cho Đại đức Piyadassi thực hiện một sự cống hiến gương mẫu vai trò Hoằng Pháp tự đặt ra cho người, vị sứ giả đạo hạnh. Là một tu sĩ Phật Giáo, người không có nghĩa vụ gì, cũng không bị một mệnh lệnh nào của người trên hay bị một tổ chức nào điều khiển, làm những gì người làm. Người đã từng sống như một vị sư ở rừng, tinh cần trong nhiệm vụ phát triển tâm linh và giải thoát. Người đã từng được ngưỡng mộ và được tôn kính như nhau. Điều mà những ai rất thân cận với người hài lòng nhân thấy rằng Đại đức Piyadassi không chỉ là giảng sư suông. Người thực hành những gì người giảng. Người đưa ra những kinh nghiệm của bản thân như bằng chứng trong sạch sống động của người đệ tử chân chánh của Đức Từ Phụ. Dĩ nhiên, là giảng sư, người khó mà trội hơn bất cứ điều gì mà tôi biết trên đời. Dù bằng tiếng Tích hay tiếng Anh, người có tài hùng biện sắc sảo nhờ những mệnh lệnh hoàn hảo của thành ngữ và số từ vựng hấp dẫn được dùng để gây sức hút cho thính giả thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau ở trong sự yên lặng mê say. Hiếm khi tôi gặp một giảng sư nào có thể đúc kết hầu hết những tư tưởng quan trọng và đầy í nghĩa trong một bài giảng có thể nghe được trong một tiếng đồng hồ. Kiến thức sâu về Tam Tạng kinh điển đã giúp người có thể nhấn mạnh những bài giảng bằng những câu trích dẫn Pali hợp lý và gây ấn tượng sâu sắc. Kiến thức tổng quát rộng lớn và những bài viết phổ biến về Đạo Phật, triết lý và những chủ đề tương tự của người cũng hấp dẫn không kém. Thật thú vị khi thấy làm sao thông tin từ nhiều nguồn khác nhau được đan xen rất tài tình vào lời giảng lưu loát như dòng nước chảy trong suốt một giờ đồng hồ. Những gì Đại đức Piyadassi nói và làm đều thoải mái tự nhiên như nhất và kết tinh trong cách người viết. Một người truyền đạt hoàn hảo, người có khả năng viết trong phong cách trong sáng và hấp dẫn- cả bằng tiếng Tích và tiếng Anh. Dù đó là cuốn sách nhỏ về đề tài đặc biệt như chết và tái sanh, hay một việc quan trọng được tổ chức chu đáo, người kiên trì trong mức nổ lực và bảo đảm mức chuẩn xác và toàn diện trong cách đối đãi cư xử. Con Đường Cổ Xưa của Đức Phật, quả thật là một kiệt tác của người, được đón nhận nồng nhiệt và được bạn đọc khắp nơi trên thế giới thích xem đi xem lại. Nhằm dành cho độc giả Phương Tây, tuy nhiên, nó là tác phẩm dễ đọc nhất về Con Đường Giác Ngộ của Đức Phật mà bất cứ ai có thể đọc và nghiên cứu đều có lợi ích cả. Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong giới Phật tử và bạn đạo trên thế giới biết và đem lại lợi ích từ việc thực hành truyền thống tụng kinh Hộ trì, người dịch những bài kinh được dùng cho mục đích nầy thành tiếng Anh. Sách Hộ Trì Kinh đã làm cho việc thọ trì thêm í nghĩa và hưng phấn trong tâm hồn. Tôi hoan hỷ khi vừa mới đây được nghe ba bài kinh chính của cuốn Hộ Trì Kinh được tụng bằng tiếng Anh từ bản dịch của Đại đức Piyadassi trong một trường thiền hẻo lánh ở miền Tây Virginia- Hoa Kỳ. Điều làm tôi xúc động nhất là toàn thể thính chúng hiểu những lời nầy có hiệu lực gợi lên tính chân thực, hạnh phúc và sức mạnh. Cuốn sách mới xuất bản của người The Spectrum Of Buddhism không những chỉ mang lại tầm rộng và đa dạng về những vấn đề đáng quan tâm trong tri thức của người, mà còn cung cấp nhiều tư liệu để suy tư khi người mở ra nhiều khía cạnh trong Đạo Phật đã từng thu hút người chú tâm vào. Cũng thú vị như khi nhìn tổng quát tuệ giác và tài viết ngài tiến triển như thế nào khi ngài không ngừng tầm cầu kiến thức. Làm cách nào Đại đức Piyadassi chuẩn bị để đạt được những tầm cao của tài năng và thành tích? Đó là câu chuyện về cuộc đời người; chuyện về một khoảng thời gian của thế kỷ thứ hai mươi như được biết từ cuộc đời và sự nghiệp của một người đàn ông độc thân đầy nghị lực, có tầm nhìn sâu rộng và suốt đời cống hiến. Khi còn bé, người có được phương tiện để có được một nền giáo dục tốt nhất mà một em Phật tử ở trong thuộc địa Ceylon hằng khao khát; người được vinh dự là học sinh trường Phật học Nalanda ở Colombo, nơi có một nhóm đạo sư giác ngộ tham gia vào việc đấu tranh giành tự do dân tộc nhờ việc cống hiến đổi mới trong Đạo Phật và văn hoá Phật Giáo. Nơi đây người hấp thụ những tư tưởng và tuệ quán của những bậc lãnh tụ vĩ đại trong công cuộc phục hồi đức tin trong tôn giáo và dân tộc ở Tích Lan. Ảnh hưởng gì có thể tốt hơn đối với người có nền giáo dục như thế hơn là trở thành đệ tử thâm niên của Đại đức Siri Vajiranana Mahanayaka Thera ở Pelene? Vị Đại Lão Hoà Thượng nầy của Giáo Hội Tăng Già tiên tiến, vị sáng lập tối cao của Tổ Đình được xem là Vajirarama của Colombo, thật xứng với tên đó. Nếu những bậc tiền bối đạo hạnh và tri thức của người ở Tích Lan, như Đại đức Sri Sumangala Nayaka Thera ở Hikkaduwe, Đại đức Sri Sumangala Nayake Thera ở Weligama, Đại đức Sri Subhuthi Nayaka Thera ở Waskaduwe, Đại đức Piyaratanatissa Nayaka Thera ở Dodanduwe, Đại đức Sri Dhammarama Nayaka Thera ở Peliyagoda, và dĩ nhiên, Anagarika Dharmapala, đã từng phục hồi vị trí Đạo Phật xứng đáng là niềm tự hào trong đời sống dân tộc, thì chính Đại đức Vajiranana ở Pelene đã đem Đạo Phật vào trong cuộc sống thường ngày của người Phương Tây thuộc tầng lớp trung lưu được Đông phương hoá ở Tích Lan. Đó chính là cuộc cách mạng thầm lặng nên được nghiên cứu ngay thật kỹ. Trong cuộc cách mạng nầy, Đại đức Vajiranana nổi bật như biểu tượng của Viện Phật Học có khả năng phục vụ những nhu cầu của xã hội Tích- Lan đang tiến triển nhanh. Những đệ tử danh tiếng của Đại đức Vajiranana ở Pelene, như Đại đức Narada, Pannasiha, Piyadassi, Metteyya, Rahula, Soma, Kheminda, Kassapa, Nāmamoli và Nānavira (người Anh), trở thành những vị sư mẫu mực. Hầu hết họ đều là những học giả không chỉ là những người tầm cầu tri thức để hưởng thụ riêng mà là những vị có tầm nhìn sâu rộng đã cống hiến vào sự nghiệp giáo dục thanh thiếu niên. Mỗi người đệ tử của Hoà Thượng Vajiranana Nayaka Thera đều trở thành văn sĩ nổi tiếng, kế đến nhiều vị là giảng sư và trên hết, người tiêu biểu được ca ngợi nhiều nhất như là một vị tu sĩ Phật Giáo có mục đích chân chánh. Vào năm 1934 lúc mười chín tuổi, Đại đức Piyadassi đã xuất gia tỳ khưu, bước vào giới đạo hạnh uyên bác của những vị đồng thời nầy. Những khả năng phát triển được ở trường Phật Học Nalanda Vidyalaya và Vajirarama được nâng cao hơn khi người tiếp tục theo đuổi nền giáo dục cao hơn ở Đại Học Ceylon và Trung Tâm Nghiên Cứu Tôn Giáo thế Giới ở Đại Học Harvard, Hoa Kỳ từ năm 1964 đến 1965. Được đào tạo như là một nhà nghiên cứu Triết Lí Phật Giáo, Đại đức Piyadassi tiếp tục là sinh viên nổi tiếng là không bao giờ ngừng học. Tất cả những kiến thức và kinh nghiệm của người đã huân tập cho người có đức tính thật khiêm tốn đến nỗi tuyệt vời được làm bạn cùng. Chính sự hình thành nhân cách của Đại đức Piyadassi và đức tính cao thượng đưa người lên địa vị của người phục vụ khiêm tốn, "vì sự tốt đẹp của nhiều người vì hạnh phúc của nhiều người", cung cấp nền tảng vô song trong việc học uyên thâm vào thời đại người. Người sinh ra trong một thuộc địa của một đế quốc không thể đánh bại được; người lợi dụng hình rập nổi do trong cấu trúc mà đàn ông dũng cảm có toàn quyền khẳng định lại quốc tịch hơn hai ngàn năm. Người lớn lên trong hai cuộc thế chiến khi kinh tế và quân sự của các cường quốc tự huỷ diệt, đã lý giải sự vô nghĩa của chiến tranh và tính háo thắng tham quyền của chúng. Người thấy thế giới nơi các cường quốc đã sụp đổ tan tành, nơi những tên độc tài phát sanh và huỷ diệt và nơi nhân loại chịu thống khổ không thể kể xiết nhưng còn sống lại sự phục hồi nhân cách để tiến lên một tương lai tràn đầy hy vọng và mong đợi. Khi Đạo Phật vừa được giới thiệu cho giới trí thức Phương Tây, người còn là cậu bé. Người thấy rằng Đạo Phật phải tự lên tiếng giành lại vị trí của mình mặc dù phải trải qua muôn vàn khó khăn ngay trên chính mảnh đất khai sanh mình. Người sống để thấy đạo Phật được ngưỡng mộ và công nhận, hơn thế nữa, người là diễn viên chính trong công cuộc đẩy mạnh Đạo Phật đến tầm mức có uy tín như hiện nay. Thật không phải là việc dễ làm, ngay cả đối với những người nghiên cứu và nhà văn giàu tham vọng nhất có thể nói lên tất cả những sự kiện nầy trong suốt cuộc đời của Đại đức Piyadassi Nayaka Thera. Việc đó đòi hỏi nhiều tập sách có tầm cở lớn, như con người và thời đại, cả hai đều đáng được nghiên cứu và phân tích tỉ mỉ. Cho nên điều quan trọng là Kirthie Abeyesekera nên tự đảm nhận công việc nầy. Đúng hơn nên biết rằng tác giả nầy như là một báo cáo viên điều tra tội phạm, một nhà văn lỗi lạc bây giờ có thể tiết lộ một khía cạnh khác của một người có sự nghiệp đầy ly kỳ hấp dẫn để trình bày song đề về văn hoá-xã hội và tôn giáo trong thời đại của chúng ta khi trình bày nhận thức của một cư sĩ về đời sống của một tu sĩ Phật giáo. Trong khi làm vậy, Kirthie Abeyesekera đưa ra bối cảnh Phật giáo sinh động đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống riêng của ông nhờ thân cận với những tu sĩ như chư vị Đại đức Dharmpala, Nyanasatta, Narada và dĩ nhiên, Piyadassi. Người đã cho chúng ta những nét đại cương, những yếu tố quan trọng nhất làm cho chúng ta hưng phấn. Cuộc đời của Đại đức Piyadassi rõ ràng là một kiểu mẫu cho sự ganh đua thậm chí đối với người chỉ khiêm tốn tầm cầu chân lý. Những gì cần phải nhớ về Đại đức Piyadassi là nhân cách tự làm lu mờ những gì cống hiến và tính khiêm tốn, việc không ngừng tầm cầu chân lý, thực hành những nghĩa vụ và bổn phận không bao giờ dứt và, trên hết là, lòng thương yêu nhân loại những ai có đời sống tâm linh cao được xem là sứ mạng của người. Kirthie Abeyeseka đã làm nổi bật từng yếu tố một nầy và trong khi làm vậy đã trình bày một lý tưởng để được ngưỡng mộ cũng như thực hành theo. Cũng hấp dẫn không kém là việc nhấn mạnh trên đã trình bày sống động bối cảnh văn hóa- xã hội của thế giới mà trong đó thành viên năng động tràn đầy nhiệt tình nầy của Giáo Hội Phật Giáo đã có nhiều đệ tử và bằng hữu khắp nơi. Thật là một niềm vinh dự để được viết lời nói đầu cho tác phẩm nầy, tôi tha thiết giới thiệu đến độc giả những ai chân thật tìm kiếm vai trò của chính mình trong xã hội