|
CHÚ GIẢI TIỂU
TỤNG Bản Pāli ngữ: Bhadantācariya
Buddhaghosa
[02] Chương IV
NAM TỬ HỎI ĐẠO 1. Giờ đây đến lượt chúng ta đề cập đến phần chú giải về Nam Tử Hỏi Đạo bắt đầu [với các từ]Một pháp là gì vậy? Chúng ta sẽ đưa ra một lời giải thích sau khi nói đến Nhu Cầu pháp sanh [1] [để Đức Phật nói lên những lời này] và các từ này được đưa ra ở đây nhằm mục đích gì [với tiêu đề thứ tư trong Tiểu tụng]. 2. Nhu Cầu phát sanh là như thế này. Đức Phật có một Đại đệ tử tên là Sopāka. Người này đã phát triển được trí [2]chung cuộc vào lúc tuổi đời mới lên bảy tuổi kể từ ngày sanh. Đức Phật muốn cho phép ngài được thọ cụ túc giới vào trong Tăng Già thông qua phương pháp cho ngài trả lời những câu hỏi, và thấy [3] khả năng trả lời của ngài mà Ngài hiểu theo nghĩa, mà (Đức Phật) có cố ý chính ngài đưa ra câu hỏi. [76] Và ngài đã đưa ra câu hỏi bắt đầu với các từ: Một pháp là gì vậy? Nam tử đã trả lời và làm hài lòng Đức Phật với câu trả lời của cậu. Và đó chính là nghi thức thọ thụ túc giới của Trưởng lão. Đây là nhu cầu nổi lên về những lời tuyên bố này. 3. Giờ đây tu tiến tâm thanh tịnh [nói cách khác, tức là Định]bằng cách niệm tưởng đến Đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng Già như đã được giải thích trong phần đề cập đến Quy Y Tam Bảo (Ch. I) và tu tiến về giới cho mình cũng đã được giải thích trong chương nói về mười điều học (Ch. II) và tu tiến niệm thân cũng đã được giải thích dưới tiêu đề Ba Mươi Hai Thể. (Ch. III) và vì thế cho nên những câu hỏi này được đưa ra ở đây (nơi vị trí chúng có được trong Tiểu tụng] để minh chứng những tiêu đề thông qua đó ta hiểu biết trí tuệ về nhiều khía cạnh đa dạng được tu tiến, hay nói cách khác, đó chính là Định có giới làm nền tảng, tuệ có định làm nền tảng, như Đức Phật đã nói:
Khi người khôn ngoan khéo an trú trong giới Vì thế cho nên ta có thể hiểu điều này sau khi đã sử dụng mười điều học để chứng tỏ cho thấy giới ra làm sao, và Ba Mươi Hai thể để chứng tỏ nhập định đã có được kế sách thực hiện. Những câu hỏi được đưa ra ở đây để chứng tỏ cho thấy các loại tuệ thuộc về nhiều pháp tạo thành phương tiện tâm định. [4] Đây chính là mục tiêu chúng ta đưa ra. 4. Đến đây chúng ta đưa ra bài chú giải [về những câu hỏi này] I. [Eke nāma kim? Sabbe Sattā āhāratthitikā] Thế nào là một? Mọi Loài hữu tình đều tồn tại nhờ thức ăn. Đức Phật hỏi một pháp là gì vậy? Ngài đặt câu hỏi có liên quan đến một pháp, nhờ ly tham hoàn toàn cuối cùng một vị tỳ khưu có thể chấm dứt được đau khổ, hoặc [một pháp], nhờ việc ly tham như vậy người [5] này cuối cùng có thể chấm dứt được đau khổ. 5. Vị Trưởng Lão trả lời: Mọi Loài hữu tình đều tồn tại nhờ vật thực. Ngài trả lời như vậy [tận dụng] phương cách thuyết giảng các từ của một con người. [6] Và ở đây, đang khi tiến hành giải thích câu trả lời, lại là một bài Kinh gọi là ‘Thế Nào Là Chánh Niệm?’ Ở đây, hỡi các vị tỳ khưu, một vị tỳ khưu đang niệm thân trong thân,’ (D. ii. 313) đã tạo ra điều đó. [7] 6. [Chính vì thế] những gì được hiểu ở đây phải được vị Trưởng Lão khẳng định khi ngài đưa ra câu hỏi ‘một pháp là gì vậy? là thức ăn đưa vào miệng nhờ đó mọi chúng sanh được cho là ‘tồn tại nhờ vào thức ăn’ tức là sự tồn tại nơi các chúng sanh đều nhờ vật thực; vì đây là điều chính Đức Phật đã cố ý nói đến. Một pháp với từ ‘một’ cho dù không cố ý ám chỉ ‘chẳng phải ở trong Cộng Đồng Tăng Già, cũng không phải ở ngoài đời, phàm tục [lời giảng dạy thuộc trần tục và thuộc môn phái bên ngoài] liệu còn tồn tại bất kỳ một con số ‘một’ nào nữa hay không? [77] Về vấn đề này, Đức Phật nói như sau: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đã ly tham hoàn toàn với một pháp, khi tham dục của vị đó liên quan đến pháp đó đã hoàn toàn phai nhạt, khi vị đó được giải thoát hoàn toàn khỏi pháp đó, khi vị đó nhận ra hoàn toàn việc kết thúc pháp đó, sau khi đã đạt được điều chính trực, [8] ngài có thể kết thúc đau khổ tại đây và lúc này, một pháp đó là gì vậy? Đó là toàn thể chúng sanh đều tồn tại nhờ vật thực: khi vị tỳ khưu đã hoàn toàn ly tham với một pháp này... chính ngài là người... sẽ chấm dứt đau khổ ngay tại nơi đây và vào lúc này. Chính vì thế liên quan đến vấn đề này, Đức Phật đã nói [trước đó]như sau: ‘Một câu hỏi, một biểu hiện và một câu trả lời’ (A.v. 50-1). Và ở đây, [đối với cách diễn tả] ‘tồn tại nhờ vật thực’, vì một duyên được gọi là ‘thức ăn’ hay là ‘chất dinh dưỡng’ trong những đoạn văn như thể là: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, luôn tồn tại tướng sắc’. Việc tu luyện không khéo tác ý đối với vật thực khiến cho tham về dục lạc chưa sanh được sanh khởi (S. v.64) Khi sử dụng từ ‘vật thực’phù hợp ý nghĩa lại có một ‘nguyên nhân’ đó là [toàn thể các chúng sanh] tồn tại nhờ các ‘nguyên nhân’, thế nên chúng ta mới nói ‘tồn tại nhờ vào vật thực’ 7. Tuy nhiên, nếu ‘tồn tại nhờ vào vật thực’ [được coi như] liên quan đến những gì ta đã nói về ‘tứ thực’, [9] thì từ ‘toàn bộ’ có thể không hợp vì lý do ta có đoạn sau: ‘các vị trời được coi là các chúng sanh vô tưởng lại thuộc dạng vô nhân (root-cause-less) [10] không có vật thực, không có xúc, và không có thọ.’ (Vbh. 4519). Đến đây ta có thể nói: Ngay cả khi ta đã khẳng định như vậy, tuy nhiên vì có đoạn văn như sau: ‘Những pháp câu hành với những duyên là gì vậy?’ Đó là ngũ uẩn cụ thể là, sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn (Dhs.1083) sự tồn tại nhờ vào các nguyên nhân chỉ thích hợp đối với các uẩn mà thôi, và ý nghĩa đoạn văn này hình như không thích hợp với các chúng sanh.- ta không nên hiểu theo cách này.- Tại sao không? Vì trong trường hợp các chúng sanh , cách thiết lập chỉ được coi như là ẩn dụ [11] đối với các uẩn mà thôi.; vì trong trường hợp các chúng sanh nầy đây [từ chúng sanh] được thiết lập như là ẩn dụ – Tại sao vậy? – vì các chúng sanh này phải được mô tả như là bắt nguồn từ các uẩn. [12]- Bằng cách nào vậy? - Giống hệt như trường hợp ‘ngôi làng’ là ẩn dụ cho những ngôi nhà. Chính vì thế, [13] khi có vài ba ngôi nhà trong làng bị hoả hoạn, người ta nói là ‘ngôi làng đã bị cháy’ vì ‘ngôi làng’ thực sự đã được mô tả như bắt nguồn từ các ngôi nhà vậy, chính vì thế ẩn dụ ‘ngôi làng’ được thiết lập có liên quan đến ngôi nhà vậy, cũng vì thế, ẩn dụ này, cụ thể là ‘các chúng sanh tồn tại nhờ vật thực cũng được thiết lập liên quan đến các uẩn, tồn tại nhờ vào vật thực hiểu theo nghĩa như là các nhân duyên (thiếu nguyên nhân này thì các uẩn đó không thể xuất hiện] [78]. Và hiểu theo nghĩa tuyệt đối cũng vậy. Ta nên hiểu rằng việc sử dụng từ ‘các chúng sanh’ chỉ là phép ẩn dụ đối với các uẩn mà thôi, là điều Đức Phật đã chứng minh được thiết lập khi ngài nói: ‘Đang khi các uẩn khởi sanh và già đi từng sát na một, thì hỡi chư vị tỳ khưu, nhà ngươi cũng được khởi sanh, già theo ngày tháng và cuối cùng là chết.’ . Kết quả là ta có thể hiểu ‘một’ (ekam) ở đây [có nghĩa là] duyên, được gọi là ‘vật thực’ hay ‘chất dinh dưỡng’ nhờ đó toàn thể chúng sanh tồn tại được, hay sự tồn tại của toàn bộ các chúng sanh là nhờ vào vật thực. 8. Đến đây hoặc giả đó là vật thực hay sự tồn tại nhờ vào vật thực. Đây chỉ là một lý do để ta ly tham mà thôi. Vì do khía cạnh vô thường của [vật thực]. Và rồi khi người nào đó ly tham bằng cách thấy vô thường nơi những pháp hành cho rằng ‘toàn bộ các chúng sanh’ sẽ có thể diệt được toàn bộ đau khổ và đạt đến thanh tịnh hiểu theo nghĩa tuyệt đối, như Đức Phật đã nói:
Ôi mọi pháp hành đều chỉ là vô thường 9. Và đến đây ta lại có câu ‘Thế Nào Là Một?’ (ekam māama kim) ta có hai cách hiểu ở đây: tức là kim và ki ha. Ở đây bản dịch Sinhale đọc là ki ha; vì họ nói ‘ki ha’ khi đáng lẽ phải nói là ‘kim’. Một số ngựời lại khẳng định rằng ‘ha’ chỉ là một ‘tiểu từ’ mà thôi và còn nữa đây chỉ là cách dịch theo truyền thống [14] của các Vị Trưởng Lão mà thôi. Tuy nhiên ý nghĩa thì giống nhau trong cả hai trường hợp, và ta có thể đọc tùy theo cách ám chỉ. Và còn nữa [giống như]trong câu ‘Sukkhena phutthā atha vā dukkhena’ (có nghĩa là khi khoái lạc và đau đớn ảnh hưởng đến ai đó’: Dh. 83) và ‘dukkham domassam patisanvedeti’ (hắn cảm nghiệm được đau đớn và buồn khổ’: (M. I. 313), trong một số trường hợp người ta nói đến ‘dukkham’ và một số trường hợp khác lại đề cập đến ‘dukam’, chính vì thế cũng tương tự như vậy, có lúc thì dùng từ ‘eka’, đôi khi lại dùng ‘ekam’; và thực tế ở đây cũng vậy ta thấy có đoạn viết là ekam nāma. II- [Dve nāma kim? Nāmañ ca rūpañ ca.] Thế nào là hai? Danh và Sắc. 10. Vì thế cho nên hài lòng với câu trả lời về vấn đề ngài đưa ra, bậc Đạo Sư (Đức Phật) lại đưa ra một câu hỏi khác đó là Hai pháp là gì vậy? Giống y hệt như cách thức ngài đã hỏi trước đó. 11. Đang khi trả lời về [con số] ‘hai’, vị Trưởng Lão đáp ngay đó là Danh và Sắc, [sử dụng] phương cách thuyết pháp bằng các từ pháp. 12. Ở đây, vì hành vi cúi xuống (namana - Có nghĩa là, suy nghĩ [15]) hướng đến một đối tượng và vì đóng vai trò nguyên nhân cho xu hướng (nati – có nghĩa là, [suy nghĩ] của tâm, toàn thể [79] những gì thuộc dạng phi sắc (arūpa) đều có tên gọi là ‘Danh’ (nāma); nhưng ở đây ta chỉ nhắm tới những gì không thể tách biệt khỏi pháp bị các lậu hoặc ảnh hưởng đến [không phải những gì thuộc siêu thế, có nghĩa là vô lậu] được hiểu ở đây vì đó chính là nhân duyên cho hành động ly tham. 13. Bốn Sắc Đại Hiển và toàn bộ các loại sắc xuất hiện nương vào bốn sắc đại hiển ấy được gọi chung là ‘sắc’ (=rūpa) hiểu theo nghĩa chúng đã trở nên biến dạng đi (ruppana). [16] Và toàn bộ những gì được hiểu ở đây. 14. Và theo như những gì ta hiểu ở đây, khi người ta nói ‘có hai pháp, ý muốn nói đến ‘Danh và Sắc’ đây không phải là thiếu vắng hai điều khác, theo như (Đức Phật) đã nói ‘Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đã hoàn toàn ly tham với hai pháp. Ngài trở thành một người có thể chấm dứt đau khổ [tại nơi đây và lúc này]. Hai pháp đó là gì vậy? Danh và Sắc: khi một vị tỳ khưu đã hoàn toàn ly tham với hai pháp này... ngài có thể chấm dứt đau khổ [tại đây và vào lúc này]. Chính vì thế liên quan đến vấn đề này (Đức Phật) đã nói đến [trước đó:] hai câu hỏi, hai cách biểu thị, và hai câu trả lời’ (A. v. 51). 15. Và ở đây ngài chỉ chứng đắc ly tham thông qua môn [bao gồm có giải thoát môn] việc quán vô Ngã (xin đọc Vis.Ch. xxi §§ 66/ tr. 657), do đoạn trừ được Ngã Kiến thông qua quán chiếu duy chỉ có Danh và Sắc mà thôi. Và chính vì thế cuối cùng ngài đã chấm dứt đau khổ và đạt đến mức thanh tịnh hiểu theo nghĩa tuyệt đối. Như (Đức Phật) đã xuất khẩu thành kệ như sau:
‘[Vả lại,] vô ngã cũng chỉ là các pháp: III- [Tīni nāma kim? Tisso vedanā.] Thế nào là Ba? – Ba loại cảm thọ. 16. Đến đây, sau khi bậc Đạo sư (Đức Phật) đã thấy hài lòng về câu trả lời về câu hỏi ngài vừa nêu lên, liền đưa ra thêm một câu hỏi khác. Ba pháp là gì vậy? Theo cùng một phương thức như đã đưa ra trước đó. 17. Trả lời điều [số] ‘ba’ [được khẳng định dưới dạng từ trung tính ‘tīni’] vị Trưởng Lão đáp lại đó là Ba loại cảm thọ, nhưng lại dùng từ con số [17] (tisso) ở dạng từ giống cái cho thích hợp với ý nghĩa được đưa ra trong câu trả lời. Hay ngược lại, ta có thể hiểu ở đây theo nghĩa ngài nói như sau: để cho thấy rằng ‘ tôi muốn áp dụng [từ ngữ] “số ba” (tīni) ý nghĩa này được chính Đức Phật diễn đạt với các từ sau: “Ba (tisso) loại cảm thọ” (xin đọc S. iv. 204)’ vì cách thức giảng thuyết của ngài bao gồm nhiều khía cạnh áp dụng vào trường hợp những ai đã chứng đắc tình trạng tinh thông trong kinh bằng nhiều loại tuệ nhân tích. [18] Tuy nhiên, có một số người cho là tīni (số ba) lại là một từ vượt quá ý nghĩa thông thường. 18. Và cụm từ “ba loại cảm thọ” được khẳng định ở đây theo cách thức đã được chú giải (§§6, 13), không phải do thiếu vắng ba điều khác, theo như lời Đức Phật đã nói: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đã ly tham hoàn toàn được với ba pháp. Ngài sẽ trở thành người chấm dứt mọi đau khổ [ngay tại đây và vào lúc này] Ba điều đó là gì vậy? Đó là ba loại cảm thọ: khi một vị tỳ khưu ly tham được hoàn toàn với ba pháp này. . .ngài là người sẽ kết thúc được đau khổ [tại nơi đây và vào lúc này] Chính vì liên quan đến điều này mà Đức Phật đã nói [đến trước đó] ba câu hỏi, ba cách biểu lộ, và ba câu trả lời’ (A.v. 51) 19. [80] Và ở đây ngài tiến tới ly dục thông qua môn [giải thoát gồm] quán chiếu khổ đế (đau khổ), đoạn trừ lạc thông qua thấy rõ toàn bộ những loại cảm thọ này chỉ là một trạng thái đau khổ. Và ngài thực hiện điều này bằng cách tuân thủ theo phương cách đã được biểu thị trong đoạn ‘Bất kỳ điều gì cảm nhận tất cả đều xuất phát từ đau khổ mà ra’ (S. ii, 53; iv. 216) hoặc theo [ba cách phân loại: đó là khổ đế, đau khổ do ái dục mà ra, và đau khổ do pháp hành mà ra. (S. iv. 259) như được khẳng định trong đoạn dưới đây:
‘Bất kỳ ai thấy lạc chỉ là đau khổ, Và chính vì thế cuối cùng thì ngài đã chấm dứt mọi đau khổ và chứng đắc thanh tịnh hiểu theo nghĩa tuyệt đối, theo như lời (Đức Phật) đã nói:
‘[và rồi] mọi pháp hành cũng chỉ là đau khổ: IV - [Catāari nāma kim? Cattāri ariyasaccāni] Thế nào là Bốn? – Bốn Thánh Đế. 20. Rất hài lòng với câu trả lời cho câu hỏi ngài đưa ra, chính vì thế bậc Đạo Sư (Đức Phật) lại đưa ra một câu hỏi khác nữa như sau: Bốn pháp là gì vậy? Theo cùng một phương cách như câu hỏi ở trên. 21. Đến đây trong việc trả lời câu hỏi này, nơi một số trường hợp tứ thực được ám chỉ ở đây theo như cách đã được khẳng định trước đó (§§ 6, 13), theo như lời ngài đã nói ‘Hỡi các vị tỳ khưu, khi vị tỳ khưu đã ly tham hoàn toàn bốn pháp... ngài sẽ chấm dứt đau khổ (mọi nơi mọi lúc). Bốn pháp đó là gì? Tứ thực đó là: khi một vị tỳ khưu đã ly tham hoàn toàn bốn pháp.... ngài chấm dứt mọi đau khổ[mọi nơi mọi lúc]. Chính vì thế liên quan đến vấn đề này, như lời (Đức Phật) đã đề cập đến [trước đó]: “Khi vị tỳ khưu ly tham hoàn toàn bốn pháp... ngài sẽ chấm dứt mọi đau khổ [mọi nơi mọi lúc], vì điều liên quan đến vấn đề này nên ngài (Đức Phật) đã nói [trước đó:] Bốn câu hỏi, bốn cách biểu thị, bốn câu trả lời’ (A. v. 52); nhưng nơi những trường hợp khác, bốn niệm xứ [được hiểu] là, một khi đã tu tiến chúng trong tâm, ta có thể chấm dứt đau khổ, theo như Tỳ khưu Ni Kajangalā đã nói: ‘này chư vị , khi một tỳ khưu tu tiến hoàn toàn bốn pháp đó trong tâm của mình.... sau khi đã đạt đến điều chính trực, người đó nhận ra mọi đau khổ kết thúc như thế nào [mọi nơi mọi lúc]. [81] Bốn pháp đó là gì vậy? Đây là bốn niệm xứ: khi một vị tỳ khưu đã hoàn toàn tu tiến được bốn pháp này.. . trong tâm rồi vị tỳ khưu này sẽ chấm dứt được đau khổ [mọi nơi, mọi lúc]. Chính vì thế liên quan đến vấn đề này, chính Đức Phật đã nói: ‘bốn câu hỏi, bốn cách biểu thị, bốn câu trả lời’ (A. v.56) Tuy nhiên, để trả lời cho [số] ‘bốn’ vị Trưởng Lão đã đáp lại đó là Tứ Diệu Đế, ở đây hoặc bởi vì điều đã được hiểu ở đây chính là Tứ Diệu Đế, một khi đã khám phá ra và thông suốt hoàn toàn thì ta chứng đắc đoạn trừ mọi ái hữu, hoặc giả đây là câu trả lời duy nhất [19] khi ta trả lời như vậy. 22. Ở đây, [con số] ‘bốn’ ám chỉ theo cách phân định ranh giới nhờ vào con số. Những Thánh Đế: (ariyasaccāni= ariyāni saccāni(tức là quyết tâm phức tạp); ý nghĩa ở đây là [tứ diệu đế này] hoàn toàn thiết thực, không hão huyền, hoàn toàn không khác biệt như những gì [tứ diệu đế này thể hiện], chính vì thế bốn chân đế này được gọi là ‘Tứ Thánh Đế.’ Như Đức Phật đã thuyết: Nầy các Tỳ khưu, bốn Thánh đế này là như thật, không phải không như thật, hoàn toàn không khác biệt như những gì chúng thể hiện, đó là lý do chúng được gọi là Thánh đế (S. v. 435). Hay nói cách khác, vì chư Phật Toàn giác, các Độc Giác Phật, và các đệ tử của Đức Phật được liệt vào số những vị Thánh nhân (ariyā) và chính những vị này đã thâm nhập được các Chân Đế này, chính vì thế họ phải được toàn thể thế gian kính lễ (aranīya)[20] như là các thiên giới – được đối sử một cách xác thực [21] chính là ý nghĩa ở đây. -, hay vì [các chân đế này] tạo ra được những dáng điệu (tiến hành) như vậy (aye iriyanato) được coi như là nền tảng mọi cố gắng, hoặc giả vì chúng không tạo ra được dáng điệu (không tiến hành) không phải là cách kính lễ như vậy (anaye na iriyanato: xin đọc MA. i. 21), hoặc giả vì chúng tạo ra được việc hiến thân cho ba mươi bảy thánh pháp (ariya) thuộc giác ngộ, được gọi là ‘Thánh Đế” (ariya-saccāni), theo như lời Đức Phật đã nói ‘hỡi các vị tỳ khưu, Tứ Thánh Đế này là điều có thực,: [đó là Khổ Đế, nguồn gốc Khổ Đế, Chân Đế diệt khổ, và Chân Đế dẫn đến Diệt khổ] thực sự có Tứ Thánh Đế này. Các vị Thánh nhân một khi đã thấm nhuần được tứ diệu đế này, chính vì thế các chân lý này được gọi là ‘Tứ Thánh Đế’ (xin đọc S. v. 425; Thanh Tịnh Đạo Ch. xvi §§20/tr. 495). Và hơn thế nữa, chúng cũng được gọi là Chân lý vì cũng chính là chân lý của Đức Phật theo như ngài đã nói: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, trên thế gian này gồm cả thiên giới... Như Lai (Tathāgata) chính là một vị Thánh Nhân. Chính vì thế các chân đế này được gọi là ‘Tứ Diệu Đế’ (S. v. 435). Hay nói cách khác, chúng được gọi là Thánh Đế cũng do bởi việc thiết lập được điều thánh hạnh thông qua việc khám phá ra chúng, theo như lời Đức Phật đã nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, chính do việc khám phá ra được Tứ Thánh Đế một cách thiết thực rõ ràng mà Đấng Như Lai được gọi là ‘Bậc A La Hán, và Đấng Toàn Giác.’ (S. v. 433) đây chính là ý nghĩa của các từ được chú giải ở trên. 23. Đến đây chính do việc khám phá và thâm nhập được các Thánh Đế này [82] mà đoạn trừ được ái hữu. Theo như lời Đức Phật đã nói: Hỡi các vị tỳ khưu, khi ta phát hiện ra khổ thánh đế này và thâm nhập được vào trong đó, khi khổ tập thánh đế.... khi diệt khổ thánh đế....khi phương cách dẫn đến diệt khổ được khám phá ra và thâm nhập vào được, thì ái hữu bị cắt đứt, điều gì dẫn đến sanh hữu sẽ cạn kiệt, và đến đây chẳng còn tái sanh nữa. (S. v. 432) V- [Pañca nāma kim? Pañcūpādānakkhandhā] Thế Nào là Năm? - Năm Thủ Uẩn. 24. Chính vì thế sau khi cảm thấy hài lòng với câu trả lời câu hỏi của mình, bậc Đạo sư (Đức Phật) lại đưa ra thêm một câu hỏi khác nữa, Năm pháp là gì vậy? cũng một cách tức như các câu hỏi trước đó. 25. Trả lời [câu hỏi số] ‘năm’ Vị Trưởng Lão đáp lại “Đó là Ngũ thủ uẩn. 26. Ở đây, con số ‘năm’ (pañca) chính là phân định theo con số. Các thủ uẩn (upādānakkhandā) là ngũ uẩn xuất phát từ chấp thủ mà ra. Hay các uẩn là nhân tố phát sinh ra chấp thủ. [22] Đây là một từ được mô tả như sau: ‘Bất kỳ loại sắc nào... thọ nào... tưởng... hành... thức... chịu ảnh hưởng do các lậu hoặc mà ra là do chấp thủ mà có (S. iii. 47). 27. Và ‘ngũ thủ uẩn’ được khẳng định ở đây theo cách đã đưa ra (§6, 13), không phải vì thiếu vắng năm điều khác, theo như Đức Phật đã nói: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đã hoàn toàn ly dục năm pháp.... ngài sẽ chấm dứt được mọi đau khổ [ở đây và lúc này]. Năm pháp đó là gì vậy? Đó là năm thủ uẩn: Khi một vị tỳ khưu đã hoàn toàn ly tham năm pháp.... Vị tỳ khưu này có thể chấm dứt đau khổ [ở đây và lúc này.] Chính vì thế liên quan đến vấn đề này, Đức Phật đã nói trước đó: năm câu hỏi, năm điều biểu thị và năm câu trả lời. (A. v. 52). 28. Và ở đây một người hiểu rõ [23]ngũ uẩn do chúng sanh và diệt. Cuối cùng người đó thực chứng được bất tử Níp Bàn đạt được pháp bất tử bằng cách thiền quán. Theo như những gì (Đức Phật)đã nói:
‘người nào hiểu rõ ngũ uẩn’ VI - [Cha nāma kim? Cha ajjhattikāani āyatanānāni] Thế nào là Sáu? – Sáu Nội Xứ 29. Chính vì thế sau khi cảm thấy hài lòng với câu trả lời ngài đã đưa ra, bậc Đạo sư (Đức Phật) lại đưa ra một câu hỏi khác như sau: Sáu pháp là gì vậy? Cũng cùng một cách thức như trước đã nói. 30. Trả lời (câu hỏi số) sáu vị Trưởng lão đáp lại: Đó là sáu nội xứ. 31. Ở đây, con số sáu (cha) chính là cách phân định theo con số. Chúng liên quan đến điều được nhắc đến ‘cá nhân mình’ (ajjhatte niyttāni: xin đọc Panani, iv. 69) và xảy ra phụ thuộc vào tự riêng chính mình, như vậy chúng là nội phần (ajjhattika). chúng là nền tảng (āyatanāni) vì do đặc tính kích hoạt của nó (āyatanato). Vì chúng thuộc phạm vi nguồn gốc (āyatanato), và vì đặc tính dẫn đến khởi động (āyatassa.... nayanato) đau khổ thuộc vòng luân hồi (tái sanh) [24] [83] đây chính là định danh của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. 32. Và chính là ‘sáu nội xứ’ được khẳng định ở đây theo cách thức đã nêu ra ở trên (§§6, 13) không phải do thiếu sáu pháp khác, theo như Đức Phật đã nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi vị tỳ khưu nào hoàn toàn ly tham sáu pháp này... thì chính ngài sẽ chấm dứt đau khổ [tại đây và vào lúc này]. Sáu pháp đó là gì vậy? Sáu nội xứ: Khi một vị tỳ khưu đã ly tham hoàn toàn sáu pháp...vị ấy là người chấm dứt đau khổ tại nơi đây và lúc này]. Chính vì thế liên quan đến điều này như Đức Phật đã nói trước đó: sáu câu hỏi, sáu cách biểu thị, và sáu câu trả lời’. (A. v. 52). 33. Và khi một người đã hoàn toàn ly tham bằng cách nhận ra (sáu nội xứ đó) chỉ là rỗng không giống như ‘ngôi làng trống vắng: “hỡi các vị tỳ khưu, đó là định danh sáu nội xứ vậy. (S. iv. 174) [và do nhận ra sáu nội xứ này] là những điều trống rỗng và lừa dối, do tính chất không tồn tại như những bong bóng. ảo ảnh, v.v... cuối cùng đã chấm dứt đau khổ và vượt qua tầm nhắm của Tử Thần. Theo như lời Đức Phật đã nói:
‘Và ai nhìn trần thế này’ VII - [Satta nāma kim? Satta bojhangā] Thế nào là bảy? – Bảy Giác Chi. 34. Chính vì thế sau khi cảm thấy hài lòng với câu trả lời câu hỏi của ngài đặt ra, Đức Phật (bậc Đạo sư) lại đưa ra một câu hỏi khác nữa, Bảy pháp là gì vậy? 35. Đến đây cho dù bảy thức trú [25] đã được khẳng định trong chánh Kinh về những câu hỏi và trả lời (A. V. 53), tuy nhiên ngài Trưởng Lão đã đáp lại là bảy giác chi, cho thấy những pháp này dưới ánh sáng của vị tỳ khưu đã chấm dứt đau khổ bằng tu tiến trong tâm bảy giác chi này. Và điều này cũng đã được chính Đức Phật xác định, theo như lời ngài nói như sau: ‘Hỡi các vị gia chủ, Tỳ khưu Ni Kajangalā là một bậc hiền triết vị tỳ khưu ni Kajangalā là bậc Đại Trí Tuệ. Nếu bạn hỏi tôi ý nghĩa của điều này, tôi sẽ cho bạn biết cùng một câu trả lời như Tỳ khưu Ni Kajangalā đã thực hiện vậy.’ (A. v. 58-9), [84], Tỳ khưu Ni Kajangalā đã trả lời điều đó như sau: ‘Hỡi các bạn, khi vị tỳ khưu đã tu tiến hoàn toàn bảy pháp trong tâm của mình... ngài sẽ chấm dứt đau khổ ngay tại nơi đây và lúc này. Bảy pháp đó là gì vậy? Đó là thất giác chi: khi một vị tỳ khưu tu tiến trong tâm mình bảy pháp đó, ngài sẽ chấm dứt đau khổ ngay tại đây vào lúc này. Chính vì thế liên quan đến điều này Đức Phật đã phán: ‘bảy câu hỏi, bảy cách biểu thị, và bảy câu trả lời.’ (A. v. 57) đó chính là điều chúng ta nên hiểu như những gì Đức Phật đã xác định. 36. Đến đây con số bảy được phân định bằng con số, không chấp nhận ít hơn hay nhiều hơn mỗi một pháp nào. Thất giác chi là định danh trong những pháp bắt đầu với niệm. Đây chính là ý nghĩa của từ. (1) hoặc là ta có thể hiểu: đây là sự hài hoà giữa bảy pháp chúng ta đã được biết như: niệm, trạch pháp, tinh tiến, hỷ, khinh an, định, và hành xả, là những đức tính đối nghịch lại với nhiều cạm bẫy gồm có trong biếng nhác, phóng dật, đình trệ, và chống lại (bỏ bê và nổi loạn) đam mê dục lạc và tự hành khổ hạnh, kiên định chủ trương đoạn kiến và thường kiến. Và nổi lên ngay sát na đạo hiệp thế và siêu thế. (xin đọc Sutta 117) một Thánh đệ tử giác ngộ (bujjhati) như vậy đây chính là giác ngộ (bodhi) - điều đáng nói ở đây là thức giấc lên từ cơn mê ngủ triền miên nơi các Phiền não, hoặc giả ngài thâm nhập Tứ Thánh Đế, hoặc giả ngài chứng đắc tịch diệt – theo như lời Đức Phật đã nói: Vị nào khám phá ra giác ngộ tối thượng hoàn hảo bằng cách tu tiến thất giác chi’ (D. iii. 101) (2) Bằng không ta có thể hiểu như sau: thông qua đặc tính hài hoà các pháp thuộc dạng đã khẳng định ngài đã chứng đắc giác ngộ (bujjhati), như vậy vị thánh đệ tử cũng đạt giác ngộ. Như vậy (1) chúng là những giác chi (bojjh-anga) chính vì chúng được coi như là các thành phần tính cách hài hoà nơi các pháp biết đến như ‘Giác ngo’ (bodhi), theo cách phân tích: tương tự các chi thiền và các chi đạo, hoặc giả chúng là các giác chi vì chúng là các yếu tố thấy nơi vị thánh đệ tử đã được gán cho một từ rất thông dụng được gọi là ‘giác ngộ’ cũng giống vậy, hiểu một cách tương tự ta có thể nói, các yếu tố nghiêm khắc, yếu tố tinh thông, v.v... hơn thế nữa, ý nghĩa của từ giác chi nghĩa là yếu tố giác ngộ cũng còn được hiểu theo cách đã được khẳng định trong tập Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidāmagga) như sau: ‘Các giác chi’ đâu là ý nghĩa của từ ‘giác chi’? tức là chúng dẫn đến giác ngộ, như vậy đây là các giác chi; chúng duy trì tình trạng giác ngộ, chúng được phó mặc cho giác ngộ. Chính vì thế chúng là những giác chi. (Ps. ii. 115) 37. Chính vì thế bằng cách tu tiến thất giác chi phát triển chúng nơi bản thân, vị đệ tử sớm chiếm được phẩm chất đặc biệt ly tham hoàn toàn, nhờ đó ngài được gọi là vị đệ tử đã chấm dứt mọi đau khổ tại đây và lúc này. [85] và đây là điều Đức Phật đã nói: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, bảy giác chi, nếu được tu luyện, và phát triển, sẽ dẫn đến nhàm chán toàn diện. Ly tham dục, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, và giác ngộ toàn diện, và cuối cùng là tịch diệt. VIII - [Aṭṭha nāma kim? Ariyo aṭṭhangiko maggo] Thế nào là Tám? – Thánh đạo tám ngành. 38. Chính vì thế, hài lòng với câu trả lời với câu hỏi ngài đã đặt ra, Bậc Đạo sư (Đức Phật) lại đưa ra một câu hỏi tiếp theo như sau: Tám Pháp là gì vậy? 39. Đến đây cho dù tám pháp thế gian [cụ thể là, lợi lộc, danh vọng, khiển trách, hạnh phúc và đau khổ] được khẳng định trong Chánh kinh về những câu hỏi và câu trả lời (A. v. 53), tuy nhiên Vị Trưởng Lão trả lời đó là Bát Thánh Đạo (hay là Thánh Đạo Tám ngành), cho thấy những pháp tưởng nhờ đó vị tỳ khưu có thể chấm dứt đau khổ bằng cách nhập tâm của mình. Nhưng vì không có bất kỳ con đường nào ngoài tám yếu tố này, chỉ có tám yếu tố thánh đạo đó là đường lối phải thực hiện, mà kết quả là với tính tinh thông giáo lý ngài đã thiết lập được ý nghĩa khi ngài trả lời như ngài đã thực hiện thay vì nói ‘Bát Chi Thánh Đạo’. Và ý nghĩa này và phương pháp này đã được Đức Phật khẳng định, theo như ngài đã nói: ‘Hỡi các vị chủ gia nhân, Tỳ khưu Ni Kajangalā ... là người cực kỳ thông minh, chẳng phải nhà ngươi đã chẳng hỏi ta ý nghĩa điều này hay sao, ta cũng phải đưa ra cùng một câu trả lời về điểm này như Tỳ khưu Ni Kajangalā đã trả lời vậy. (A.v 58-9) Tỳ khưu ni này đã trả lời điều này như sau: ‘Hỡi các bạn, khi một vị tỳ khưu đã tu tiến hoàn toàn tám pháp trong tâm của mình... chính ngài đã chấm dứt đau khổ ngay tại nơi đây và vào lúc này. [Tám pháp đó là gì vậy? Đó là Bát Thánh Đạo: khi một tỳ khưu đã tu tiến hoàn toàn tám pháp nầy trong tâm của mình, ngài cũng chấm dứt đau khổ ngay tại nơi đây và vào lúc này. Chính vì thế liên quan đến điều này Đức Phật đã phán như sau: ‘Tám câu hỏi, tám cách biểu thị và tám câu trả lời.’ (A. v. 57) đây là lý do tại sao ý nghĩa này nên được hiểu như chính Đức Phật đã xác định. 40. Đến đây từ ‘Bậc thánh’ (ariya) có nghĩa là ‘dựa trên [26] những điều đó ta tìm thấy tịch diệt’ tức là Niết-bàn. Hơn thế nữa từ ‘bậc thánh’ (ariya) có thể được hiểu là sự xuất hiện từ xa (āraka) khỏi những Phiền não (xin đọc MA. i. 21) như là ‘lý do chứng đắc bậc thánh’ và ‘chứng đắc Thánh quả’. Con đường này có tám chi, như vậy Thánh đạo này có tám ngành ‘(‘tám yếu tố’); và điều này phải được hiểu đơn giản như là chính các yếu tố vì chúng không hề có bản chất [27] riêng rẽ có thể hiểu được bằng bất kỳ cố gắng nào nhằm phân tích điều đó ngoại trừ các yếu tố đó, cũng giống như trường hợp ‘quân đội gồm bốn thành tố.’ hay ‘âm nhạc có năm thành tố.’ Con đường này cũng tìm ra (maggati) được tịch diệt. Hay chính tự Con đường này đã vạch ra được, hoặc Con đường này, tiến hành diệt (mārento gacchati), như vậy, đây chính là Đạo (phải theo). 41. Một Tỳ khưu tu tiến đạo gồm tám chi này, được sắp xếp thành tám thành tố. [85] Diệt vô minh, tạo ra Minh, và thực chứng được tịch diệt. Và như vậy người này sẽ có khả năng chấm dứt đau khổ tại nơi đây và vào lúc này. Và Đức Phật đã nói về điều này như sau: “Hỡi chư vị Tỳ khưu, giống như thể râu một hạt gạo hay của hạt lúa mì được sắp đặt ngay thẳng, được ép bằng tay hay bằng chân, rất có thể tay hay chân sẽ bị xây sát và chảy máu – Tại sao thế? Vì râu hạt gạo đã được sắp đặt đúng đắn như vậy sẽ gây tổn thương làm rớm máu tay chân người đó. – Tại sao lại như vậy? Vì râu hạt lúa hay hạt lúa mì đã được sắp xếp như vậy. – vì thế cho nên, “Hỡi các vị tỳ khưu, với chánh kiến được sắp xếp theo cách thức như vậy với tu tiến đạo được sắp xếp một cách đúng đắn như vậy, rất có thể một vị tỳ khưu sẽ diệt trừ vô minh, khiến cho minh sanh khởi, và chứng đắc tịch diệt’ (S. v. 10-1= 48-9; xin đọc A. i. 8). IX- [Nava nāma kim? Nava sattāvāsā] Thế nào là chín? – Chín nơi cư ngụ của các loại hữu tình. 42. Vì thế Bậc Đạo Sư (Đức Phật) hài lòng với câu trả lời cho câu hỏi của ngài, liền đưa ra một câu hỏi tiếp như sau: chín pháp là gì vậy? 43. Trả lời (câu hỏi số) chín, Trưởng lão đã đáp lại: Đó là chín hữu tình cư. 44.Ở đây, số chín, chính là phân định bằng con số. Các hữu tình:[điều này có nghĩa là] hoặc là những chúng sanh có hơi kệ được mô tả như phát xuất từ các uẩn được gắn kết với mạng quyền, đại loại là như vậy. [Các loài hữu tình] cư ngụ trong đó, như vậy chúng là những nơi cư ngụ. Nơi cư ngụ của các loài hữu tình (hữu tình cư):sattāvāsā = sattānam āvāsā (quyết định của tổ hợp) đây là đường hướng chung của lời giảng dạy. Nhưng theo nghĩa đây cũng là định danh của chín loại hữu tình, theo như đã nói: ‘Hỡi các người, có nhiều chúng sanh với thân hình khác nhau và với tưởng cũng khác nhau. Cụ thể là, nhân loại, một số chư thiên, và một số chúng sanh nơi khổ cảnh: đây là nơi cư ngụ đầu tiên của các hữu tình. Lại có sự khác nơi thân và thống nhất về tưởng, cụ thể như: các vị chư Thiên của Đại Phạm Thiên. Là người được tái sanh đầu tiên [như vậy] [28] đây là nơi cư ngụ thứ hai của các hữu tình. Còn có các hữu tình hợp nhất với thân, và khác biệt nơi tưởng, cụ thể là các vị Quang âm thiên Ābhassara (tức là luồng ánh sáng): đây là nơi cư ngụ thứ ba của các hữu tình. Lại còn có các hữu tình có giống nhau về thân và giống nhau về tưởng, cụ thể như: các vị Biến tịnh thiên Subhakinna (tức là chói loà ánh vinh quang); đây chính là nơi cư ngụ thứ tư của các chúng sanh; lại còn có các chúng sanh không có tuởng, không thọ, cụ thể như là các vị trời vô tuởng: đây là nơi trú ngụ thứ năm của các hữu tình. Lại có các hữu tình có thể khắc phục hoàn toàn được những sắc tưởng [cả khi những đối ngại tưởng không xuất hiện, vì không tác ý đến tưởng về khác nhau. [nhận thức được] hư không] [87] vô biên’ đã trải qua tái sanh nơi bản chất gồm Hư không vô biên xứ: đây là nơi cư ngụ thứ sáu của các hữu tình. Lại có các hữu tình, [nhờ khắc phục được hoàn toàn Hư không vô biên xứ. [lại nhận thức được] “thức vô biên xứ. Đã vượt qua được tái sanh nơi thức vô biên xứ; đây là nơi cư ngụ thứ bảy của các hữu tình. Lại còn có các hữu tình [khắc phục hoàn toàn được thức vô biên xứ,] lại nhận thức được ‘không có gì cả’ đã vượt qua được tái sanh nơi vô sở hữu xứ; đây là nơi cư ngụ thứ tám của các hữu tình. Lại có các hữu tình đã khắc phục được hoàn toàn vô sở hữu xứ đã vượt qua được tái sanh dựa trên bao gồm phi tuởng và phi phi tưởng xứ. Đây chính là nơi cư ngụ thứ chín của các hữu tình. (D. iii. 263). 