riêng của họ. * LỜI CẢM TẠ Với lòng tri ân sâu sắc và tâm từ gởi đến: - Đại đức Piyadassi Nayaka Thera- nguồn cảm hứng cho cuốn sách nầy, người đã kiên nhẫn dành cho tôi nhiều giờ và cho tôi nhiều lá thư đầy những dữ kiện, ý tưởng và quan niệm; - Đại đức Pannasiha Maha Nayaka Thera ở Madihe đã ban cho những hiểu biết sâu sắc có giá trị; - Đại đức Ayya Nyanasiri, tu nữ người Mỹ (trước là Helen Wilder), người ủng hộ và biên tập viên cho nhà xuất bản sách Phật Giáo (BPS) ở Kandy, đã cố vấn trong việc biên tập, ‘những lời phê bình’ và giúp đỡ vô giá, cùng với kiến thức Phật học và hiểu biết rõ về Đạo Phật ở Tích Lan của cô, đã làm giảm đi rất nhiều lỗi đáng kể mà nếu không thì sẽ bị lờ đi. - Tiến sĩ: Ananda.W.P. Gurupe, Đại sứ Tích Lan tại Hoa Kỳ, đã sẵn sàng tự nguyện viết tặng lời nói đầu của ông, một kiệt tác văn học, - E.C.T. (Manny) Candappa, Nhà báo Tích Lan kỳ cựu, bây giờ ở Melbourne, đã cung cấp cho tôi những hiểu biết sâu sắc của ông trong vùng Kotahena, Colombo, nơi sanh của Đại đức Piyadassi; - Tyrone Fernando, thành viên nội các Tích- Lan, đã tặng tôi một bản thảo 100 ngày ở Tích Lan của ông, ’87. Tôi đã lấy những đoạn trích dẫn từ Lời nói đầu của cuốn sách do Raghaven Iyer của Ấn độ; - C. Mahendran, Đại sứ Tích Lan tại Nhật Bản, vợ ông, Mohana và con gái, Sharmini, về tấm lòng hiếu khách nồng hậu của gia đình nầy trong khi tôi đang tìm kiếm tài liệu ở Tokyo, vào tháng 11 năm 1992; - Cô Enid Alahakoon của Nhà Xuất bản sách Phật Giáo (B.P.S) và ông R.M.T.B. Ratnayake đã giúp đánh bản thảo. - Susantha và Sumithra Peeris về cảnh thanh nhàn của gia đình họ ở Canada nơi tôi trải qua những giây phút đáng nhớ với Đại đức Piyadassi vào ngày sinh nhật lần thứ 78 của người; - Gia đình, bằng hữu của tôi và những người hảo tâm đã động viên và ủng hộ trong việc biên tâp cuốn sách nầy. * VÀI LỜI CÙNG BẠN ĐỌC Cách đây hai mươi năm vào tháng tôi bắt đầu viết cuốn sách nầy, Tôi gặp Đại đức Piyadassi Nayake Thera. Cái ngày tháng sáu, năm 1968 có rất nhiều ý nghĩa. Đó là lần đầu tiên tôi gặp một vị sư khả kính đang nhanh chóng giành được sự công nhận của quốc tế như là một trong những người đề xướng Đạo Phật trước tiên lỗi lạc nhất của thế giới. Là báo cáo viên tội phạm, tôi đã từng quen phỏng vấn nhiều cách khác nhau. Những ngày tôi báo cáo tin đầy những nhà cố vấn luật hội họp và những kẻ phạm pháp. Những kẻ nầy thường là phần tóm tắt chính của bản tin, từ lúc ấy bọn tội phạm, hay nhẹ nhàng hơn đặt, những kẻ chống đối xã hột, luôn luôn bắt mắt bạn đọc. Kẻ sát nhân, tình dục và vụ tai tiếng (xì căng đan), mạo hiểm và táo bạo, tư cách trái đạo đức, cách cư xử lầm lạc- đây là những điều gây tác động mạnh khiến người ta thích đọc. Cái ngày tôi ở đó- trong những khu thiêng liêng của Vajirarama, thủ phủ Phật học ở Tích Lan, lúc bấy giờ vẫn còn gọi là Ceylon. Nhưng đây sắp có một cuộc phỏng vấn về một nhân vật khác. Trước sự hiện diện của Đại đức Piyadassi Tôi không phải là kẻ hạch hỏi hùng hổ như được công nhận là một loại công an dân sự, đối với những nam nữ nào phạm tội và những kẻ bị kết án phục vụ trong trại tù một thời gian. Đây là một thành viên đáng kính của Tăng Già- Giáo Hội Phật Giáo- vừa mới trở về từ chuyến hoằng pháp thế giới đầu tiên đã đưa người đến nhiều nước Tây Phương và Đông phương. Người ngồi thanh thản khi người chuẩn bị kể chuyện cho Ông chủ bút tờ báo The Observer, D.c Ranatunga, đang dành một trang trống cho lần xuất bản ngày chủ nhật. Đây là bản tin hoàn toàn khác hẳn những gì tôi thường báo cáo. Thời gian lúc Đại đức Piyadassi trở về quê hương sau một cuộc hành trình nổ lực hoằng pháp dài cũng có ý nghĩa khác nữa. Đạo Phật lần đầu tiên được giới thiệu vào Lankadipa, cho dân cư ở đây lúc bấy giờ gọi là Ceylon cũng vào tháng Sáu. Vào ngày rằm tháng sáu vào giữa thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, Đại đế Asoka người Ấn đã phái hoàng tử A La Hán Maha Mahinda cùng với bức thông điệp của Đức Phật. Ngài đã thuyết pháp trên núi Mihintale, khoảng chừng mười sáu ki lô mét về phía Đông của Anuradhapura, cố đô của các vị vua Sinhala trên 1500 năm kể từ thế kỷ thứ tư sau công nguyên. Trong cuốn sách có minh hoạ rực rỡ, Mihitale, xuất bản năm 1987, Giáo sư J.B Disanayaka ở Phân Khoa Sinhala của trường Đại Học Colombo, nói về Mihintale như là "cái nôi của văn hiến Phật Giáo Sinhala"; nhờ vị A la hán Maha Mahinda đem Đạo Phật đến đây đã tạo lập một trật tự sống mới cao xa hơn những gì họ đã biết và theo." Disanayake nói thêm:" Silanka, như thế đã trở thành một trong những chân đứng quan trọng của Đạo Phật ở miền Đông Nam châu Á." Chính cái trật tự mới trong đời sống nầy mà Đại đức Piyadassi đang thận trọng bước đi, như nhiều vị tiền bối nổi tiếng khác của người đã đi từ nhiều thế kỷ qua. Vì vậy vào tháng sáu năm 1968, Tôi lắng nghe câu chuyện của một vị sư đã thách phương Tây khảo sát tỉ mỉ Giáo Pháp của Đức Phật. -ooOoo- -1- ĐÔNG GẶP TÂY Đại đức Piyadassi đã từng suy nghĩ chính chắn về nhu cầu đem lời Phật dạy đến phương Tây, tiếp tục sứ mạng hoằng pháp được bắt đầu từ chính những đệ tử đầu tiên của Đức Phật cách đây hơn 2500. Những lời dạy của Đại đức Piyadassi làm xúc động người nghe ngay từ lúc ban đầu. Người thách thức thanh niên phương Tây tìm con đường thoát khỏi tâm trạng chán nản của họ, thúc giục họ tìm sự thoả mãn từ bên trong hơn là tìm nguồn cảm hứng từ bên ngoài. Vào những năm của thập niên 60 của thế kỷ thứ 20 là kỷ nguyên hippi khi thanh niên nam nữ Phương Tây quay lưng lại với những trật tự đã được thiết lập, từ bỏ những giá trị mà những thế hệ trước đã áp đặt lên chúng, và tìm khuây khoả trong ma túy và tình dục. Tạp chí Observer xuất bản vào 24 tháng 6 năm 1968, trong lời mở đầu ngắn của câu chuyện: "Đại đức Piyadassi rời Tích Lan vào tháng sáu năm ngoái nhằm du hành thuyết giảng đã đưa người đến những nơi đồ sộ hơn trên thế giới. Đại đức Piyadassi lưu lại một năm trong nhiều nước như Mỹ, miền tây Châu Âu và Scăn –di- na- vi đã làm người thất vọng. Người trở về quê hương, quan tâm sắc đến thế hệ trẻ." ‘Thanh niên trên thế giới đang ở trong tình trạng hỗn loạn gần một phần tư thế kỷ", sau đó Đại đức Hoà thượng nói, vì đây là bối cảnh mà Đại đức Piyadassi đề cập đến ngày đó. Nhiều tiến bộ trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật quá kỳ lạ đến nỗi thế hệ trẻ mới lớn thấy ra sự ngột ngạt trong những giáo điều ràng buộc trong tôn giáo của chúng và những giáo điều đó không có khả năng làm đã cơn khát tầm cầu kiến thức tâm linh của chúng. Thế giới vật chất đã cống hiến nhiều về bên ngoài, nhưng chưa thoả mãn được tâm tầm cầu bên trong vẫn còn đói khát. Những tôn giáo chính thống với những lý thuyết cũ mòn lâu đời của họ không đáp ứng được những thách thức và nhu cầu của thế giới mới đang nổi lên. Thanh niên nam nữ trên thế giới đang thoả mãn cơn khát của chúng bằng cách thực hành những thú vui bên trong với những thí nghiệm mới. Chúng trở lại với rượu và ma túy- thuốc gây ra ảo giác và phóng túng say mê trong tình dục. Đối với một vị sư trong Giáo Hội Phật Giáo, độc thân là giới luật cần thiết (Vinaya), và hạnh kiểm tình dục ở Tích Lan được quy định nghiêm nhặt bởi chủ nghĩa bảo thủ cứng nhắc, việc tiết lộ cách cư xử của thanh niên ở phương Tây đã đem lại một cú sốc. Qua ma túy, tình dục và âm nhạc, bọn thanh niên tin rằng chúng đã tìm ra một loại sùng bái mới. Chúng đã tự ru ngủ trong cảm giác an toàn, hơi nhận ra tai họa chúng đang tự tạo - tai hoạ của bản năng sẽ không bao giờ chữa lành được. Đại đức Piyadassi ghi nhận: "Trên khắp thế giới đang tìm kiếm một điều gì- điều gì không biết. Có thể nói như vậy, nó mập mờ lảng tránh và trừu tượng, vượt ngoài tầm nắm của con người; cho nên, chúng đang bám víu vào cái thân cận nhất đối với chúng- mà cái đó có sẵn." Thế hệ mới đang tìm kiếm một cái gì mới bởi vì những giáo điều và lý thuyết được chấp nhận như truyền thống đã không làm chúng thoả mãn. Những vấn đề của thanh niên không tìm ra giải đáp trong những tín điều của tôn giáo chính thống. Những câu hỏi về niềm vui bên trong vẫn không được trả lời. Đại đức Piyadassi đã khám phá ra rằng trong các quốc gia nơi ảnh hưởng công giáo đã từng thống trị trong nhiều thế kỷ qua, người dân bắt đầu cảm thấy sự đơn điệu của đời sống cơ khí hoá. Những giá trị được bảo đảm trên các mặt vật chất quá nhiều đến nỗi bọn chúng dường như hời hợt đối với việc tìm cầu tâm linh. Tâm của thanh niên bắt đầu thăm dò vượt ngoài những lãnh vực đã được chấp nhận. Thanh niên tầm cầu Chân Lí, nhưng không biết nơi nào để tìm; chúng đang tìm kiếm những giá trị tinh thần, phủ nhận chủ nghĩa vật chất. Từ Hoa Thịnh Đốn đến Nữu ước, xuống các nước Châu Mỹ La tin, từ Bắc Âu đến các nước Scăn-di-na, vươn qua lục địa Nepal, Đại đức Piyadassi đã đi qua và nơi đâu người cũng thấy càng nhiều thanh niên bất mãn với những hấp lực vật chất của các giác quan, thất bại trong việc tìm kiếm sự thoả mãn tự bên trong, kiếm tìm để hình thành những loại sùng bái cho riêng chúng. Thanh niên đang tìm kiếm thức ăn cho những niềm vui bên trong của chúng mà chúng nhận ra là ngu xuẩn và trống rỗng. Chúng tin chúng đã tìm thấy hoà bình và tĩnh lặng nhờ dùng ma túy. Thuốc LSD và cần sa được sử dùng rộng rãi. Những thuốc nầy ru ngủ người dùng vào cảm giác tê cứng và trống rỗng- cảm giác an toàn giả tạo, và ý nghĩ tâm linh mờ ảo. Vào chuyến du hành quanh Âu châu nầy Đại đức Piyadassi đã tìm ra một loại thuốc mới ở chợ- người bán thuốc ở các nước tiên tiến hơn chưa từng nghe về STP, mạnh hơn và có hại nhiều hơn cả thuốc LSD. Những hậu quả của thuốc có chất ma túy mới nầy tạo ra ảo giác tinh tế hơn rượu. Các chuyên gia sức khoẻ đã báo động loại thuốc nầy gây tác hại rộng lớn và không thể đền bù được cho não bộ của người sử dụng. Lần đầu tiên y học báo cáo rằng một đứa bé tật nguyền bẩm sinh là hậu quả trực tiếp của người mẹ nghiện thuốc LSD. Bệnh viện tâm thần trở nên ngày càng quá tải ở Mỹ. Trước đây chưa bao giờ các chuyên gia tâm thần làm việc vất vả như hiện nay. Ma túy và tình dục đi song song với nhau, cả về ẩn dụ lẫn ngữ nghĩa.Bọn trẻ nghiện ma tu đang say mê phóng đãng trong tình dục. Theo bọn trác táng nầy, tất cả những lạc thú làm thoả mãn giác quan nên có sẵn rõ ràng và tự do thoải mái. Bọn trẻ dám phô trương tình dục để nổi loạn chống lại những ức chế trong giáo điều. Ma túy đầy dẫy và những cảnh làm tình xuất hiện ở quảng trường Dam ở Amsterdam thời đó được biết như là "Cứ làm việc riêng của bạn- thủ phủ của thế giới Phương Tây" cũng như trong Công viên Copenhagen’s Tivoli. Suốt trong thời gian nầy, khi Đại đức Piyadassi tổ chức những buổi thảo luận trên những sân bãi của các trường đại học phương Tây, thanh niên nam nữ nói không biết xấu hổ về việc lợi dụng nhục dục của chúng. Ngay trên đường phố trong các đô thị lớn, những tình ý của các tình nhân không có gì bí mật cả. Tuy nhiên cái gọi là tự do mà bọn trẻ giành giật cho chúng không đáp ứng được nhu cầu của chúng; vì những sinh viên đại học trẻ tương tự đã lũ lượt kéo đến để lắng nghe hằng trăm cuộc nói chuyện, diễn thuyết và thảo luận về Đạo Phật do Đại đức Piyadassi hướng dẫn trong nhiều nước khác nhau.Bọn Hip pi và Beat-nik để hết tâm trí lắng nghe. Khi buổi nói chuyện chấm dứt, thanh niên nam nữ quây xung quanh người để hỏi.Các buổi nói chuyện đã thu hút giới trẻ vì chúng có cơ hội để thảo luận về tôn giáo và triết lí- điều mà chúng bị từ chối không được biết đến do những tư tưởng giáo điều của những niềm tin tôn giáo ngột ngạt của chúng. Ở Stockholm, Thụy Điển, một nữ sinh năm thứ nhất hỏi Phật giáo có thái độ như thế nào về nạo thai. "Nạo thai có tội không?" Cô đã hỏi và tôn giáo của cô không quan tâm đến câu hỏi đó. Giới trẻ nồng nhiệt đặt câu hỏi nầy đến câu hỏi khác, chủ yếu liên quan đến hạn chế sinh đẻ và những vấn đề khác trong xã hội hiện nay. Thanh niên cũng đòi hỏi để biết tại sao có quá nhiều sự phân chia giữa người và người- tôn giáo, chủng tộc, màu da, đẳng cấp, những tình trạng mà người lớn của chúng không giải quyết được. Trong thành phố Salvador ở Brazil, thành phố Công giáo chính thống, khoảng hằng trăm giáo sĩ đã hoàn tục năm trước. Giới giáo sĩ đang thấy rằng nguyện độc thân cực kỳ khó giữ. Phạm lời nguyện nầy họ phải từ bỏ Nhà Thờ. Cư sĩ và giáo sĩ cùng kết hợp với nhau trong việc phản đối kịch liệt xin giảm nhẹ những điều Luật Papal. Salvador có một số lớn nhà thờ. Đa số đều trống vắng, chỉ có những cấu trúc khổng lồ, có trang hoàng những hình tượng bằng vàng, là bằng chứng đối với đức tin mà con người được sanh ra. In Finland, vài người Công Giáo kể với Đại đức Piyadassi rằng họ chỉ đi nhà thờ khi có hai sự kiện- đám cưới và đám tang. Rio de Janeiro, một trong những thành phố đẹp nhất trên thế giới, lại có nhiều khu nhà ổ chuột tệ hại nhất; những nhà lụp xụp tồi tàn rải khắp sườn đồi của thành phố đầy ấn tượng nầy. Nhưng bây giờ thanh niên đang đặt câu hỏi tại sao có quá nhiều con người bị buộc phải sống trong hoàn cảnh nghèo nàn khủng khiếp trong nhiều thế hệ. Ở Nữu ước và Hoa Thịnh Đốn, sinh viên đại học nghiện ma túy và tình dục trầm trọng nói chúng có hai vấn đề: chiến tranh Việt Nam và tình trạng của người da Đen. Chúng đang kêu la đòi hoà bình ở Việt Nam và muốn giải quyết ngay vấn đề da màu đã từng gây ra nhiều cuộc tranh cãi. Ở Nepal, một nhóm Hip pi nói rằng con đường của chúng tương tự như con đường Đức Phật đã đi vì chúng đã từ bỏ cuộc đời và đã tìm thấy thanh bình. Loại thanh bình nầy là một sự yên tĩnh say mê do ma túy xuất phát từ ma túy, âm nhạc và tình dục- không nhất thiết ở trong trật tự đó. Ở Ghana, nơi dân làng không có ngôn ngữ bằng văn tự hay tôn giáo bản địa, nửa số dân cư ở đây cải thành đạo Thiên Chúa. Nhưng đối với đại đa số người Ghana, tôn giáo chỉ là một lời.Thật không ngạc nhiên chút nào hai mươi hoặc hai mươi mấy năm sau đó, tổng Giám Mục Desmond Tutu của Nam Phi định trích dẫn những gì mà người dân các nước bần cùng đang nói về các nhà truyền giáo Thiên Chúa: "Họ đến và nói, ‘chúng ta hãy cầu nguyện’. Chúng tôi quỳ, nhắm mắt nguyện cầu. Lúc chúng tôi mở mắt ra thì đất của chúng tôi không còn." Đại đức Piyadassi trở về Tích Lan sau chuyến hoằng pháp thế giới đầu tiên, đã thất vọng bởi chủ nghĩa vật chất ở Phương Tây. Những quốc gia gọi là phát triển đã tiến bộ trong khoa học, y học và kỹ thuật cao và vì thế dân họ không thiếu những nhu cầu về vật chất nhưng về mặt cảm xúc và tâm hồn họ đã mất hết. Hoà Thượng Piyadassi thấy những vấn đề của thế giới phương Tây về căn bản là những vấn đề thuộc tâm lí. Người đã nhận ra điều nầy cách đây một phần tư thế kỷ: Giới trẻ trên thế giới đang tìm kiếm sự thoả mãn từ bên trong. Hai đặc điểm có ảnh hưởng lớn đang tồn tại trong thời đại của chúng ta - khoa học và dân chủ nhưng chúng không đáp ứng những nhu cầu về tinh thần. Nếu tôn giáo nào không trau dồi để tiếp cận khoa học và dân chủ, thì tôn giáo đó không có chỗ đứng ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Cũng vậy, Đạo Phật cũng như khoa học, đòi hỏi quán sát và thử nghiệm những gì Đức Phật đã thực hành. Đại đức Piyadassi đưa đến kết luận: "Trong cuộc tầm cầu Chân lý, giới trẻ trên thế giới, có thể được hướng dẫn Phật Pháp để đi đúng đường, nhờ vậy, nhận chân được sự thoả mãn tự bên trong." "Ma túy, Tình dục, Âm nhạc- Cách sùng bái của thiếu niên thời đại mới, tờ "The Observer ngày 24 tháng sáu năm 1968 đặt vào dòng đầu câu chuyện của tôi. "Vị Sư Tích Lan thấy những hiểm hoạ trong giới trẻ hiện đại" là một tiêu đề dài. Chuyện được đọc rộng rãi và hoan nghênh nhiệt liệt Cả tờ báo The Observer và cá nhân tôi đều nhận được một túi đầy những lá thư của những người hâm mộ. Đó là kỷ nguyên khi Tích- Lan còn bảo thủ trong thái độ của nó đối với tình dục. Người ta hiếm khi công khai nói về nó, nói chi đến mê say phóng túng trong tình dục. Đến từ một vị sư nhờ Giáo Pháp chiếu soi như một người thực tiễn, đã dám đương đầu với những thử thách của thanh niên Tây phương, tiết lộ cho họ vấn đề mà cho đến nay vẫn còn là điều cấm kỵ và tạo nên một sự thức tỉnh để tiếp cận thực tế đối với những vấn đề xã hội. Đại đức Piyadassi đã mở ra một đề tài mới trong khi trình bày Phật Pháp ngay trước chuyến du hành hoằng pháp đầu tiên của người vào năm 1967. Trước đây người đã đi du lịch nước ngoài và có mặt giữa những sinh viên nói tiếng Anh về Đạo Phật. Vào năm 1964 Rider và Comprehension của Luân Đôn, xuất bản cuốn sách chính đầu tiên của người, Con Đường Cổ Xưa của Đức Phật, giới thiệu cuốn sách như một tác phẩm về "Đạo Phật cơ bản có sự khác biệt, vì nó được một tu sĩ người Ceylon viết, một học giả, một giảng sư nổi tiếng và phát thanh viên ở Ceylon. Người có kinh sách Pali và Chú Giải ngay đầu ngón tay, vì vậy sách của người đầy những câu chuyện và trích dẫn thích đáng về những lời Phật dạy- nhiều chuyện trong số đó xuất hiện lần đầu bằng tiếng Anh." Phần giới thiệu cuốn sách nói: "Trong những năm gần đây, một số sách trình bày giáo lý của Đức Phật đã được xuất bản bằng tiếng Anh, nhưng hầu hết đều thiếu tính chính xácvà không trình bày đúng những lời Phật dạy. Do đó nhu cầu có một cuốn sách chính xác dựa trên Tứ Diệu Đế về Khổ, nhân sanh khổ, Diệt khổ và con đường diệt khổ, là quan niệm trung tâm của Đạo Phật và Bát Chánh Đạo là cách thực hành. Mãi đến mười bốn năm sau tôi mới có thể đọc cuốn sách nầy được chính tác giả tặng cho tôi vào ngày 7 tháng tám năm 1982, Phật lịch 2526 ở Toronto. Cuốn sách được viết: "Tặng Kirthie, với tất cả điều mong ước tốt lành và tâm từ từ Piyadassi." Điều có ý nghĩa nhất là Con đường cổ xưa của Đức Phật được dâng tặng "Đến thầy tôi, nguyên là Đại đức Vajiranana (Sangha-Nayaka), vị Sáng lập - Trụ trì Tổ đìnhVajaranana và Đại đức Narada- vị đương nhiệm trụ trì- trong niềm kính thương". Cuốn sách đã được nhiều lần xuất bản và được phiên dịch thành một số ngôn ngữ Âu châu cũng như Hoa ngữ và Việt nam. Theo bước chân nổi tiềng của Đại đức Vajiranana Maha Nayaka Thera, thầy của người và Narada Thera, Piyadassi Thera chẳng bao lâu đã đạt được tốc độ nhanh hơn. Người nhanh chóng giành được sự công nhận ở trong và ngoài nước về văn phong mới giản dị và dễ hiểu trong những bài Pháp người trình bày đến thính giả ngày càng đông. Sau kỷ nguyên 1956 đưa đến những thay đổi lớn trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của người dân Tích- Lan. Được hoan nghênh như là cuộc Cách Mạng Xã Hội, tháng tư năm 1959 để thấy S.W.R.D.Bandaranaike- dẫn liên minh của Đảng Tự Do Tích Lan (SLFP) và Mahajana Eksath Peramuna quét sạch quyền lực. Lực lượng liên minh đòi hỏi đa số dân chúng ủng hộ mạnh được xem như "Nhà Nước của Nhân Dân" Tuy nhiên cuốn sách nầy không nhằm mục đích phê bình ý nghĩa chính trị mà Bandaranaike, người theo chủ nghĩa dân kiểm, đem lại, thắng lợi thích đáng của ông có thể được thấy không những phủ nhận quan điểm chính trị của phe cánh hữu, mà còn phục hưng Phật Giáo Tích Lan của đất nước đã từng tham gia một phần ít được nổi bật trong thời cai trị của thực dân Anh.Vị trí của họ không tiến chút nào từ năm 1948- trước kỷ nguyên độc lập. Vào năm 1956 Bandanaraike, được dân chúng nông thôn ủng hộ vững mạnh, và cũng được ủng hộ đáng kể bởi đa số Maha Sangha, đã công khai ủng hộ liên minh. Bandaranaike được bổ nhiệm chức vụ W.Dahanayaka tương đương Bộ trưởng Giáo dục. Dahanayaka luôn là người bảo vệ quần chúng, đưa những thay đổi có ảnh hưởng sâu rộng trong hệ thống giáo dục của đất nước. Trong số những thay đổi nầy là phong tặng địa vị Đại Học cho trường Phật Học (Pirivena) Vidyalankara ở Kelaniya và Vidyodaya ở Maligakanda, Maradana. Sự thay đổi có ý nghĩa nầy nghĩa là Tăng sĩ trẻ, lần đầu tiên, có quyền tiếp tục việc học đến đại học. Trong lúc, nhiều thành viên trong Giáo Hội Phật Giáo tránh những nhà chính trị và tránh liên quan đến chính trị, chỉ giới hạn sinh hoạt trong chùa hay tự viện, nhiều vị trưởng lão trong Maha Sangha thành lập đoàn tiên phong, bảo vệ Giáo Pháp (Sasana), không những khỏi xúc phạm đến phẩm giá của các chính trị gia, mà còn tránh khỏi những người dự định lợi dụng Maha Sangha cho mục đích chính trị của riêng họ. Xuyên suốt nền văn minh của Tích- Lan, Tăng Đoàn/ Giáo Hội đã từng là trụ cột của đất nước. Dân chúng tôn kính Maha Sangha bất kể họ thuộc lý tưởng chính trị nào. Mặc dầu, vài tu sĩ, do hành động của cá nhân họ, làm mất lòng tôn kính đó, nói chung, Maha