45. Và cụm từ: ‘chín nơi cư ngụ của hữu tình’ được khẳng định ở đây theo cách đã được đưa ra (§§6, 14) không phải vì thiếu vắng chính pháp khác, theo như lời Đức Phật: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đã ly tham hoàn toàn với chín pháp đó.... ngài là người sẽ chấm dứt được đau khổ [tại đây và lúc này]. chín pháp là gì vậy? Chín nơi cư ngụ của các hữu tình: khi một vị tỳ khưu ly tham được hoàn toàn chín pháp... thì ngài sẽ là người kết thúc được đau khổ [tại đây và lúc này]. Chính vì thế liên quan đến điều này Đức Phật đã nói đến [trước đó] như sau: chín câu hỏi, chính biểu hiện và chín cách trả lời. (A. v. 53). 46. Giờ đây vì các từ ‘Chín pháp đã được am tường hoàn toàn. Chín pháp nào thế? Chín nơi cư ngụ của các hữu tình’ (D.iii. 288) ngài đã ly dục được với chín nơi ở của các hữu tình đó bằng cách coi đó chỉ là một pháp hành, loại bỏ tri kiến [29] nơi bất kỳ hiện trạng thuờng, lạc, tịnh, và ngã, thông qua trước tiên với biến tri như là điều gì đã được biết đến. [30] Thế rồi ngài sẽ biến tham dục của mình phai tàn đi bằng cách quán đặc tính vô thường [nơi chúng] trở thành giải thoát do quán khổ não [về chúng]và thấy hoàn toàn sự tiêu diệt [của chúng] do quán vô ngã về chúng thứ nhì [thực hiện cả ba điều trên bằng cách thông qua biến tri như là cách phán đoán. Rồi ngài kết thúc đau khổ tại đây và lúc này bằng cách đạt chứng đắc chính trực. [31] Cuối cùng [làm như vậy] thông qua biến tri như là đoạn trừ [tà pháp.] Chính vì thế Đức Phật đã nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu ly tham hoàn toàn chín pháp. . . ngài chính là người chấm dứt được đau khổ ngay tại đây và lúc này. Chín điều gì vậy? là ‘chín nơi cư ngụ của các hữu tình’(A. v. 53) X - [Dasa nāma kim? Dasah’angehi samannnāgato arahā ti pavuccati.] Thế nào là mười? - Người nào có đủ mười đức tánh được gọi là vị A-la-hán. 47. Chính vì thế Bậc Đạo sư (Đức Phật) tỏ ra hài lòng với câu trả lời cho câu hỏi của mình, liền đặt một câu hỏi khác Mười pháp là gì vậy? 48. Trong những câu trả lời trước kia khác với câu hỏi thứ mười này, Mười bất thiện nghiệp đạo (Thân: sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Khẩu: nói dối, nói dâm thọc, chưởi rủa, nói lời độc ác. Ý: tham, sân và tà kiến) được đưa ra. Theo như điều Đức Phật đã nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi vị tỳ khưu ly tham được với mười pháp... thì ngài là người chấm dứt đau khổ ngay tại đây và lúc này. Mười pháp gì vậy? Mười bất thiện nghiệp đạo: khi một vị tỳ khưu ly tham hoàn toàn được với mười pháp này.... [88] thì ngài chấm dứt đau khổ ngay tại đây và lúc này. Chính vì có liên quan đến điều này mà ngài đã nói đến ở trên: mười câu hỏi, mười cách biểu thị, và mười câu trả lời.’ A. v. 54). Nhưng mặc dù có thể là như vậy, tuy nhiên ở nay, ngài khi dùng lời giảng dạy với cá nhân, đã trả lời lại Người nào có đủ mười đức tánh đó, thì được coi như là bậc A La Hán, điều này cho thấy chứng đắc mười chi này, bằng cách có được điều mà vị A La Hán đã chứng đắc [thì được gọi là bậc trọn lành]. Ngài làm được như vậy hoặc là do ngài muốn tuyên bố có được trí chung cuộc mà không phải tự trích dẫn chính mình khi trả lời một cách như vậy nữa [32]. 49. Đến đây mười điều này nên được hiểu dựa theo như cách đã được khẳng định nơi những Kinh như sau: “Thưa Ngài, vô học, vô học’. Làm thế nào để một vị tỳ khưu được gọi là ‘vô học?’ – Ở đây, hỡi chư vị tỳ khưu, một vị tỳ khưu có được vô học chánh kiến, vô học chánh tư duy, vô học chánh ngữ, vô học chánh nghiệp, vô học chánh mệnh, vô học chánh tinh tấn, vô học chánh niệm, vô học chánh định, vô học chánh trí và vô học chánh giải thoát: chính vì lý do này mà vị tỳ khưu được gọi là vô học’ (A. v. 221). Việc giải thích về Nam Tử Hỏi Đạo trong tập chú giải Tiểu tụng đã kết thúc. -ooOoo- Chương V
KINH ĐIỀM LÀNH 1. Giờ đến lượt ta chú giải Kinh Điềm Lành, được sắp xếp kế ngay sau Kinh Nam Tử Hỏi Đạo trong Tiểu Tụng. Sau khi đã khẳng định mục tiêu sắp xếp Kinh Điềm Lành ở vị trí này, chúng ta sẽ đề cập đến phần chú giải ý nghĩa của Kinh. [Mục đích sắp xếp Kinh này trong Tiểu Tụng thực chất được trình bày như sau.] 2. Cho dù thực chất Đức Phật đã không trình bày Kinh này theo thứ tự [như ta thấy trong Tiểu tụng], tuy nhiên Ngài trình bày Kinh Điềm Lành ở đây [thứ nhứt] nhằm chứng tỏ cho thấy việc Quy Y Đức Phật [89] và cách phân loại các giới (sīla), định (concentration) và Tuệ, được minh chứng tiếp ngay sau đó bằng Mười điều học, Ba Mươi Hai thể và Nam Tử Hỏi Đạo, toàn bộ những thiết lập trên tạo thành Kinh Điềm Lành, do đó [thứ đến] chính ngay tại vị trí này Đức Phật nhằm tôn vinh những ai cố gắng muốn tìm kiếm những điềm lành đó, và [thứ ba] ta phải tìm hiểu nội dung những điềm lành đó ra sao và am hiểu theo một trình tự như trình bày trong Kinh Điềm Lành này. Đây chính là mục tiêu Đức Phật sắp xếp Kinh Điềm Lành ngay tại vị trí này. 3. Kinh Điềm Lành được sắp đặt ngay tại vị trí này là như vậy, và sau đây là lộ trình chú giải ý nghĩa Kinh như sau:
1. Do ai công bố, khi nào và ở đâu
2. Rồi bộc lộ tiếp phần chú giải 3. Nguồn gốc xuất xứ Kinh Điềm Lành
4. Và định rõ điềm lành đó là gì [Tại sao Kinh điềm Lành lại được gộp trong Tam Tạng (Tipiṭaka)?] 4. (1) Về điểm này, trước tiên đoạn kệ, ‘Do ai công bố, khi nào và ở đâu, Trước tiên là những gì ta đề cập đến’ nhắc đến đoạn nhập đề: như vầy tôi đã nghe. Một dịp kia, Đức Phật ... ngài đã nói với vị (trưởng lão) bằng tám kệ như sau. Vì đây là điều được diễn tả theo cách có người đã nghe chính Đức Phật diễn tả: Nhưng ngược lại, Đức Thế Tôn là đấng Tự Hữu, không cần đến Đạo sư nào cả; do vậy đó chính là lời của Đức Thế Tôn, bậc A La Hán và Chánh đẳng Chánh giác. Đó chính là lý do tại sao ta nêu lên câu hỏi: Ai đã công bố những lời lẽ trên? Được công bố khi nào và tại đâu? Ta có thể khẳng định được là chính Trưởng Lão Ānanda đã công bố những lời đó và vào thời điểm đại hội kết tập tam tạng lần đầu tiên (First Great Rehearsal). Giờ đây điều ta phải làm rõ đó là đại hội kết tập tam tạng lần đầu tiên, là điểm ta cần hiểu rõ để có được kiến thức rõ ràng nhằm tiếp cận với các nguồn tư liệu trong toàn bộ kinh văn. 5. Vào khoảng khắc đầu tiên trong đêm rằm tháng tư (Visakha) Đức Thế Tôn [33], vị Cứu Thế, đã đạt viên tịch Níp Bàn. [Điều đó diễn ra] ở vị trí giữa hai cây Sālā trong cánh rừng Sālā của vua Malla vào lúc ngài trở lại vùng Kusinārā. Sau khi đã thực hiện hoàn tất công việc của vị Giác Ngộ ngay từ lúc bắt đầu công việc Chuyển Pháp Luân (S. v. 420tt) cho tới thời gian ngài giáo hóa Du sĩ Subhaddha (D. ii 148tt) 6. Hiện giờ Trưởng lão Māha Kassapa là Trưởng Lão đang trụ trì Tăng Già có tới 700.000 vị tỳ khưu đang qui tụ lại nhằm chứng kiến giây phút viên tịch của Đức Phật. Lại có vị Trưởng lão [khác nữa] tên là Shubhaddha, đã xuất gia vào lúc tuổi đã cao, [34] ngài lên tiếng động viên các vị tỳ khưu, ‘Hỡi các chư huynh, đủ rồi đừng quá buồn rầu thê thảm làm gì, vị Đại Sa Môn đã rời bỏ chúng ta, chúng ta đã được người nhắn nhủ bằng những lời ‘hãy thực hiện những điều này, hãy xa tránh những điều nọ.” Tuy nhiên, giờ đây chúng ta có thể làm những gì ta muốn và tránh không thực hiện những gì ta không muốn.” (D. ii 162). Chính vì thế ngài đã suy nghĩ như sau: “Rất có thể các vị tỳ khưu không tốt. Coi điều này như là học thuyết đi kèm với vị Đạo sư quá cố, có thể tạo ra những bè phái và chẳng bao lâu đã làm đức tin chánh pháp biến mất. Nhưng bao lâu Pháp và giới luật còn tồn tại trên đời này, đây không phải là học thuyết của vị Đạo Sư quá cố; vì Đức Phật đã nói, ‘ Hỡi Ananda, Pháp và giới luật ta đã chỉ vẽ và mô tả cho các ngươi, sẽ trở thành Đạo sư của các ngươi sau khi ta từ bỏ cõi đời này.’ (D. ii 154) Giờ đây giả sử ta trùng tụng lại các pháp và Giới luật nhằm làm sống động và khiến cho Giáo Pháp này tồn tại lâu dài vì chính Đức Phật đã trợ giúp cho ta khi ngài cũng chia sẻ tấm y cà sa với ta và yêu cầu ta “ Hỡi Kassapa, liệu nhà ngươi có thể mặc lấy chiếc y bằng sợi gai ta bỏ ra chăng?’ (S. ii 221) và khi Đức Phật đã khôi phục nơi ta địa vị như chính ngài liên quan đến vấn đề pháp nhân cao hơn suy nghĩ loài người gồm có chín nơi cư trú liên tiếp nhau và sáu thắng tri [35] bắt đầu như sau: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, bất luận lúc nào ta mong muốn ly dục. [ly khỏi những pháp bất thiện] ta chứng trú nơi thiền bậc nhất, [kèm với suy tư và khám phá trong đó cộng với hạnh phúc và lợi ích do lánh tục đem lại] và cả Kassapa cũng vậy, bất luận khi nào nhà ngươi ước ao và sa lánh khỏi các ước muốn trần tục... ngài cũng có thể gia nhập và cư trú nơi thiền thứ nhất... [với hỷ và do ly dục đem lại] (S. ii 210; 216). Tuy nhiên bằng cách nào tôi được hưởng phần thưởng đó? Và đã chẳng phải chính Đức Phật cũng giúp ta bằng những trợ giúp mà không người nào khác có thể chia sẻ được bằng cách khuyên cáo ta như sau: ‘con người này sẽ trở nên người thừa kế đích thực Giáo pháp của Như Lai vậy’ Giống hệt như một vị Chuyển Luân Vương (xin đọc D. Sutta 26, M. Sutta 129) thực hiện bằng cách ban tặng chính vương niệm và quyền thống trị của ngài cho ta hay sao? 7. [Chính vì thế] ngài mong muốn các vị tỳ khưu lắng nghe cẩn thận pháp và Giới luật. [91] theo như lời người đã phán ‘Thế rồi Ngài Đại Trưởng lão Māha Kassapa truyền đạt lại cho các vị tỳ khưu như sau: “Chư huynh đệ, một dịp nọ, đang thực hiện cuộc hành trình trên đường từ Pāvā đến Kusinārā cùng với một đoàn tùy tùng đông đảo các vị tỳ khưu, khoảng độ năm trăm vị... (Vin. ii. 284-5) toàn bộ sự kiện này được kể lại trong Chương Subhadda nên được tụng đầy đủ. 8. Sau đó ngài cho biết tiếp ‘Hỡi chư huynh đệ, chúng ta hãy nhắc lại toàn bộ pháp và Giới luật trước những tà thuyết và tà luật tỏ ra vẻ quyến rũ và những chánh pháp và chánh luật lại bị xem thường, trước khi những người ủng hộ tà pháp và tà luật trở nên mạnh mẽ và những người ủng hộ chánh pháp và chánh luật trở nên yếu đuối’ (Vin. ii. 285) Các vị tỳ khưu lên tiếng ‘Được rồi, thưa ngài Đại Trưởng Lão, xin ngài triệu tập một hội nghị các vị Tỳ khưu.’ Trải qua hàng trăm, hàng ngàn các vị tỳ khưu là những vị phàm nhân, có các vị Nhập Lưu, các vị Nhất Lai, các vị Bất Lai và các vị Nhập Thiền Quán Thuần Tuý [36] các vị Tỳ khưu A-la-hán lậu tận. [Tất cả họ đều là những người chứng đắc cho Kinh bao gồm toàn bộ Giáo Pháp chín chi [37] của Đức Phật để lại, vị Trưởng Lão đã triệu tập bốn trăm chín mươi chín vị tỳ khưu đã tận diệt được hết mọi lậu hoặc là người sẵn sàng làm chứng đắc cho toàn bộ các tầng lớp Kinh trong Tam tạng (Tipitaka) là các vị đã đạt đến Biện Tài giáo pháp, họ là những người rất sung mãn, nhiều người trong số họ đã được Đức Phật đề cập đến trong Kinh Tuyệt Hảo này. (A. i. 23 tt) và họ cũng là những người đã chứng đắc Tam Minh v.v... liên quan đến vấn đề này người ta kể lại rằng, ‘Thế rồi, vị Trưởng Lão Māha Kassapa đã triệu tập một Đoàn Thể Tăng Già gồm gần năm trăm các vị A-la-hán’ (Vin. ii. 285). 9. Nhưng tại sao vị Trưởng Lão chỉ triệu tập một Đoàn thể Tăng Già gồm kém năm trăm tỳ khưu? Để tạo điều kiện cho Trưởng Lão Ananda. Giờ đây Đại Hội không thể được tổ chức mà không có sự hiện diện của vị trưởng lão này; vì ngài là người duy nhất còn là bậc hữu học, với nhiệm vụ phải thực hiện, chính vì thế thiếu sự hiện diện của ngài Đại Hội không thể được tổ chức. Nhưng vì không có bất kỳ pháp nào được Đấng thập lực giảng dạy trong số các Khế Kinh, các bản Ứng Tụng. v.v... mà vị Trưởng Lão Ananda đã không được học hỏi dưới sự hiện diện của Đức Phật, chính vì thế Đại Hội không được tổ chức nếu ngài không hiện diện. Thế rồi để tránh sự chỉ trích không cần thiết của hiệu quả ‘Nếu như vậy, ngài nên được vị trưởng lão mời trong khi triệu tập vì ngài sẽ giúp ích rất nhiều trong việc duyệt xét pháp, ngay cả ngài mới chỉ là một bậc hữu học, và vì thế tại sao ngài lại không được triệu tập? Thực chất đây Trưởng Lão là người có ảnh hưởng nhiều đến Ngài Ananda, đã động viên ngài với ‘lời khuyên của Nam tử’ cho dù có những người đầu bạc cho là ‘ nam tử vẫn chưa hiểu hết khả năng của mình!’ (S. ii. 218) Nhưng mặt khác Trưởng lão Ananda là người thuộc thân tộc Thích Ca là con trai người chú Đức Phật, [38] và các vị tỳ khưu lại xem thường và chỉ trích điều đó. Như vậy ‘vị Trưởng Lão đã tham khảo rất nhiều vị tỳ khưu đã chứng đắc Tuệ phân tích vô học và đã chấp nhận việc triệu tập Ananda, chỉ là người đắc vô ngại hữu học’. Chính vì thế có thể đoán trước được việc chỉ trích của những người khác, tự bản thân ngài đã loại Ananda ra khỏi danh sách những người được triệu tập, nghĩ rằng ‘Cho dù Đại Hội không thể được triệu tập mà không có sự hiện diện của ngài Ananda, tôi sẽ chỉ hành sử dựa theo đồng ý của các tỳ khưu.’ Rồi chính các vị tỳ khưu lại yêu cầu nhân danh Ananda. Theo như người ta kể lại ‘Các vị tỳ khưu nói với Đại Trưởng lão Māha Kassapa rằng: “Thưa Đại Trưởng Lão, vẫn còn Trưởng Lão Ananda, cho dù ngài chỉ là bậc hữu học, cho dù ngài không thể đi đến khổ cảnh thông qua tham dục, sân hận, si mê hoặc sợ hãi. Ngài đã cai quản được [với sự hiện diện của Đức Phật] rất nhiều về Pháp và Giới luật thuộc nhiều góc độ đa dạng. Xin các vị Trưởng lão hãy triệu tập ngài Ananda vào trong danh sách các vị tham dự Đại Hội. Chính vì thế Trưởng lão Māha Kassapa đã chính thức triệu tập trưởng lão Ananda vào trong danh sách những người tham dự Đại Hội. 10. Khi theo ý kiến của các vị tỳ khưu ngài đã được liệt kê vào danh sách những người tham dự Đại Hội, lúc đó có năm trăm vị trưởng lão cộng với ngài vào đó nữa. ‘Rồi các vị trưởng lão tỳ khưu nghĩ rằng, ‘Chúng ta sẽ tổ chức duyệt xét Pháp và giới luật ở đâu?” Rồi các vị trưởng lão Tỳ khưu nghĩ là “ Rājagaha là nơi rộng lớn có rất nhiều tiện nghi. Giả như chúng ta an cư mùa mưa tại Rajagaha và duyệt xét Pháp và Giới Luật tại đó, và giả như không có bất kỳ vị tỳ khưu nào khác lại không an cư mùa mưa tại Rājagaha hay sao? (Vin. ī 285). Nhưng tại sao các vị này lại có tư tưởng như vậy? [Họ suy nghĩ] ‘nhiệm vụ của chúng ta là phải củng cố điều đó [93] một số người bất mãn có thể thâm nhập vào Tăng Già và tạo ra xáo trộn chăng.’ 