Sangha tiếp tục giữ được niềm tôn kính sâu sắc như là người trông coi canh giữ đất nước Sinhala; vì văn hoá Sinhala không thể tách rời Đạo Phật. Đại đức Piyadassi, trọng điểm của cuốn sách nầy là một trong số nhiều vị sư cố gắng giữ Đạo Phật có triển vọng tốt trong kỷ nguyên đang thay đổi nhanh chóng nầy không bao giờ liên quan đến chính trị, sức mạnh của người tiềm tàng trong việc thực hành Phật- Pháp và nghiêm trì giới luật trong sạch, cả trong nước lẫn ngoài nước. Piyadassi là ai? Làm sao người trở thành một lực lượng lớn mạnh trong việc tuyên truyền Phật Pháp, người minh hoạ bằng chính cuộc đời người? -ooOoo- -2- THỜI NIÊN THIẾU Năm 1956 có ý nghĩa đối với cuộc cách mạng xã hội Bandaranaike, và năm đó cũng báo cho biết có ba sự kiện có tầm quan trọng khác tương tự như nhau, nếu không nói là quan trọng hơn. Đánh dấu tròn 2500 từ lúc Đức Phật Gotama tịch diệt, 2500 của lịch sử Tích Lan, và đời sống đạo của nhân dân Tích Lan. Vào năm đáng ghi nhớ đó, Đại đức Piyadassi được 42 tuổi, người sinh vào năm 1914 cùng với lúc bắt đầu thế chiến thứ I. Vào ngày 8 tháng 7 nhằm ngày thứ tư, Carolis Devalamuni và vợ ông Roslyn Hettiarachchi, được ban phước lành có đứa con trai thứ ba, họ đặt tên là Premaratna. Một người anh và một người chị trước vị sư tương lai nầy và sau đó gia đình Devalamuni có hai người con gái nữa. Premaratna được ra đời tại Kotahena, ở phía đông bắc thủ đô Colombo. Khi Hội Đồng Thành Phố Colombo họp lần đầu tiên vào ngày 16 tháng 1 năm 1866, Kotahena là một trong chín khu vực đại diện được những thành viên bầu. Charles Ambrose Lorenz, luật sư nổi tiếng và thành viên Hội Đồng Lập Pháp, đại diện vùng nầy trong hội đồng lần thứ nhất. Vào hậu bán thế kỷ thứ 19, Kotahena là một trong những nơi cư ngụ khá sang trọng. Tác giả đáng kính, H.A.J.Hulugalle trong Cuốn Trăm năm của Hội Đồng Thành Phố Colombo nói những báo cáo cho thấy rằng chỉ trước bước ngoặc của thế kỷ đất trong vùng cư ngụ phía bắc nầy một mẫu bán được khoảng 8000 Rs đến 10,000 Rs trong lúc đó đất tương tự ở phía Nam thành phố có giá trị khoảng 4000 Rs một mẫu. Ngôi chùa xưa nhất ở Colombo còn tồn tại ở Kotahena; Dipatuttamārāma, quen gọi là Ihala pansala, thành lâp năm 1896 do Đại đức Seenigama Maha Thera thuộc Amarapura Nikaya.Đó cũng là nơi cư ngụ của vị sư có tài hùng biện, tranh luận giỏi Gunananda ở Migettuwatte, người giữ vai trò quan trọng trong việc phục hưng Phật giáo và những năm 1870 trong đó Đại tá Henry Steele Olcott và Bà Museaus Higgins giữ vai trò chủ đạo. Vào năm 1896, Đại đức Jinavaravamsa, được biết như là "vị sư hoàng gia" bởi vì sư là một thành viên trong hoàng gia Siam (Thái), gia nhập Tăng Đoàn và cư ngụ trong ngôi chùa nầy. Sư mở trường miễn phí cho nam sinh sau nầy được biết là Trường Hoàng Tử (Prince College) và trường miễn phí cho nữ sinh, Gunananda Vidyalaya. Vào thời cậu bé Premaratna chào đời, Đại đức Jinananda ở Madampitiye đã đậu và thành Đại đức Jinavaravamsa (vào năm 1911). Một ngôi chùa xưa khác ở Kotahena là Paramananda Purana Vihara được thành lập khoảng cùng một thời với Dipaduttamarama do Đại đức Dhammananda Nayaka Thera ở Panadura sáng lập. Đại đức Sri Sumangala Nayake Thera đã cư ngụ tại đây nhiều năm trước khi mở Trường Phật Học Vidyodaya ở Maligakanda, Maradana. Trong khi những ngôi chùa xưa nhất ở Colombo được xây dựng ở Kotahena, ngày nay vùng nầy được biết là Nhà Thờ lớn của St. Lucia, nhà thờ lớn nhất ở Colombo và là trung tâm của Đạo Công Giáo La mã ở nước nầy. Nhà thờ có cấu trúc mái vòm đồ sộ gồm đặc tính của các phòng xưng tội và những cột ion, gian giữa của nó chứa được 6000 tín đồ. Phải mất ba mươi bốn năm để xây dựng nó và nó được hoàn thành vào năm 1906. Kotahena cũng là xứ sở của hai trường Công Giáo hàng đầu của đất nước - Trường St. Benedict dành cho nam sinh và Trường Good Shepherd Convent dành cho nữ sinh. Bạn tôi, một nhà báo kỳ cựu, E.C.T. (Manny) Candappa, một người Công giáo La mã sinh ra ở Kotahena nói: "Tôi rất hài lòng nói về sự hiện diện Phật Giáo trong đại đa số Công giáo ở Kotahena". Nhớ lại có một thời người Công Giáo hình thành 55% toàn bộ cử tri Phía Bắc Colombo nơi Kotahena toạ lạc, ông nói: "Những người bạn thân của tôi đều là Phật tử. Nhờ lòng mộ đạo và tôn kính cha mẹ của các bạn đã giáo dục tôi, đặc biệt phong tục lạy cha mẹ trước khi ra khỏi nhà. Cha mẹ các bạn tôi cũng rất rộng lượng và hiếu khách." Ông nói thêm: "Tôi đã gặp và phỏng vấn Đại đức Narada.Vì vậy mối liên hệ của tôi với Phật tử Kotahena rất than gần." Nhớ về thời niên thiếu ở Kotahena, Đại đức Piyadassi nói không có ý nghĩa gì đặc biệt. "Chỉ như đời sống của bất cứ đứa trẻ trung lưu nào khác được quan tâm thông thường." Mẹ người đã để lại ảnh hưởng sâu đậm trong lòng người từ thời niên thiếu. "Như hầu hết các bà mẹ khác, bà luôn quan tâm săn sóc và che chở con bà." Người nói thêm khi cậu bé Premaratna ra khỏi nhà, thậm chí khi chạy việc vặt nào đó một chút, bà đã ở ngưỡng cửa, trông con về. Cậu bé Pemaratna học kệ thơ Sanskrit dưới sự dạy dỗ của Đại đức Palita Mahathera ở Tangalle. Kiến thức thưở thiếu thời nầy là phương tiện giúp người có khả năng phát âm chuẩn tiếng Tích- Lan và Sanskrit và nói nghĩa của chúng rõ ràng. Lúc thiếu thời người theo học trường Công giáo và Trường Thánh Đường ở Kotahena do Hội Truyền Giáo Kiến thức Công Giáo (SPCK) quản trị, đó là một trường nhỏ của Trường St. Thomas, Mount Lavinia. Nối tiếp truyền thống của các trường truyền giáo Cơ đốc thời đó, ngay cả trẻ em không theo đạo Công Giáo phải đi nhà thờ và tham gia các hoạt động đạo giáo của trường. Vài chục năm sau, vị sư tương lai, người sắp đóng vai trò chủ đạo như là sứ giả đem Giáo lý của Đức Phật đến toàn cầu, chẳng có biệt lệ nào trong thời kỳ hoàng kim của Công giáo đang nổ lực bắt dân chúng cải đạo. Người đi nhà thờ Anglican, cũng được biết như là Nhà Thờ Anh Quốc, toạ lạc ngay trong sân trường. Ở đó người học Kinh Thánh như là nền tảng căn bản để những năm sau người nghiên cứu so sánh tôn giáo và triết lý Quyền Anh, môn thể thao được nam sinh ưa chuộng được giới thiệu vào các trường Công Giáo sau nầy đến các trường Phật Học. Đại đức Piyadassi, một vị sư không tìm thấy niềm vui nào khi nhớ về những ngày ở Trường Thánh Đường. Khi cậu bé Premaratna mười bốn tuổi đã đấu quyền Anh hạng gà cho trường cậu. Cậu chỉ là một trong mấy ngàn học sinh phải theo hệ thống giáo dục gồm những hoạt động ngoại khoá có cấu trúc rộng mà một học sinh phải tham gia. Cuộc thi đấu quyền Anh ở Trường Huấn Luyện Cảnh sát ở Bambalapitiya, Premaratna đoạt giải. Làm thế nào một võ sĩ quyền Anh trẻ biết rằng chỉ năm năm sau, thành một tu sĩ ở chùa Vajirarama, chỉ như hòn đá quăng ra khỏi Trường Huấn Luyện Cảnh Sát, sẽ là mái ấm tương lai nơi cậu sẽ thực hành và thuyết giảng về giáo lý bất bạo động. Thân sinh của Premaratna, như hầu hết các bậc cha mẹ theo Đạo Phật ở Tích Lan muốn thấy con trai họ trưởng thành trong môi trường Phật Giáo. Họ đã phải cho cậu theo học trường Công giáo vì thiếu các trường Phật Giáo. Mãi cho đến tuổi hai mươi, cuộc phục hưng nền Giáo dục Phật giáo Tích -Lan bắt đầu thấy xuất hiện. Trong lúc các trường Công giáo đã có từ lâu vẫn còn hấp dẫn nhiều học sinh, đặc biệt các tầng lớp trung lưu và trên trung lưu, số lượng Phật tử Tích Lan bây giờ đang phát triển, cho con cái họ theo học các trường Phật học đang nhanh chóng giành được sự công nhận. Quí ông như Sir Baron Jayatileka, Dr.G.P. Malalasekera đã để lại trong lịch sử như những nhà tiên phong của nền giáo dục Phật học ở Tích Lan. Trường Ananda, trường Phật học hàng đầu dành cho Nam sinh, dựa vào Colombo, sớm cạnh tranh với các trường công giáo hàng đầu. Phật tử ngày càng tăng tìm vào học ở trường Ananda. Trường phát triển quá nhanh đến nỗi người ta cảm thấy có nhu cầu mở rộng một trường Phật học khác ở Colombo. Thế là trường Nalanda Vidyalaya được thành lập và thâu nhận số lượng học sinh quá tải từ trường Ananda. Cha mẹ Premaratna sốt sắng chụp lấy cơ hội cho con họ có nền giáo dục Phật giáo. Vào năm mười bốn tuổi, người đi học trường Nalanda, thời đó dưới sự điều hành của Hiệu trưởng J.N.Jinendradasa. Như Ananda, trường dưới sự điều hành của Hội Thần Trí Phật Giáo (B.T.S). Đó là những năm có nhiều ấn tượng nhất trong thời học sinh của Premaratna. Trong lúc học tiếng Pali và người cũng học tiếng Latin. Người nhớ lại vài vị thầy- D.T. Devendra- nhà văn viết nhiều dạy lịch sử và Anh ngữ, và S.A.Wijetileke, sau đó là hiệu trưởng hai trường Phật học chính, Dhammaraja ở Kandy và Ananda, dạy tiếng Anh và Tiếng Latin. Đại đức Piyadassi nhớ thời còn học ở trường Nalanda, theo lời đề nghị của hiệu trưởng trường Nalanda, J.N.Jinendradasa, khi Đại đức Dhammaloka Thera ở Heenatiyana giảng Pháp vào ngày Chủ Nhật cho quần chúng trong hội trường, Premaratna được giao nhiệm vụ ghi chép lại các buổi nói đạo rồi chuyển biên và xuất bản thành những cuốn sách Pháp nhỏ gọi là Dharmapatrika. Đó là lần đầu tiên những bài viết của Premaratna được nhiều người biết, trong những năm sau, chúng góp phần rất nhiều vào đời sống của người như là một tu sĩ, khi người là tác giả của nhiều cuốn sách. Ở trường Nalanda, Premaratna là một học viên quân sự tốt nghiệp trong Tiểu Đoàn Cảnh sát thâm niên. Người hồi tưởng: Làm thế nào cậu trở thành đội viên của Đội Súng Trường và các học viên quân sự được đưa đến rặng núi Hunupitiya ở Ragama để tập bắn. Premaratna là đội viên xuất sắc giành được giải Herman Loos Thách thức dành cho học viên quân sự trong bốn năm liền được nhiều học sinh thèm muốn, một bản ghi chép dành cho trường Nalanda "Học viên quân sự vào thời đó không bao giờ nuôi dưỡng bất cứ ý tưởng sát hại nào. Họ xem cây súng trường chỉ là dụng cụ thể thao." Đại đức Piyadassi hồi tưởng Người hồi tưởng: Những ngày Đảng Lao Động của A.E. Goonersinghe bảo lãnh cho Cuộc Đình Công của Công Nhân Xe Điện vào đầu những năm thứ ba mươi. Quân Đội Anh đã được triệu tập để ngăn chận bất cứ sư xâm phạm nào đến nền hoà bình. Một Thượng sĩ đến trường Nalanda, tháo những cái then trong hai mươi lăm khẩu súng trường trong kho vũ khí của trường kẻo chúng rơi vào tay sử dụng của những công nhân đình công. Trong thời gian học trường Nalanda, Premaratna quan tâm mở rộng việc học tập đến nhiều lãnh vực hoạt động ngoại khoá của trường. Cậu cũng như những nam sinh khác. Cậu không hút thuốc, như mấy đứa học sinh con trai khác, nhưng cậu là đứa trẻ ham vui đùa bình thường, say mê những trò tinh nghịch thông thường của học sinh con trai. Trường Phật học có phương châm riêng của trường. Khi trường Công giáo chọn tiếng Latin cho những phương châm của họ, thì trường Phật học tất nhiên chọn những câu cách ngôn trong kinh điển Phật giáo bằng tiếng Pali. Phương châm của trường Nalanda là Apadāna Sobhini Pañña - Tính Cách Làm Rạng Ngời Trí Tuệ, hoặc Trí Tuệ Chiếu Sáng Tính Cách. Phương châm của Trường Ananda là: Appamādo Amata Padam- Chánh Niệm Là Con Đường Đến Niết Bàn-Bất Tử. Một trường bạn, Dharmaraja, trên những ngọn đồi Kadyan, có phương châm là Attāhi Attano Nātho: Tự Mình Là Nơi Nương Tựa Của Chính Mình. Những phương châm nầy vẫn duy trì mãi cho đến ngày nay. Chính trên những nguyên tắc tu tập như thế được lấy từ văn bản Pali mà học sinh Phật học được dưỡng nuôi. Premaratna tự nhiên quan tâm đến việc thám hiểm cái tâm bắt đầu từ những ngày còn là học sinh ở trường Nalanda. Tâm hiếu học vững mạnh dần. Cậu quan tâm đến Lời Phật dạy bắt đầu vào cái tuổi khi các nam sinh khác còn bận chơi thể thao, hoạt động giải trí và tìm mạo hiểm trong những vùng khác. Trong khi học ở trường Nalanda, Premaratna đi bằng xe đạp từ nhà ở Kotahena đến Vajararama ở Bambalapitiya – cách đúng bốn hay năm dặm. Cậu ngồi ở bên chân của Đại đức Siri Vajaranana nguyên là Maha Nayaka Thera, thầy hướng dẫn tinh thần cho cậu, học văn học Tích- Lan và Vi Diệu Pháp. Trong thời kỳ mới lớn nầy cậu có nhiều thay đổi trong tính cách. Cậu phát triển nhanh niềm say mê học Phật Pháp. Người hồi tưởng "Tuy nhiên tôi cư xử như bất kỳ cậu con trai nào khác. Tôi hiếu động, hoạt bát và đôi lúc tinh quái - tất cả chỉ là trò đùa ngây thơ; không làm việc gì xấu ác quá, hơi nhẹ dạ, ngây thơ nhằm chọc ghẹo thôi." Vẫn còn trong tuổi thiếu niên, cậu gặp một người Phật tử thuần thành, Jinadasa, một người bà con trước kia của Đại đức Narada Thera, ông có chịu phần trách nhiệm trong việc Đại đức Narada xuất gia. Ông khuyên cậu Premaratna cũng gia nhập Tăng đoàn. "Hãy nhìn vào công việc của Đại đức Narada đang dâng hiến cho Đạo Phật," Jinadasa bảo Premaratna . "Cháu hãy đi theo dấu chân của vị sư đó". Premaratna đồng í, nhưng không thực hiện ngay lời khuyên nghiêm túc đó. Khi vẫn còn tiếp tục học Phật Pháp, cả trường Nalanda và chùa Vajararama, Premaratna quyết định một ngày nguyện thọ bát quan trai giới Ata Sil -Tám Giới. Năm giới thông lệ mà chư Phật tử thường quán niệm là: Tôi tránh không 1.sát hại bất cứ cái gì có hơi thở; 2. lấy của không cho, 3. tà hạnh; 4. nói dối; 5. uống rượu và các chất say. Những người Phật tử thuần thành thường bắt đầu một ngày đầu tháng thường là ngày rằm, để thọ thêm ba giới: Tôi tránh không 6. ăn sái giờ; 7. múa, hát và xem giải trí bất nhã; dùng tràng hoa, nước hoa, mỹ phẩm và đồ trang điểm; và 8. dùng giường cao sang. Thế là chính Premaratna quyết định thọ Bát Giới vào ngày Poya (rằm). Cậu ngồi hành thiền ở trong nhà vận bộ đồ trắng. Sáu thập kỷ sau Đại đức Piyadassi nói với tôi về ngày Bát Giới đầu tiên đó. "Mẹ tôi rất mừng khi thấy con trai bà thọ bát giới (Ata Sil). Bà dâng cơm trưa (dana) cho tôi, và đối xử tôi như một vị tỳ khưu. Tôi cảm thấy ngượng. Từ đó trở đi, Premaratna thường đến chùa Vajararama hơn. Cậu thường ở trong thư viện hằng giờ, đọc ngấu nghiến bất cứ cái gì có thể đặt tay lên. Đại đức Vajiranana ở Pelene - Nguyên Maha Nayaka Thera, theo lời của Đại đức Piyadassi, là người chấp hành kỷ luật đã trông xa thấy rộng rằng cậu Premaratna, một học sinh Phật học, có lợi ích cho Giáo Pháp (Sasana) cho Tăng Đoàn (Maha Sangha), hay Giáo Hội Phật Giáo. Đại đức Vajaranana sợ rằng nếu Premaratna tiếp tục học ở Nalanda, rồi cậu sẽ muốn học tiếp đại học, và thế là cậu mất niềm say mê trong Đạo Phật. Nên cho cậu đắp y để cậu thấy như là tài sản có giá trị. Một ngày, sau khi học xong bài ngày Chủ Nhật, ngài bảo cậu Premaratna , ‘Giờ con học ở trường Nalanda đủ rồi. Con có thể đến đây và tiếp tục việc học của con. Ở đây, thư viện thầy có rất nhiều sách hay." Lúc đó, Premaratna đã quyết tâm trở thành tu sĩ Phật Giáo. Cậu gặp các bạn học trong buổi tiệc chia tay vào một ngày trước khi xuất gia. Mẹ cậu ngậm ngùi nói lời từ giã: "Con, hãy vâng lời Ngài cả Nayaka Thera" Pháp Đường ở Chùa Vajararama ở Bambalapitiya chật ních người. Giữa những người có mặt hôm đó là Hiệu trưởng trường Nalanda, Jinendradasa, nhiều giáo viên trong ban giảng dạy và học sinh. Vào buổi lễ xuất gia, Đại đức Vajaranama Nayaka Thera chính thức là Giáo thọ sư- Dhammacariya và Đại đức Revata Maha Thera ở Veragampita là Giới Luật Sư -Vinayacariya. Sáu tháng sau, Sa di Premaratna được thọ Tỳ Khưu Giới- Upasampada. Mấy năm sau, Đại đức Piyadassi nhớ lại: Đời sống tu sĩ hơi khó thích nghi; trước đây thường ngủ trên giường, giờ cậu phải bằng lòng với chiếc chiếu và ngủ trên nền nhà trong thư viện. "Thời đó không có điện, chỉ có nến, quét sân chùa là nhiệm vụ đầu tiên và hằng ngày của tôi." Trông cậu chuyển đổi hoàn toàn trong bộ y. Chẳng còn bao giờ có cái gọi là tự do để cậu vui đùa như người đời. Hằng ngày Sư phải ôm bình bát đi một vòng để khất thực –pindapātha, sống nhờ vào lòng hảo tâm của mọi người. Tuy nhiên ngay cả chú Sa di nhỏ, người ta cũng phải cúi đầu tỏ lòng tôn kính. Người được sự trực tiếp giáo dục của "Bậc thầy vĩ đại, uyên bác và xuất sắc", Đại đức Vajiranana Maha Nayaka Thera ở Pelene. Đại đức Narada- huynh trưởng của người cũng ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống của Đại đức Piyadassi - một vị sư trẻ. Đại đức Narada cũng được sinh ra tại Kotahena. Những hoạt động hoằng pháp của Đại đức Narada gây ấn tượng lâu dài trong tâm trí trong sáng của vị sư trẻ. Đại đức Piyadassi nghiên cứu văn chương Pali và Tích- Lan cùng với Giáo Pháp và Giới Luật. Sau đó người tự ghi danh vào lớp Vidya Visarada ở Đại Học Colombo, được Tiến sĩ G.P.Malalasekara tổ chức. Vào năm 1934, năm Đại đức Piyadassi thọ Tỳ Khưu, cuốn sách Thiền Phật Giáo được phát hành ở Anh quốc, được viết bởi một phụ nữ Pháp,G. Constant Lounsbery người có bằng Cử Nhân Khoa Học và Chủ Tịch của Les Amis du Bouddhisme. Lời nói đầu của cuốn sách được viết bởi W.Y. Evans Wentz, Thạc sĩ, Tiến sĩ Văn chương, Tiến sĩ Khoa học (Oxon), thành viên của trường Jesus thuộc Đại Học Oxford. Cuốn sách mở đầu với lời trích dẫn từ Kinh Pháp Cú, kệ 239: Từ từ, chút chút mà hay Trong lúc có nhiều trường phái Đạo Phật hiện đại, Lounsbery chú tâm vào Theravada, Phật Giáo Nguyên Thuỷ, hay Phật Giáo Nam Tông. Lounsbery viết "Phật tử chân chính là người suy nghĩ tự do, người tiên phong trong việc tầm cầu chân lý, người tiên phong có lòng trắc ẩn và khoan dung, đi tìm để tước đoạt vũ khí một kẻ thù - Vô minh." Đây là một diễn tả thích hợp về Đại đức Piyadassi xuất hiện sau cuốn một sách của Lounsbery phần tư thế kỷ, sắp bắt đầu như một người tiên phong đem thông điệp của Đức Phật đến khắp thế giới. Lounsbery nói: "Đông Phương đang lấy vốn tích lũy trong các Kho Tàng Pháp Bảo và làm sáng tỏ những mê tín dị đoan trong chủng tộc đã làm mê mờ những Ý Tưởng Trọng Yếu của Giáo Pháp. Những mê tín dị đoan thuộc chủng tộc hay cục bộ nầy đưa đến kết quả là cuộc diễu hành khải hoàn của Đạo Phật ở bên kia Châu Á xuyên suốt Tích-lan, Miến Điện, Thái lan, Trung Quốc, Nhật bản và Tây Tạng. Nhưng sự tồn tại qua nhiều thế kỷ của Giáo Pháp, dường như nhờ vào sự kiện rằng không có một giáo điều nào bị áp đặt cả." Cuốn sách tham khảo đến những bài viết của những vị sư Phật giáo nổi tiếng, kể cả, sư người Đức, Đại đức Nyanatiloka Maha Thera, Đại đức Narada Maha Thera, Đại đức Vajiranana Maha Thera ở Parawahena và tỳ kheo Silacara (Ông Mckechnie).Sau nầy vào một ngày nào đó, Đại đức Piyadassi sắp điền tên người vào danh sách những người diễn giải Đạo Phật nổi bật nầy. -ooOoo- -3- THỜI THANH NIÊN Một trong những sự kiện cùng xảy ra trong đời, vào lúc Premaratna xuất gia như là một tu sĩ Phật Giáo có Pháp danh là Piyadassi, tôi bắt đầu có cái nhìn xuyên suốt vào Đạo Phật. Vào cùng năm đó, 1934, cha tôi chuyển tôi từ Nhà Tu Kín Bông Hoa Nhỏ Công Giáo ở Bandarawela và cho tôi nhập vào trường Dharmaraja ở Kandy, Phật Học Viện dành cho Nam sinh lớn nhất thứ ba, sau hai trường Ananda và Nalanda ở Colombo. Nhà giáo dục Phật học dẫn đầu thời đó, P.de S. Kularatna, từ chức hiệu trưởng trường Ananda để nhận lãnh đạo trường Dharmaraja từ K.F. Billimoria. Kularatna dời đến Kandy, thủ đô cao nguyên, sẽ nâng cao trình độ giáo dục ở đó. Đối với chúng tôi, những học sinh Rajans tự hào, Kularatna là hiện thân của chủ nghĩa dân tộc Tích Lan và giáo dục Phật học, sự pha trộn hài hoà của văn hoá Đông và Tây. Ngay sau khi ông từ Anh quốc trở về với vợ ông - người nước Anh, ông vận quần áo dân tộc Tích Lan, được biết là trang phục Arya Sinhala. Mỗi buổi sáng ở hội trường chúng tôi đọc tam quy và ngũ giới. Chúng tôi, hầu hết là bọn con trai nông thôn nhỏ, ham chơi, không thường tiếp xúc văn hoá Tây phương, rất sung sướng khi hiệu trưởng và vợ ông thỉnh thoảng cùng đọc ngũ giới với chúng tôi và chúng tôi được nghe giọng ngoại quốc của một phụ nữ Anh đọc kệ Pali. Nhờ sự hiện diện dễ mến và hấp dẫn của Ông bà Kularatna, trường Dharmaraja có động cơ mới trong giáo dục. Đại đức Piyananda ở Dickwela hiện diện trong viện là hình ảnh Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc, mấy năm sau ngài cư ngụ ở Washington Buddhist Vihara (do Đại đức Pannasiha Mahanayaka Thera thành lập năm 1965), ngài ngụ tại trường khi lần đầu tiên tôi theo học. Ngài dạy giáo Pháp và Mỹ Thuật. Ở đó cũng có một ni cô người Mỹ, Cô Dhammadinna, phòng cô ở chiếm Cảnh Hồ, một trong hai phòng riêng biệt dành cho tu sĩ trên ngọn đồi Dharmaraja. Ông L.H.Mettananda làm hiệu trưởng kế Ông Kularatna. Ông trái ngược với Kularatna, về vẻ mặt nghiêm nghị hay cau mày và cách vận quần áo lúc nào cũng vậy, ông có sức hấp dẫn lôi kéo mọi người về phía ông. Khi có sự hiện diện của ông hiệu trưởng