11. Thế là Trưởng lão Māha Kassapa thiết lập những thủ tục liên quan đến việc ban hành đạo luật thứ nhì về quyết định trong chương kết tập được ghi lại trong Tiểu Phẩm (Cullavagga) luật tạng. 12. Thời gian bảy ngày tưởng niệm, Đức Phật tịch diệt đã qua và bảy ngày nữa dùng để tưởng niệm kính lễ xá lợi của ngài. Vị Trưởng Lão Māha Kassapa nhận định “Nửa Tháng đã trôi qua, hiện giờ chỉ còn lại một tháng rưỡi mùa nóng và việc quyết định thiết lập an cư dành cho mùa mưa đã đến gần’ và ngài lên tiếng nói rằng, ‘Hỡi các sư huynh, chúng ta hãy đến Rajagaha’ Ngài liền lên đường với một phần Đoàn thể Tăng Già các vị tỳ khưu, đang khi đó Trưởng lão Anuruddha lại theo một đường khác đến Rajagaha cùng với số các vị tỳ khưu còn lại. 13. Vị trưởng lão Ananda lại muốn đem các dụng cụ: bát khất thực và y cà sa của Đức Phật trở lại Savatthi cùng với một đoàn tuỳ tùng các vị tỳ khưu; và sau đó trở lại Rajagaha sau. Bất kỳ nơi nào Ngài Ananda đặt chân đến dân chúng đều than khóc lớn tiếng: ‘Ngài đã đến đây, hỡi Ngài Ananda, nhưng ngài đã để lại bậc Đạo sư của chúng ta ở đâu?” cuối cùng khi vị trưởng lão đã đặt chân tới Savatthi lại diễn ra cảnh tượng dân chúng than khóc thảm thiết giống như lúc Đức Phật tịch diệt. Chính vì thế Trưởng Lão Ananda đã thuyết pháp cho đám đông một bài pháp liên quan đến vô thường, sau khi ngài đặt chân đến khu rừng Jeta. 14. Ngài đã mở cửa hương phòng là nơi Đức Phật (đấng thập lực) đã cư ngụ. Rồi ngài lấy ra chiếc giường và chiếc ghế, phủi bụi bám trên đó, quét dọn phòng. Ném ra ngoài bình hoa cũ và rồi kê lại giường chiếu và ghế vào chỗ cũ: thực chất, ngài đã thực hiện tất cả những công việc ngài thường làm lúc Đức Phật vẫn còn sống. 15. Giờ đây vì ngài đã đứng và ngồi quá mức kể từ khi Đức Phật nhập tịch diệt, thế nên thân xác trưởng lão đau nhức khác thường, và để có thể chữa trị chứng đau nhức đó, ngài đã phải dùng một cốc sữa tinh khiết vào ngày hôm sau và ngồi thiền riết trong Chùa. Chính trong dịp này Trưởng Lão đã nói với một đệ tử do Subha sai tới ‘Chưa đến giờ, đệ tử ơi. [94] hôm nay ta đang phải dùng thuốc. Có lẽ chúng ta sẽ đến đó vào ngày mai.’ (D.i. 205) Ngày hôm sau trưởng lão đã lên đường với Cetaka đóng vai nhà sư phụ tá của ngài. Và Subbha đã đặt câu hỏi, trưởng lão đã thuyết pháp kinh thứ mười trong Trường Bộ Kinh được gọi là kinh Subha. 16. Rồi vị Trưởng Lão cho sửa chữa lại những gì đã hư hỏng và đổ nát trong khu rừng Jeta, sau đó ngài đến Rājagaha vì thời gian an cư mùa mưa đã lại gần. Và rồi Trưởng Lão Māha Kassapa và trưởng lão Anuruddha cũng đến nơi đó, với toàn bộ Đoàn thể Tăng Già các vị tỳ khưu đến thành Rājagaha 17. Vào thời đó có mười tám ngôi chùa chính trong thành Rājagaha, và toàn bộ đã bị bỏ hoang và hư hỏng bẩn thỉu; vì kể từ ngày Đức Phật nhập tịch diệt thì toàn bộ các vị tỳ khưu đã thu dọn bát khất thực, y ngoài và bỏ hoang các ngôi chùa và phòng ở của họ đến Kusinara. Khi các vị Trưởng Lão đặt chân đến đó, họ có suy nghĩ. ‘Chúng ta hãy sửa sang những gì đã hoang tàn và hư hỏng trong tháng đầu của mùa mưa để kính lễ lời của Đức Phật và cũng để tránh những lời bình phẩm của các đạo hữu thuộc các tôn giáo khác’; vì điều mang ý nghĩa do lời họ nói ra ‘họ suy nghĩ ... để tránh khỏi những lời bình phẩm’ của những người đó. Có một sự thật là các giáo phái khác có thể nói ‘các nhà sư đệ tử của Đức Phật Cồ Đàm chỉ chăm sóc các ngôi chùa của họ vào thời điểm bậc Đạo sư của họ còn hiện diện với họ mà thôi; nhưng sau khi ngài đã nhập tịch diệt thì họ đã bỏ hoang phế các ngôi chùa đó.’ và người ta đã nói như vậy. Rồi vị Trưởng Lão các vị tỳ khưu đã suy nghĩ đến việc ‘tu sửa lại những gì đã hư nát và hoang tàn là điều chính Đức Phật đã dạy cho họ, “Chính vì thế, hỡi chư huynh suốt trong tháng thứ nhất, chúng ta hãy nghiên cứu và sửa chữa lại những gì đã hư hỏng hoang tàn, vào ngày rằm chúng ta hãy qui tụ lại với nhau để kết tập Pháp và giới luật.”. (Vin. ii 286). 18. Ngày hôm sau họ đến chờ đợi tại cổng thành nhà vua. Vua Ajatasattu xuất hiện và đến kính lễ các vị tỳ khưu, và nhà vua đã yêu cầu các vị cho mình biết nhu cầu của họ]: ‘Tôi phải làm gì cho các vị, thưa chư vị tỳ khưu! Có điều gì cần thiết phải thực hiện chăng?’ Các vị trưởng lão cho nhà vua biết họ cần một số lao động để tu sửa lại mười tám ngôi chùa chính trong vùng này. “Tốt lắm, thưa các vị’, nhà vua đáp lại và ngài đã truyền xung công cho các ngài nhân công và lao động thực hiện việc tu sửa lại các ngôi chùa đó. Trong suốt một tháng đầu các vị Trưởng Lão đã cho sửa chữa lại toàn bộ các ngôi chùa trong vùng. Rồi các ngài đến trình lên đức vua [95] ‘Kính hoàng thượng vĩ đại, công việc tu sửa lại các ngôi chùa đã hoàn tất’ – Giờ đây chúng tôi sẽ thực hiện kiểm tra đối chiếu Pháp và Giới luật” . “Tuyệt vời, thưa các ngài đáng kính, các vị đã làm tốt mọi việc. Xin cứ coi tôi như là Chuyển Luân các mệnh lệnh, còn các vị là chuyển pháp luân. Hãy ra lệnh xem trẫm phải làm gì nữa? – ‘Thưa hoàng thượng vĩ đại, chúng tôi cần một nơi qui tụ các vị tỳ khưu lại để đối chiếu và Giới luật . – Tôi phải sửa soạn nơi đó ở đâu được, thưa các vị tỳ khưu kính mến? – Thưa Hoàng Thượng vĩ đại, thật thuận tiện biết mấy nếu hoàng thượng cho thiết lập phòng họp hội đó ngay cổng vào hang động Sattapanni trên triền dốc đá Vebhara’ – Tuyệt vời, thưa các ngài, nhà vua Ajatasattu đáp lại, và ngài cho xây dựng một sảnh đường rất lớn như thể do chính Vissakamma [39] có tường đá bao quanh và các cây cột đá cao và các cầu thang lên xuống. Với rất nhiều các công trình nghệ thuật trang trí bằng các vòng hoa và các trang hoàng bằng các cây dây leo đủ loại và có một mái vòm được trang hoàng với một số lượng lớn các tràng hoa các loại, giống như một miếng vải thêu kim tuyến đủ các loại đá quí. Ngài còn cho trang hoàng một lối đi lát đá rất tuyệt vời tô điểm với đủ loại hoa được dâng cúng giống như một Thiên cung của Đại Phạm Thiên ngự trị. Và nơi chính diện của sảnh đường cho trải tới năm trăm tấm thảm quí vô giá để sửa soạn chỗ cho mỗi vị tỳ khưu hành thiền. Chỗ ngự của vị trưởng lão cho sửa soạn về hướng nam về hướng bắc và chỗ dành để công bố Pháp là một nơi ngự trị xứng với Đức Phật được sửa soạn ngay chính giữa sảnh đường. Hướng về phía đông và tại đó ngài cho sửa soạn một chiếc quạt bằng ngà voi. Rồi hoàng thượng cho công bố với các vị tỳ khưu như sau: “Thưa các ngài, công việc của trẫm đã hoàn tất”. 19. Các vị tỳ khưu đến trình với Trưởng Lão Ananda, ‘Hỡi chư huynh, Đại Hội sẽ diễn ra vào ngày mai. Nhưng bởi ngài mới chỉ là bậc hữu học còn một nhiệm vụ nữa cần phải thực hiện. Thật không tốt nếu như ngài được chấp nhận đến phòng họp. Hãy kiên trì.’ Thế rồi Trưởng lão Ananda suy nghĩ ‘ Đại Hội sẽ diễn ra vào ngày mai, hình như tôi không được phép đến tham dự với tư cách là người mới khai tâm bậc hữu học thì phải. Ngài đã thức suốt đêm quán về thân. Khi trời sắp sáng, ngài đã ra ngoài đi kinh hành và trở lại nơi cư trú của ngài, [nghĩ rằng] tôi sẽ nằm xuống.’ Ngài đã hướng tâm tới thân. [đang khi ngài thực hiện như vậy thì hai chân ngài nhấc bổng lên khỏi mặt đất và đầu của ngài không đụng tới chiếc gối. Trong khoảng khắc đó [96], tâm của ngài được giải thoát khỏi mọi lậu hoặc, không còn vương vấn chấp thủ nữa. Thực chất, khi vị trưởng lão cảm thấy ngài không thể tạo ra được bất kỳ phân biệt nào đang khi đi kinh hành đó. Ngài nghĩ: chẳng phải chính Đức Phật đã nói ‘Nhà ngươi đã thực hiện được nhiều việc công đức, hỡi Ananda, hãy cứ tiếp tục theo đuổi những nỗ lực của nhà ngươi, và chẳng bao lâu nhà ngươi sẽ được thoát khỏi mọi lậu hoặc.’ (D. ii. 144)? Và những lời của Đức Phật quả không sai chút nào. Giờ đây tinh tấn của tôi đã tràn trề và cũng vậy tâm của tôi xem ra náo động hẳn lên. Chính vì thế tôi sẽ tìm cách để cân bằng tinh tấn của tôi. [40] Chính vì thế ngài đã ra ngoài đi kinh hành và đứng ngay tại chỗ rửa chân. Ngài đã rửa chân. Rồi ngài vào lại nơi cư trú của mình. [lŠại suy nghĩ] tôi sẽ ngồi thiền trên giường ngủ và nghỉ ngơi đôi chút, ngài đã duỗi dài cơ thể trên giường. [làm như vậy] thì hai chân của ngài lại dở lên khỏi sàn nhà cho dù đầu của ngài không chạm đến chiếc gối. Trong khoảng khắc đó tâm của ngài đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ .Trưởng lão đã đạt đến bậc A-la-hán, không thuộc bất kỳ một oai nghi nào trong bốn oai nghi. Từ đây nếu có thể được nói rằng: Trong giáo pháp nầy một vị tỳ khưu chứng đắc A La Hán đang khi không nằm dài, không ngồi, không đứng và không đi lại.’ đây là điều thực sự đã xẩy đến với Ngài Ananda. 20. Ngày hôm sau, khi các vị tỳ khưu trưởng lão đã kết thúc bữa ăn, họ dẹp bát khất thực sang một bên. Và cởi bỏ y ngoài và họ đến gặp nhau tại sảnh đường. Để duyệt xét Giáo pháp. Nhưng trưởng lão Ananda không cùng đến với các vị tỳ khưu, vì ngài muốn làm rõ chứng đắc A-la-hán của ngài trước mặt các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu ngồi vào chỗ dành cho họ theo thứ tự hạ hạp. Chỉ trừ chỗ ngồi được dành riêng cho trưởng Lão Ananda không có người nào ngồi cả; khi được hỏi. ‘Chỗ đó dành cho ai vậy? câu trả lời là ‘đó là chỗ dành cho Trưởng Lão Ananda. ‘ – ngài Ananda đi đâu rồi?’ – và đó chính là cơ hội, trưởng lão suy nghĩ ‘ Giờ đây là lúc tôi phải xuất hiện’ và ngài đã cho thấy sức mạnh của mình. Ngài đã độn thổ xuống đất và rồi lại xuất hiện ngồi tại nơi dành riêng cho mình. 21. Khi ngài đã an vị như vậy, vị trưởng lão Māha Kassapa đã nói với các vị tỳ khưu như sau: ‘Hỡi chư huynh đệ, chúng ta sẽ duyệt xét điều gì trước đây: pháp hay Giới luật.?’ Các vị tỳ khưu trả lời: thưa ngài Trưởng lão Māha Kassapa, Giới luật được gọi là sinh mệnh Giáo Pháp Đức Phật, bao lâu giới luật còn tồn tại thì Giáo Pháp sẽ tồn tại. Chính vì thế chúng ta hãy duyệt xét giới luật trước.’ (Vin. ii. 287) - Công việc này thuộc vị nào thực hiện đây? – Sẽ do Trưởng lão Upāli [97] thực hiện trước tiên’ rồi trưởng lão Māha Kassapa đã tự trao quyền cho mình đặt câu hỏi về giới luật và Trưởng Lão Upali nhận trọng trách trả lời. Sau khi đã thực hiện điều này, họ ngồi vào chỗ dành riêng cho hai vị theo thứ tự hạ lạp để công bố Giáo pháp và toàn bộ vấn đề như đã được cứu xét theo điều đã được ghi trong chú giải về Luật. Trưởng Lão Māha Kassapa thẩm vấn Trưởng Lão Upali về toàn bộ Giới luật, thực hiện điều Triệt Hạ (Bất Cộng Trụ) đầu tiên (loại vi phạm chính có liên quan đến việc trục xuất) là điểm khởi xuất. Trưởng Lão Upali đã trả lời. Toàn bộ năm trăm tỳ khưu đã họp thành một nhóm tụng với nhau, lấy điều triệt hạ đầu tiên theo đúng nguồn gốc Giới luật. Họ cũng làm như vậy đối với những điều còn lại. Tất cả những điều cũng được cứu xét như đã được ghi trong chú giải về Tạng Luật. Khi họ đã tụng theo cách thức nêu trên thì toàn bộ Tạng Luật gồm cả hai Phân tích giới bổn Suttavibhangas, Hợp phần Khandhakas (Mahavagga Bộ Đại Phẩm và Cullavagga Bộ Tiểu Phẩm) và Bộ Phụ Tùy Parivara [41] Vị trưởng lão Upali đặt chiếc quạt ngà voi xuống, và rời khỏi chỗ ngồi để công bố Giáo pháp, ngài kính lễ các vị tỳ khưu cao hạ hơn và ngồi vào chỗ dành riêng cho ngài. 22. Sau công việc duyệt xét lại Giới luật, vị trưởng lão Māha Kassapa mong muốn duyệt lại cả Pháp nữa, và vì thế ngài đã lên tiếng hỏi các vị tỳ khưu. “Người nào sẽ được giao trọng trách duyệt xét Pháp. Những ai được phép xét duyệt Pháp đây?’ các vị tỳ khưu trả lời là ‘xin chọn trưởng Lão Ananda để được giao cho ngài trọng trách đó.’ Thế rồi trưởng lão Māha Kassapa đưa quyết định ra trước đoàn thể như sau. “Thưa các vị trưởng lão, xin đoàn thể Tăng Già lắng tai nghe tôi nói, nếu điều này thích hợp với tăng già, tôi sẽ thẩm vấn ngài trưởng lão Ananda về Pháp” sau đó trưởng lão Ananda đã đặt quyết định trước đoàn thể tăng già như sau: “kính thưa các vị trưởng lão, xin cả đoàn đoàn Tăng già lắng tai nghe tôi nói, nếu điều này đoàn thể Tăng Gìa cảm thấy thích hợp, nếu được trưởng lão Māha Kassapa chất vấn về Pháp, tôi sẽ đưa ra những câu trả lời. (Vin. ii. 287) Thế rồi trưởng lão Ananda đứng lên, rời khỏi chỗ ngồi của mình sau khi đã sửa sang lại y cà sa trên vai và tỏ lòng kính lễ các vị tỳ khưu cao hạ. Ngài ngồi vào Pháp tọa và cầm lấy chiếc quạt bằng ngà quí. Trường Lão Māha Kassapa chất vấn trưởng lão Ananda về Pháp, cách thức chất vấn cũng đã được ghi lại trong bản kinh. Theo như lời người ta kể lại: trưởng lão Māha Kassapa đã chất vấn trưởng lão Ananda như sau: ‘này Ananda, Kinh Phạm võng Brahmajala được công bố tại đâu?’ – ‘Kinh được công bố ở vị trí giữa Rajagaha và Nalanda, thưa ngài Trưởng Lão ngay trong nhà nghỉ của nhà vua tại Ambalatthika” – “ về vấn đề gì vậy?’ – [98] vì lợi ích của vị du sĩ Suppiya và đệ tử là Brahmadatta” ‘(Vin. ii. 287) Và khi trưởng lão Māha Kassapa chất vấn trưởng lão Ananda về nguồn gốc Kinh Phạm Võng (Brahmajala) và về người nào kinh được công bố. Ngài hỏi], này Ananda, Kinh Sa môn quả Samannaphala được công bố ở đâu?’ Tại Rajagaha, thưa ngài trưởng lão, trong Rừng Xoài Jivaka – có ai chứng kiến?’ có nhà vua Ajatasattu Vedehiputta, thưa ngài trưởng lão”. Rồi khi ngài trưởng lão Māha Kassapa chất vấn ngài trưởng lão Ananda về nguồn gốc kinh Sa môn quả Samannaphala. Và về người, kinh được công bố. Ngài tiến hành theo cách này. Để chất vấn trưởng lão về nội dung Ngũ Kinh Bộ (nikaya) và vị trưởnglão Ananda đã trả lời về nội dung của ngũ bộ kinh đó cứ mỗi lần ngài chất vấn. 23. Đại hội đầu tiên kết tập lần này được tổ chức như ta đã thấy do năm trăm vị A-la-hán là một biến cố độc nhất trên trần gian này.
Đại hội có tên gọi năm trăm vị. 24. Trong khi tiến hành Đại Hội đầu tiên này trưởng lão Māha Kassapa đã chất vấn trưởng lão Ananda về toàn bộ Trường Bộ Kinh (Dīgha nikaya) , Trung Bộ Kinh (Majjhima-Nikaya) và những kinh còn lại [42] kết quả là, trong cuộc chất vấn về Tiểu Bộ Kinh (khuddaka-nikaya) vào cuối cuộc chất vấn ngài đề cập đến câu hỏi bắt đầu như sau: Này Ananda, Kinh Điềm Lành được công bố tại đâu?’ Để chất vấn ngài về nguồn gốc và về con người theo đó kinh được công bố. Chính vì thế sau khi đã đưa ra chi tiết về nguồn gốc, khi được chất vấn về Kinh Điềm Lành, Trưởng Lão Ananda muốn công bố tiếp toàn bộ kinh được công bố ra sao, ai đã nghe Đức Phật công bố kinh này, khi nào ngài đã được nghe, do ai công bố. Công bố ở đâu và công bố cho ai. Và để chứng minh những điều trên ngài nói. ‘ Kinh được công bố như thế này, tôi đã nghe Đức Phật công bố, tôi nghe trong dịp Đức Phật công bố tại Savatthi và công bố cho một vị trời. [Ngài nói]: Evam me sutam. Ekam samayam bhagavā Sāvatthiyam viharati Jatevane Anāthapinḍikassa ārāme. Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkatavannā kevalakappam. Jetavanam obhāsetvā yena bhagavā ten upasankami, upasankamitva bhagavantam abhivādetvā ekam antam aṭṭhāsi, ekam antam ṭhiā kho sāa devatābhagantam. Gāthāya ajhabhāsi. Tôi đã nghe như vậy, vào một dịp kia, Đức Phật đang cư trú tại Savatthi trong rừng Jeta, tại công viên Anathapindika. Có một vị trời nọ vào đêm đã khuya có một ánh sáng cực sáng của ngài toả ra sáng rực cả vùng trời trong cánh rừng Jeta. Đang tiến lại gần Đức Phật và sau khi kính lễ Đức Phật, ánh sáng đó dừng lại ở một bên và sau khi đã làm như vậy vị trời liền nói với Đức Phật trong những lời kệ như sau. Đó là điều ta nên hiểu rằng [99] đây là điều đã được Ngài Ananda nói ra; và điều đó diễn ra trong Đại Hội kết tập lần thứ nhất.’ (§ 4) 25. Giờ đây đề cập đến vấn đề ‘Kinh được công bố ở đâu?” (§ 3). Ta có thể nói rằng: điều này được nói ra là vì trưởng lão Māha Kassapa đã chất vấn Trưởng Lão Ananda về nguồn gốc Kinh Điềm Lành. Hay hơn thế nữa chính do một số Chư thiên nào đó nhìn thấy Trưởng Lão Ananda đang ngồi thiền trên Pháp tọa, bao quanh là một nhóm những người đã am hiểu pháp đó. Có suy nghĩ nổi lên trong họ là: Vị trưởng lão này, là tiên tri Videhan, chính là người thừa kế tự nhiên của Đức Phật được coi như là hậu duệ của dòng họ Thích Ca và ngài đã năm lần được đề cập đến trong Kinh tối thượng này. (A.i 23 tt) và là người đắc thủ được bốn pháp tuyệt vời kỳ diệu có thể khiến cho ngài được yêu mến và quý trọng trong bốn hội chứng. (D. ii. 145; chính vì thế chắc chắn sau khi đã thừa kế được vương quốc Giáo pháp của Đức Phật, ngài cũng |