Mettananda, chúng tôi, bọn học sinh còn nhỏ sợ, nếu không nói là kinh. Tuy nhiên tôi có kỷ niệm đáng nhớ về 5 năm ở trường Dharmaraja. Về mặt giáo dục tôi có sẵn quí thầy tận tâm sẵn sàng giúp cho đến khi khôn lớn. Không chỉ là kiến thức ở trường mà còn là nhiều mặt trong chính cuộc sống hình thành giọng nói của tôi. Ảnh hưởng Đạo Phật trong đời tôi bắt nguồn từ trường Dharmaraja, vì chính vào thời đó tôi bắt đầu thắc mắc về vài cách thực hành nghi lễ bên ngoài của Đạo Phật mà trong những năm sau, Đại đức Piyadassi định nói đời không thiết yếu cho một Phật tử chân chính thực hành. Không bằng lòng với những lời giải thích khác nhau của người giảng dạy, tôi bắt đầu quán xét pháp nội của Đức Phật, trong lúc cố liên hệ với đời sống hằng ngày. Thói quen đọc sách hình thành từ lúc thiếu thời khiến tôi đọc ngấu nghiến bất cứ thứ gì nằm trên tay tôi. Mặc dù tôi đã học nhiều từ sách, tôi tin rằng tôi đã học từ con người nhiều hơn. Đại đức Piyadassi là một trong số đó. Tôi học Pháp vào cái tuổi bốn mươi từ vị sư Hà Lan, tỳ khưu Dhammapala. Người thường nói rằng những lời Phật dạy cần được giải thích chứ không nên áp đặt."Chúng tôi càng giải thích thực tế giáo pháp, càng có nhiều cơ hội lớn cho những người suy nghĩ đúng chấp nhận. Đó là những gì Đại đức Piyadassi sắp làm vài năm sau- giải thích Phật Pháp cho thế giới. Tỳ khưu Dhammapala từ Tân Tây Lan, một thời là linh mục Công Giáo La mã, đã từng từ bỏ đức tin vào tổ tiên để chấp nhận Đạo Phật. Vào những năm sau, ông muốn kể với tôi rằng trong lúc một linh mục ở quê hương ông, mất niềm tin vào khái niệm Thượng Đế và Đức Chúa Nhân Từ, ông quỳ nhiều giờ trong ngày để cầu khẩn Chúa giúp ông phục hồi niềm tin. Ông chỉ tôi xem đầu gối ông bị thương tích như là bằng chứng. vào Cuối năm ba mươi tuổi, ông xuất gia như là một tu sĩ Phật Giáo, ngụ tại chùa Sudharmarama tại Udawattakele trong suốt những ngày đầu tôi học ở trường Dharmajara. Tỳ khưu Dharmaraja thành lập Hiệp Hội Sinh Viên Phật Giáo Tích – Lan (ACBSU), có thể được diễn tả như phong trào cách mạng trong sinh viên Phật Giáo. Bác bỏ những học thuyết cứng nhắc và giáo điều của tôn giáo vô thần, phong trào khuyến khích thanh niên khảo sát lời dạy và vấn đề liên quan đến những chuyện thần thoại thường kết hợp với tôn giáo có tổ chức. Nhiều chi nhánh của Hội Sinh Viên Phật Giáo Tích – Lan (ACBSU) sắp thành lập ở nhiều nơi trong nước. Đầu tiên do tôi, một chi nhánh được thành lập ở Badulla và có tiếng là một trong những chi nhánh hoạt động tích cực. Hội Sinh viên Phật Giáo Bandulla bắt đầu một tạp chí có tên là BEES. Nó có hai nghĩa BEE- EES- Sinh Viên Phật Giáo và từ "bees|" cũng có nghĩa chúng tôi linh hoạt năng động như con ong bận rộn. Khi Đại đức Piyadassi nói: Hội Sinh Viên Phật Giáo (BSU) đem lại đời sống mới cho sinh viên Phật giáo bằng cách chỉ cho họ nghệ thuật nghiên cứu Đạo Phật một cách chỉ trích – không phải chỉ đọc lướt qua hay nhìn trên bề mặt mà tìm tòi nghiên cứu sâu và thấy vượt trên mắt trần." Sinh viên từ nhiều nơi khác nhau trong nước được đến gặp gỡ nhau để hội thảo chuyên đề và luận Đạo vào cuối tuần, trao đổi ý kiến và trở thành bạn Đạo. Họ cũng làm những việc xã hội như cứu trợ lũ lụt. Những thành viên của Hiệp Hội Sinh Viên Phật Giáo Tích – Lan thảo luận sinh động về so sánh tôn giáo và Triết lý với Tỳ Khưu Dhammapala như là người chủ động. Những cuộc thảo luận nầy thường biến thành những cuộc tranh luận nóng bỏng. Được chỉ định là người chỉ đạo tinh thần, sư hướng dẫn những cuộc thảo luận vào những vấn đề ưa tranh luận như Khái Niệm về Thượng Đế. Sư có thể chứng minh hay bác bỏ bằng nhiều cách khác nhau sự tồn tại của Đấng Toàn Năng hay Chúa Nhân Từ. Lai lịch Công Giáo của sư làm cho sư có khả năng trình bày việc phân tích và so sánh giữa tôn giáo hữu thần và nhân văn mà chúng tôi, những sinh viên trẻ hay chống đối, say mê và nhanh chóng đặc câu hỏi và tranh luận. Năm 1960, H.S.S.Nissanka, một thành viên rất tích cực của Hiệp Hội Sinh Viên Phật Giáo Tích – Lan mời Đại đức Piyadassi nghiên cứu tỉ mỉ "Khái Niệm Đạo Phật về Đời Sống trước khi Sanh và Đời Sống sau khi Chết".Cuộc nghiên cứu tiếp tục trong nhiều tháng đưa người tới những vùng quê xa xôi hẻo lánh. Trong vùng Hadunuwewa ngoài Talawakele ở trung tâm Tích – Lan cô bé Nanatilake Baddewithana, đang nói về đời sống kiếp trước. Khi bé mới hai tuổi bé nói về người mẹ và người cha khác ở Talawakele. Dựa vào những cuộc điều tra nầy Tiến sĩ Nissaka viết một cuốn sách bằng tiếng Tích –Lan, Navata upan dariya (Cô Bé Tái Sanh) Giáo sư Ian Stevenson M.D. Phân Khoa Thần Kinh và Tâm Thần, trường Y, Đại Học Virginia, được nhiều người biết là nhà nghiên cứu trong lãnh vực nầy, vào mùa hạ năm 1961, viếng thăm Hedunuwewa và tiến hành cuộc điều tra độc lập về trường hợp và kể cả báo cáo về trường hợp trong cuốn sách của ông Hai Mươi Trường Hợp Gợi Nhớ Về Tái Sinh kết quả qua nhiều năm nghiên cứu đã đưa ông đến nhiều nước, kể cả Ấn Độ và Tích Lan, nơi đây ông đã thực hiện nghiên cứu trường hợp những người nhớ kiếp trước của họ. Ba trường hợp được nghiên cứu ở Tích- Lan. Cuốn sách nầy được Xã Hội Mỹ (American Society) xuất bản hầu cung cấp tài liệu cho Viện Nghiên Cứu Tâm Linh, năm1966. Nhận lời yêu cầu của Giáo Sư Stevenson, Đại đức Piyadassi nói chuyện với sinh viên trường Đại Học Virginiya. Vào những năm sau đó, Đại đức Piyadassi, vị sư truyền Giáo Quốc Tế sắp nhấn mạnh khía cạnh khoa học của Đạo Phật luôn được nghiên cứu kỹ và chất vấn ủng hộ. Dhammapala cũng thích đề cập đến câu chuyện của một tu sĩ Phật Giáo người Í, Đại đức Lokanatha, một trong những bài thuyết pháp ông nói rằng khi ông trở thành Phật tử, mẹ ông đang cầu nguyện cho linh hồn ông. "Tội nghiệp cho bà", Đại đức Lokanatha than rằng "Bà không biết tôi không có." cùng với lời dẫn chứng trong Đạo Phật về niềm tin không có cái ngã/ linh hồn (anatta). Khác với nhiều tổ chức Phật Giáo khác, Hiệp Hội Sinh Viên Phật Giáo Tích – Lan không đọc ngũ giới vào lúc bắt đầu cuộc họp. Chúng tôi tin rằng năm giới là quá nhiều như mười điều răn của Công Giáo, vì vậy chúng tôi phát triển cốt lõi đạo đức riêng, dĩ nhiên, nói chung dựa trên lời Phật dạy. Vào các buổi họp hay hội nghị, chúng tôi quỳ hai bàn chân dựng lên, đầu cúi xuống và hành thiền: Tôi sẽ tìm sức mạnh trong đời sống sạch trong; Bây giờ, hơn bốn mươi năm sau, tôi không thể tìm thấy lỗi nào trong triết lý nầy mà dường như là cốt tử lời Phât dạy. Thậm chí sau khi Tỳ Khưu Dhammapala hoàn tục, vẫn tiếp tục quan tâm đến Đạo Phật và Hiệp Hội Sinh Viên Tích Lan. Ông vẫn giữ niềm tin trong Phật Pháp, mặc dầu ông tiếp cận Đạo Phật không theo phong tục. Tuy nhiên kiến thức Phật học uyên bác của ông có truyền thống; vì ông ở trong ban giảng huấn của trường Đại Học Peraniya và sau khi Tiến sĩ G.P.Malalasekera nghỉ, ông trở thành Chủ Bút của Bách Khoa Tự Điển Phật Giáo. Đại đức Piyadassi, sau nầy trông nom Hội Sinh Viên Tích Lan như Vị Giám Đốc Tinh Thần chính yếu, là người kế tục xứng đáng hơn bất cứ những người điều hành trước kia. Người ứng hợp với vai trò nầy một cách đáng ngưỡng mộ. Đại đức Piyadassi là một trong thế hệ của chư tăng đang lớn lên muốn ly khai khỏi những phương diện giáo điều của đạo và làm sáng tỏ giáo lý trong khi liên hệ đến chư tăng theo truyền thống vẫn còn ở trong chùa và mong chờ người ta tôn kính họ. Người thuyết giảng hằng trăm buổi nói đạo trong các trường trung và đại học ở khắp nước. Người là một diễn giả được thính giả tìm gặp nhiều nhất sau buổi nói đạo tại trường Đại Học Peraniya. Nhờ tiếp xúc với sinh viên, người làm cho chúng qúi mến. Không bằng lòng trong giới hạn ở địa phương, Đại đức Piyadassi vươn cánh đến cảnh trời trong nước và quốc tế. Đem thông điệp của Đức Phật đến khắp bốn phương trời, Đại đức Piyadassi chầm chậm nhưng chắc chắn làm cho tên người được biết đến trong cộng đồng Phật Giáo Quốc Tế. -ooOoo- -4- NHỮNG NGÀY MỚI XUẤT GIA Đại đức Piyadassi là một biểu tượng tốt của một vị sư được "đào tạo tại chỗ". Khi thọ tỳ khưu giới (upasampada) vào lúchai mươi tuổi, kiến thức về Pháp và Luật tất vẫn còn giới hạn. Tuy nhiên, lòng khao khát học tập của người so với những người khác là vô cùng tận. Từ khi mới xuất gia, Đại đức Piyadassi cho thấy lòng hiếu kỳ đặc biệt trong việc nghiên cứu Giáo pháp. Đại đức Siri Vajiranana Mahanayake Thera ở Pelene, giáo thọ sư của người (dhammacariya), đã cảm nhận tính cách nầy trong cậu bé Premaratna, khi cậu học với ngài và bỏ học ở trường Nalanda rồi trở thành tu sĩ. Đại đức Piyadassi cũng là người giỏi biết lắng nghe. Nhiều học giả Phật giáo lỗi lạc và những nhà lãnh đạo thường viếng thăm chùa vào những ngày rằm, trong thời gian Đại đức Piyadassi mới thọ giới. Trong số những ai thường gọi điện đến để tỏ lòng tôn kính đối với bậc đạo sư Đại đức Vajiranana và thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến Đạo Phật và nền Giáo Dục Phật Giáo nói chung, Đại đức Piyadassi nhớ đến Sir Baron Jayatilleke, Tiến sĩ.G.P.Malalasekara, Julius de Lenerolle, Munidasa Cumaratunga, Mudaliyar E.A.Abeyesekera và pháp huynh của Thầy – Mahanayaka Pandita Gunawardana ở Tudawe Thera. Là một vị sư nhỏ, Piyadassi không được quyền đến gần nhưng quá thính tai, người lắng nghe và học được nhiều qua các buổi nói chuyện giữa thầy người và những cư sĩ có quyền uy mà họ không để í. "Tôi học được nhiều bằng cách chỉ lắng nghe từ những người có học vấn cao như thế," Đại đức Piyadassi mấy năm sau nói. Nhiều điều có ý nghĩa và những năm của thập kỉ ba mươi. Phong trào phục hưng Dân Tộc Phật Giáo đã có đà tiến triển trong mấy năm qua, sau khi thành lập các trường Phật Học. Vào năm 1931, ba năm trước khi Đại đức Piyadassi xuất gia, Jawaharlal Nehru và phu nhân ông ở Ấn Độ viếng thăm Tích –Lan, đi cùng cô con gái, Indira, tương lai là Bộ Trưởng Ấn độ, lúc đó chỉ mười ba tuổi. Vào những năm sau, Đại đức Piyadassi trở thành người ngưỡng mộ nhiệt tình vị lãnh đạo Ấn Độ vĩ đại nầy là người yêu mến Tích –Lan và Đạo Phật. Đại đức Piyadassi thường nhắc đến Nehru trong nhiều buổi nói chuyện với thính giả trên thế giới và trong các cuốn sách ông viết. Cuốn sách The Spectrum of Buddhism của người mở đầu với lời trích dẫn nầy: "Nhiều thời đại đã trôi qua mà Đức Phật dường như không xa vời gì cả, giọng người thì thầm trong tai chúng ta và dạy chúng ta đừng bỏ chạy khỏi cuộc chiến mà lặng nhìn để đương đầu với nó, để thấy ra trong cuộc đời từng có nhiều cơ hội vĩ đại hơn để trưởng thành và phát triển. Một nhân cách tính đến hôm nay và mãi mãi và con người đã để ấn tượng của chính mình lên tư tưởng của nhân loại như Đức Phật, vì vậy cả đến ngày nay tư tưởng của người vẫn còn sống động và rung cảm, ắt hẳn là con người tuyệt luân- một con người mà như Baths nói, "một mẫu hoàn chỉnh của trầm lặng, dịu ngọt và oai nghiêm, của nhân hậu vô cùng đối với chúng sanh có sự sống và có lòng trắc ẩn đến chúng sanh đau khổ, của người có đời sống giải thoát hoàn toàn và miễn nhiễm mọi thành kiến." Thông điệp của người cũ mà rất mới và nguyên thuỷ đối với những ai mãi mê trong những điều vô cùng tinh tế của lý thuyết suông, giam cầm trí tưởng tượng của giới trí thức; và thông điệp đó ăn sâu vào trái tim nhân loại. (The Discovery of India). Trong lúc viết cuốn sách nầy tôi nhận được cuốn sách của Akbar Nehru- The Making of India cho tờ báo The Sunday Times của Tích –Lan. Đại đức Piyadassi, vào giai đoạn cuối của chuyến hoằng pháp quốc tế thứ mười ba, đã đọc bài phê bình ở Singapore. Ngày 22 tháng 9 năm 1992 người nói: "Tôi đã đọc bài phê bình tuyệt tác của ông... Tôi là người yêu mến Nehru. Ông là người Phật tử có tâm huyết và lòng kính yêu vô hạn đối với Đức Phật." Người nói rằng từ khi đọc bài phê bình nầy người thích đọc sách của Akbar. Ngay khi các viện giáo dục Phật học đang mọc lên khắp nơi trong nước, những tổ chức tôn giáo cũng nhanh chóng ra đời, đã đem lại một sức đẩy mới cho Đạo Phật. Vào thời đó Tích Lan vẫn còn dưới chế độ cai trị của Anh, và mãi đến năm 1948, Tích Lan mới giành được độc lập sau Ấn-Độ độc lập một năm. Đó là cái kỷ nguyên, mà người nào được biết là một người Công Giáo mới hợp thời; khi những mảnh vụn từ cái bảng hiệu của người da trắng trên những người Công Giáo bẩm sinh, trong khi phần lớn cộng đồng Phật Tử bị lãng quên. Một tổ chức công giáo nhanh chóng giành được sự công nhận vào thời Hội Thanh Niên Phật Giáo Uva (YMBA). Tôi được liên lạc mật thiết với hội nầy suốt trong những thập niên bôn mươi và đầu năm mươi, kỷ nguyên mà Đại đức Piyadassi là người nhiệt tình tham giaphong trào phục hưng Chánh Pháp, chĩa mũi nhọn từ thủ đô Colombo nhờ nhiều tu sĩ lỗi lạc, kể cả chư vị Đại đức Narada, Pannasiha ở Madihe, Pannasekhara ở Kalukondayave, Nanasiha ở Henpitagedara, Piyadassi và nhiều tu sĩ khác và cư sĩ, quá nhiều không thể kể hết được. Đồng thời với Hội Thanh Niên Phật Giáo Uva là Amarananda Gunapala, một nhân vật được yêu chuộng ở nơi làm việc của ông, Tổng Thư Ký Gunapala làm việc không mệt mỏi cho tổ chứ Hội Thanh Niên Phật Giáo Uva như là một tổ chức tôn giáo từ thiện. Một đoạn trong tiến trình nầy khi Jack Kotelawele, như là một thành viên của nghị viện cho Badulla, giới thiệu một bàn kiến nghị cho tổ chức trong nghị viện vào năm 1949. Đảng Đoàn Kết Dân Tộc (UNP), chính phủ ngày nay, bác bỏ kiến nghị đó với lí do rằng nó được giới thiệu bởi "người theo chủ nghĩa Mác xít mà theo người đó tôn giáo là thuốc phiện của nhân loại." Tờ The Ceylon Daily News, trong bài xã luận vào ngày 5 tháng 12 năm 1949 lên án sự bác bỏ của nhà nước. Nhiều lá thư gởi tới tấp đến chủ bút và công chúng phê bình nhiều về thái độ của nhà nước được xem như một trong những thủ đoạn chính trị bất chấp điều lợi ích của bản kiến nghị đó. Lá thư của tôi vào ngày 8 tháng 12 năm 1949 chúc mừng cánh hữu, bài bình luận thẳng của tờ Daily News nói: "Tôi không phải là nhà chính trị. Tôi viết bài nầy như là người theo Giáo lý của Đức Phật. Tôi cũng không thích xây dựng lên những viện tôn giáo... Đạo Phật là giáo lý triết học, phải thực hành và sống trong từng giây phút của đời sống chúng ta... Tuy nhiên, về nguyên tắc, tôi đồng ý với quan điểm đã phát biểu trong lãnh đạo của các anh. Cho dù đảng của ông Kotelawela có thể là chính trị, tôi luôn tìm gặp ở ông một người sẵn sàng và nhiệt tình giúp đỡ bất cứ khi nào tôi gặp ông có động cơ chính đáng liên quan đến Hiệp Hội Thanh Niên Phật Giáo Uva. "Sau đó, trong Chính phủ có một thành viên giới thiệu bản kiến nghị nầy và Hiệp Hội Thanh Niên Phật Giáo Uva kết hợp hành động. Ngày hôm đó, Gunapala là người hạnh phúc nhất . Vào khuya ngày Gunapala giã từ Badulla sau gần hết đời tận tuỵ cống hiến nhân dân Badulla, ông đã từng cống hiến quá nhịệt tình khiến ông phải từ giã. Người đã hoàn thành quá tốt chức năng phục vụ, nên được tặng hai mươi đồng tiền Anh bằng vàng để kỷ niệm hai mươi năm phục vụ cho Hội Thanh Niên Phật Giáo, ông nhận và xúc động ứa nước mắt không nói nên lời. Ông giữ một đồng tiền như vật kỷ niệm rồi trao phần còn lại cho hội nơi ông yêu mến để giúp xây dựng. Đồng tiền vàng đó được tặng cho Sumitra -vợ ông. Như vậy Gunapala luôn là người cho, không phải người nhận. Gunapala và Sumitra và con cái họ, hiện ở Aruppola, Kandy. Đại đức Piyadassi, thường đến viếng Chốn Ẩn Lâm ở Kandy, thường gặp Gunapala tại đó. Khoảng cùng trang lứa, Đại đức Piyadassi và Gunapala đã đi những bước tiên phong trong Đạo Phật. Họ tiếp tục làm việc cho đạo trên cao nguyên Kandy nầy. Amarananda Gunapala là nòng cố của cuốn sách nầy. Lần đầu tôi gặp ông vào những ngày tôi lang thang và thường lêu lỏng, ngay sau khi ở trường về. Ông là người có ảnh hưởng chuẩn mực trong đời tôi. Tôi bắt đầu quan tâm trong những hoạt động Phật Giáo là nhờ ông truyền cảm hứng. Nhờ mối quan tâm đó, tôi có đặc ân được biết đến Đại đức Piyadassi - chủ đề trung tâm của cuốn sách nầy. Qua những trang sách nầy tôi, tôi tỏ lòng tôn kính đến Gunapala, một người bạn trung thành và đáng tin- một công nhân nhiệt tâm, người như Đại đức Piyadassi nói, đã cống hiến trọn đời để phục vụ vị tha. Một trong những thành tựu của Hội Thanh Niên Phật Giáo Uva là sáng lập trường Tư Thục Phật Giáo đầu tiên cho nữ sinh ở Bandulla. Được trang bị với những cây cuốc chim và mấy con voi theo truyền thống của lễ đặt đá để xây dựng, mấy trăm học sinh chúng tôi cắt mảng cỏ đầu tiên vào một ngày Chủ Nhật vào những năm giữa thập niên bốn mươi, trong phong trào shramadana rộng lớn. Chúng tôi có mang theo cơm sữa (kiributh) và kevun, kolikuttu, chuối và kitul jaggrey và nhiều bình nước trà, khi chúng tôi đào đất để đặt nền tảng cho cái mà ngày nay là Badulla Visakha Vidyalaya. Đứng đầu đội tiền phong ngày đó dĩ nhiên là Amarananda Gunapala. Về thân hình bên ngoài nổi bật trên mảnh đất ngày hôm đó là Cyril de Silva. Trong lá thư mới đây gởi cho tôi ở Canada, Cyril nhớ làm sao cách đây mấy năm, ông gặp Đại đức Piyadassi đi bằng xe lửa từ Kandy khi Cyril là tài xế xe lửa. Xe lửa theo kế hoạch đến Colombo khoảng 9:30 sáng hôm đó nhưng bị trật đường rây trầm trọng ở Polgahawela và xe lửa được tổ chức lại. "Tôi nhận ra Đại đức Piyadassi tại Rambukkana và dâng sư nước dừa, vào lúc khoảng 9 giờ sáng. Tôi trình sư thực trạng như thế, khi nhận ra sư sắp trễ giờ độ ngọ. Sư bảo tôi đừng lo về điều đó. Sư có thể dùng vài lát bánh mì cũng được. Tuy nhiên Cyril liên lạc với ông Trưởng Ga Polgahawela chuẩn bị ngay cơm trưa dâng sư. Trong lúc đó Cyril bảo nhân viên phục vụ ở quầy giải khát ở ga dâng sư một tách trà hay cà phê. Đại đức Piyadassi sau đó nhận địa chỉ Cyril và gởi cho ông một gói sách về Đạo Phật cho "các con ông". Cyril viết "Sư là một tu sĩ vĩ đại". Cư sĩ Cyril và tu sĩ Đại đức Piyadassi- cả hai đều chóng kết bạn với nhau. Tôi được biết từ Đại đức Piyadassi rằng Hải Đảo Cư, toạ lạc trên cái hồ ở Dodanduwa trong Miền Nam Tích Lan, được một vị sư học giả người Đức nổi tiếng thành lập Đại đức Nyanatiloka Mahathera vào năm 1913. Nó trở thành chốn ẩn lâm cho hằng trăm tu sĩ Tây phương và Đông phương. Tuy nhiên, suốt trong thế chiến thứ hai tất cả tu sĩ nước ngoài phải rời chốn Ẩn Lâm. Tích –Lan lúc bấy giờ dưới quyền cai trị của Anh Quốc, và chính người Anh đã đưa Đại đức Nyanatiloka và Đại đức Nyanaponika và tất cả những người Đức khác vào trại tập trung ở Diyatalawa, trong nội địa Tích Lan. Sau khi người Nhật lấy Singapore, những người nầy được chuyển đến trại ở Dehra Dun ở Bắc Ấn. Ở đây họ tiếp tục dịch thuật và sinh hoạt Đạo. Từ Dehra Dun Đại đức Nyanaponika viết cho Đại đức Piyadassi: "Suốt trong thời gian ở đây tôi không bao giờ đóng cửa sau lưng tôi." Có lẽ nghĩa rằng họ không ở trong phòng. Suốt trong thời kì gian khó nầy chỉ có ba vị sư ở Hải Đảo Cư: người Tích –Lan, Đại đức Nanaloka, Soma và Kheminda. Đại đức Piyadassi cũng gia nhập và làm việc bên cạnh họ. Soma Thera là tác giả cuốn sách thiền nổi tiếng, bản dịch hoàn tất của Kinh Đại Niệm Xứ và Chú Giải, The Way of Mindfulness đã xuất bản nhiều lần. Sư cũng là tác giả cuốn The Path of Freedom (Vimuttimagga). Nhóm nầy đã có nhiều buổi luân Đạo tiếp tục đến ba giờ sáng; và chính nơi đây Đại đức Piyadassi hành thiền đạt đến độ sâu của nó. Con đường Cổ Xưa của Đức Phật, tác phẩm chính đầu tiên của Đại đức Piyadassi, bây giờ trở thành tác phẩm cổ điển về Đạo Phật, là kết quả của nhiều năm nghiên cứu Đạo trong tình bạn cùng với những tu sĩ học giả trẻ khác, người sớm nổi tiếng trên thế giới. Trong thời chiến đời sống khó khăn. Thực phẩm khan hiếm vì vậy thức ăn đạm bạc, tuy nhiên những vị sư nầy đương đầu với tám pháp thế gian (attha lokadhamma) với tâm dõng mãnh và tiếp tục Pháp sự của họ. Sau chiến tranh, hai vị sư người Anh đến Hải Đảo Cư, Đại đức Nanamoli và Đại đức Nanavira. Kinh nghiệm trong chiến tranh làm cho họ nhận ra chân lý trong Giáo Pháp của Đức Phật. Như chư vị Đại đức Mahathera Nyanatiloka và Nyanaponika, Đại đức Nanamoli đã cống hiến cho Đạo Phật rất đáng kể bằng cách chuyển dịch một số văn bản phức tạp sang tiếng Anh, kể cả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), đã xuất bản nhiều lần, và nhiều tác phẩm dịch thuật nổi tiếng khác. Bây giờ sống ở Hải Đảo Cư là một vị sư cao tuổi người Đức 83 tuổi, Đại đức Nanavimala, học trò trưởng của Đại đức Nyanatiloka. Sư có những sinh hoạt thật khác với những vị sư đồng môn. Sau khi sống mười năm ở hải đảo nghiên cứu kinh, bài giảng và bài luận đạo của Đức Phật, rồi xuất gia, sư đi khắp mọi nơi trong đất nước Tích Lan suốt hai mươi lăm năm, theo bước chân Đức Phật, hào quang của tình thương và lòng trắc ẩn của sư bảo bọc tất cả những ai gặp sư đúng như lời huấn thị của Đức Phật "vì lợi ích và hạnh phúc của chúng sanh". Bây giờ sư sống an bình lặng lẽ tại Hải Đảo Cư. Một vị Maha Thera người Đức đáng nhớ khác là Đại đức Vappa, một người học trò rất cao hạ của Đại đức Nyanatiloka, nhưng không phải là "học giả". Người đã ghi nhớ cuốn sách của thầy The Word of The Buddha, và khi nào thuyết pháp lại nhắc đến thầy, Đại đức Nyanatiloka, người rất hoan hỷ đọc thuộc lòng một bài kinh trong cuốn The Word of The Buddha. Người ta nói rằng nếu người không thể đón ca nô hay thuyền đưa người qua hồ để đến đất liền, hay đưa người trở lại Hải Đảo Cư, người sẽ bơi một quãng khoảng một dặm. Có lẽ người sinh viên- học trò nổi tiếng nhất của Đại đức Nyanatiloka là Đại đức Nyanaponika, tác giả cuốn Trọng Tâm Thiền Phật Giáo và người sáng lập Nhà Xuất Bản Sách Phật Giáo ở Kandy, nhà xuất bản những tác phẩm Phật Giáo lớn nhất trên thế giới. Hai thầy trò đều qua đời. Tro tàn - tất cả những gì còn lại của thân xác họ- nằm cạnh những vị đại Trưởng Lão tại một góc đặt biệt của Hải Đảo Cư gần nơi của người thành lập nó- Đại đức Nyanatiloka Mahathera. Mọi cuộc gặp mặt đều chấm dứt vào lúc chia tay (samyogā viyogantā). -ooOoo- -5- TÍCH LAN, QUÊ HƯƠNG CỦA ĐẠO PHẬT Lankadipa, hải đảo Lanka, được tô điểm với vô số vật có lợi về khảo cổ học, những tác phẩm nghệ thuật và những cấu trúc có văn hoá của nó vì nó có nền văn minh đến bây giờ là 2538 năm. Rải rác khắp 2500 dặm vuông là đất xanh tươi và những dải đất ven bờ khác nhau là bằng chứng của đất nước có cổ sử. Hơn nữa, cũng còn tồn tại một bản chữ viết là chứng cớ hùng hồn một thực tại có danh tiếng tốt, Biên Niên Sử vĩ đại - Mahavamsa, một trong những tuyệt tác hoành tráng, vĩ đại của thế giới, thiên khải tâm tánh của một dân tộc hùng cường và vĩnh cửu. Trong cuốn sách "Thiên Niên Sử của Lanka" in The Revolt in the Temple, D.C Vijayavardhana viết: Những thành phố tàn tích của Anuradhapura, Polonnaruwa và Sigiriya tiết lộ sự tinh tế của nền văn minh mà Lanka đã đạt đến suốt trong triều đại các vua Sinhala trải dài nhiều thế kỷ trước kỷ nguyên Công Giáo. Mahiyangana (Bintenna) và Mutiyangana, trong vùng rừng xa xôi của Uva, những chuyến viếng thăm của Đức Phật được thánh hoá thành những ngôi đền lịch sử, vẫn còn thu hút hằng ngàn đoàn hành hương. Sripada có huyền thoại dấu chân Đức Phật được người Hồi Giáo, Ấn Giáo cũng như Phật Giáo tôn kính. Kandy, pháo đài cuối cùng tượng trưng sức mạnh của Vua Sinhala, tàng chứa Xá Lợi Nha Thiêng Liêng của Đức Phật tại Dalada Maligawa, Chùa Nha Phật. Parakrama Samudra, cái hồ nhân tạo ở Polonnaruwa là bằng chứng dẫn thuỷ nhập điền của các kỹ sư Sinhala cổ được Vua Parakramabahu chỉ đạo và Sinhala Yodayas - những người nầy nổi tiếng có thể lực và tính quả cảm phi thường phụ tá. Đền đá tảng ở Dambula và tượng Phật gây kinh cảm ở Avkana cũng là những chứng cứ nhắc đến sự đồ sộ vĩ đại mà ít quốc gia hiện đại nào sánh bằng. Xuyên suốt chiều dài và chiều rộng của vùng đất xinh đẹp nầy đã từng được biết bởi nhiều tên như Ceylon, Serendib, và Hòn Ngọc Ấn Độ Dương, sự phong phú của hải đảo diễm phúc nầy mở ra bất tận bất chấp sự phá huỷ trong nhiều năm nội loạn mới đây. Thomas Merton, một vị sư- giáo sĩ dòng luyện tâm viết: Polonaruwa - vùng đất bao la có cây cao bóng cả. Dân cư thưa thớt và không có người ăn xin. Con đường bụi mất hút, rồi sau đó chúng tôi tìm thấy Gal Vihara và những đền tháp tu vịện có kiến trúc khá phức tạp khác gồm các phòng bằng đá tổ ong. Xa xa là những ngọn núi. Như Yucaton. Con đường đưa xuống Gal Vihara: rộng yên tĩnh, trống và có cây cối bao quanh. Tảng đá hơi nhô lên mặt đất có động đi vào bên trong, và bên cạnh động có tượng Phật lớn ngồi bên trái, tượng Phật nằm bên phải, và Ananda, tôi đoán, đứng cạnh kim thủ Đức Phật. Trong động, có một tượng Phật ngồi khác... Tôi có thể lại gần đôi chân trần của Đức Phật mà không sợ quấy rầy ngài, chân tôi đứng trong cỏ và cát ướt. Sau đó sự yên tĩnh của những khuôn mặt vĩ đại khác thường. Những nụ cười rộng lượng khoan dung tuy to lớn đồ sộ mà huyền ảo tinh tế. Toàn năng, bất vấn, toàn tri, bất phản, sự an bình không do sự cam chịu của cảm xúc mà của Madhyanika, của tánh không, đã từng thấy qua nhiều vấn đề mà không cố làm mất tín nhiệm ai hay cái gì –không phản bác-không tạo thêm tranh luận nào khác. Về học thuyết chủ nghĩa, tâm cần được an định đúng chỗ, an bình như thế, yên tĩnh như thế, có thể làm người ta kinh cảm. Tôi hơi bị bất ngờ khi hưởng được một luồng khí làm khuây khoả và cảm ơn sự trong sáng rõ ràng của những hình ảnh, những hình dáng và đường nét trong sáng và linh động, thiết kế những thân hình đồ sộ tạc vào trong đá hình dáng và phong cảnh, hình ảnh, đá và cây. Và rồi sau đoạn cong của khối đá phẳng tràn xuống trên phía khác của thung lũng lòng chảo, là nơi bạn có thể đi lui và thấy những phương diện khác nhau của các hình ảnh. Nhìn vào những hình ảnh nầy, đột nhiên hầu như bắt buộc tôi vất khỏi thói quen, nhìn mọi vật bị trói cột một nửa, và sự trong sáng bên trong đó, dường như thoát thai khỏi những khối đá, trở nên hiển hiện rõ ràng. Chứng cớ kỳ lạ của tượng nằm nghiêng là nụ cười, nụ cười buồn của Ananda đang đứng với hai cánh tay chấp lại ("khẩn thiết’ hơn nhiều De Vinci’s Mona Lisa bởi vì hoàn toàn giản dị và minh bạch). Về tất cả những điều nầy không còn có câu hỏi rắc rối nào, không có vấn đề gì, và thực sự không "Huyền thoại’ gì cả . Mọi vấn đề đã được giải quyết và mọi sự trong sáng, giản dị, bởi các vấn đề đã rõ. Đá, tất cả các vấn đề, tất cả đời sống thay đổi với dharmakāya... mọi sự trống rỗng, mọi sự đều bi mẫn. Tôi không biết lúc nào khác trong đời tôi được hưởng cảm xúc của vẻ đẹp có giá trị tinh thần cùng với vẻ rạng ngời của mỹ học như thế . Chắc chắn, với Mahabalipuram và Polonnaruwa cuộc hành hương Châu Á của tôi đã trở nên rõ ràng và tinh khiết.Tôi có ý nói rằng, tôi biết và đã từng thấy những gì khó tìm. Tôi không biết cái gì khác còn lại nhưng bây giờ cái tôi thấy đã xuyên qua bề mặt và vượt lên cái bóng mờ và ngụỵ trang bên ngoài. Đây là Châu Á trong vẻ tinh khiết của nó, không bị bao phủ bởi rác rưởi, người Á, người Âu hay người Mỹ, và rõ, sạch và hoàn chỉnh. Châu Á nói hết cả mà không cần gì cả; Và bởi không cần gì, Châu Á cứ lặng yên, chưa bị để í, chưa bị khám phá. Châu Á không cần được khám phá. Chính chúng tôi, kể cả người Á lại cần khám phá. Toàn thể rất giống vườn Thiền (zen), quãng trống bát ngát và mộng mở và có chứng cứ, những hình ảnh vĩ đại, bất động, tuy nhiên những đường nét mang đầy sóng di động của hình dáng thân người, một hình ảnh cao đẹp. (The Asian Journal Merton. A New Directions Book) Đập vào mắt của du khách là cho dù du khách ở nơi nào trên đất nước nầy, du khách đánh thức được sự cảnh tỉnh xuyên suốt ba trăm năm bị nô dịch bởi những kẻ chinh phục thực dân Công Giáo – Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh- nền văn minh Phật Giáo Sinhala vẫn trong sạch. Đại đa số người dân vẫn nói tiếng Sinhala. Tầng lớp nông dân ở vùng ngoại ô vẫn ăn thức ăn quen thuộc không thay đổi, và mặc áo quần truyền thống, đàn ông sa rông, đàn bà sari. Nhiều ngàn người vẫn tấp nập đến chùa lễ Phật, lời Phật dạy về tâm từ vẫn lan toả khắp hải đảo đang nhiễu loạn nầy – Thiên Đường đã là và vẫn là. Nhiều viện trong nước đã từng nêu cao cách sống bản địa, Giáo Pháp Đức Phật ảnh hưởng rộng rãi trong nhiều viện. Viện có cột mốc trong thủ đô là Colombo. Được thành lập trong ngôi nhà nhỏ cổ ở Borella cách đây nhiều thập niên, Những toà nhà hiện đại của Hội Thanh Niên Phật Giáo đứng như bằng chứng đồ sộ của sự tiến bộ đã nhiều năm qua. Hội đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển tôn giáo như là xương sống của đất nước. Những nhà lãnh đạo hàng đầu trong phong trào dân tộc bắt đầu vào cuối thế kỉ hai mươi, hầu hết họ đã từng hoạt động ở Hội Thanh Niên Phật Giáo Colombo vào thời nầy hay thời khác. Đó là Ông Baron Jayatileka, Tiến Sĩ W.A/de Silva, Ông A.E.de Silva, Ông Cyril de Zoysa, Siri Perera, Eric Amanasinha, cần nhắc đến một vài. Một phương diện của hoạt động Phật giáo do hội đáng kính nầy đi tiên phong – trí tuệ của những tấm lòng vĩ đại hay tâm huyết của Hội Thanh Niên Phật Giáo- được giới thiệu trong cuộc tranh tài hùng biện Ánh Sáng Châu Á. Mặc dầu cuộc tranh tài dường như để thử khả năng hùng biện của thanh niên, thực sự nó được chuẩn bị khuyến khích thanh niên đọc The Light of Asia (Ánh Sáng Châu Á). Vài cuốn sách về Đạo Phật đã từng có ảnh hưởng như kiệt tác của Ông Edwin Armold. Tất nhiên, Hội Thanh Niên Phật Giáo chọn những tác phẩm thơ ca cổ điển nầy không những có ý nghĩa đối với tôn giáo mà còn vẻ tài tình của nó. Nhiều người theo Phật giáo nhờ Arnold trình bày có nghệ thuật cuộc đời của Thái tử Siddhartha thành Đức Phật Gotama. The Light of Asia hay The Great Renunciation, được truyền cảm hứng do lòng kính yêu Ấn Độ - nơi ra đời của Đức Phật- của Ông Edwin Arnold. Ông Darwin Arnold có bằng Thạc sĩ Mỹ Thuật, và tự cho mình là ‘Phật Tử’, nói rằng "nhờ môi giới của những người hâm mộ Đạo Phật tưởng tượng, để miêu tả cuộc đời và tính cách và chỉ rõ triết lý của vị anh hùng và nhà cách mạng cao thượng, Gautama của Ấn Độ, Người sáng lập Đạo Phật." Ông nói thêm: "Hơn một phần ba nhân loại có tư tưởng tôn giáo và đạo đức nhờ nhân cách kì vĩ của của vị hoàng tử kiệt xuất nầy, mặc dù được tiết lộ không hoàn hảo trong nhiều nguồn thông tin tồn tại thời bấy giờ, không thể nhưng vẫn xuất hiện, một con người thanh cao nhất, cao quí nhất, và lợi ích nhất." Giáo Hội Phật Giáo hay Tăng Đoàn dựa trên việc xuất gia từ bỏ đời sống thế gian của Đức Phật. Maha Sangha ở Tích Lan đã từng được kính mến và tôn trọng lâu dài xuyên suốt lịch sử của đất nước có đôi lúc biến động bất an. Gia nhập Maha Sangha được xem là một nỗ lực cao thượng như thế đến nỗi nhiều gia đình thậm chí được xem là cần thiết cho con trai họ xuất gia. Từ bỏ đời sống gia đình và gia nhập Giáo Hội Maha San |