|
CHÚ GIẢI TIỂU
TỤNG Bản Pāli ngữ: Bhadantācariya
Buddhaghosa
[03] Chương VI
KINH CHÂU BÁU 1. Giờ đây đến phần Chú Giải Kinh Châu Báu, được bắt đầu với các từ “Bất Kỳ sanh linh nào” và Kinh được sắp xếp trong Tiểu tụng ngay sau Kinh Điềm Lành. Chính vì thế sau khi đã khẳng định mục tiêu Kinh Châu Báu được gộp lại trong [Tiểu tụng] thế rồi:
Do ai công bố, khi nào, ở đâu và tại sao? Chúng ta thực hiện điều này để chứng tỏ – bằng cách nào ta có thể nhập vào dòng nước sông, ao hồ [1] v.v... bằng cách đi qua một bến đáp hoàn toàn tinh tuyền – bằng cách nào hiểu được ý nghĩa của bài kinh này thông qua Nguồn Suối thanh tịnh. 2. Về điểm này [liên quan đến đoạn kệ đã đề cập đến ở trên], kinh Điềm Lành đã cho thấy điều này: đó chính là tự bảo vệ mình và chống lại những lậu hoặc. Như vậy coi như là điều kiện để tránh không thực hiện điều bất thiện cũng như chú tâm vào việc thực hiện điều thiện. Tuy nhiên Kinh Châu Báu này hoàn thành được việc bảo vệ cho người khác [2] và chống lại những lậu hoặc được coi là điều kiện để những chúng sanh phi nhân (non-human beings) v.v... [không thể hiện diện được nữa] và đây là mục tiêu để xếp Kinh Châu Báu ở vị trí này. Chính vì vậy để bắt đầu triển khai, là mục tiêu ta sắp xếp kinh này tại đây. 3. Giờ đây, liên quan đến [câu hỏi] Do ai công bố, khi nào ở đâu và vì lý do gì? (§1), ta có thể đặt câu hỏi này theo cách sau đây: Ai đã công bố Kinh này? Khi nào, ở đâu và lý do tại sao người đó lại công bố? - Kinh được chính Đức Thế Tôn công bố. Chẳng phải một đệ tử nào của ngài, v.v... và vào thời điểm đó [158] tại Thành phố Vesālī đang bị bệnh dịch hoành hành v.v... và chính những người Licchavi đã yêu cầu Đức Thế Tôn, cũng như họ đã thỉnh Ngài từ thành Rājagaha tới thành Vesālī; và chính Ngài đã công bố Kinh Châu Báu tại Vesālī nhằm mục đích chống lại đại dịch đó. Đây là câu trả lời tóm tắt cho những câu hỏi nêu trên. Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết các Vị Trưởng lão đã chú giải đoạn kệ đầu tiên bằng cách kể về [nguồn gốc] thành Vesālī như sau: 4. Giờ đây tập chú giải được triển khai như sau: Hình như vị hoàng hậu nhiếp chính của nhà vua thành Ba La Nại (Bārāṇasī) đã có mang hài nhi trong lòng bà. Khi Hoàng Hậu biết được điều này, nàng liền thông báo cho nhà vua, và Hoàng Thượng đã cho tổ chức Nghi Thức “Bảo Toàn Hoàng Tử” cho Hoàng Hậu. Để bảo bệ Hoàng tử cho tốt nhờ nghi thức này, nàng đã dọn vào cư trú tại cung điện dành riêng cho những cung phi sắp sửa làm mẹ. Khi đến ngày khai hoa nở nhụy, Hoàng tử đã được sanh ra. Giờ đây việc khởi sanh của đứa trẻ diễn ra vào buổi sáng là điềm may công đức, và nàng là một trong số những người đó. Chính vì thế vào buổi sáng nàng đã hạ sanh đứa con của mình, [nhưng điều nàng sanh ra] lại chỉ là một cục thịt giống như một cục sữa đặc hay giống như những loài hoa bybiscus. Vì lẽ đó nàng suy nghĩ “Họ có thể chỉ trích ta trước nhà vua, nói rằng các hoàng hậu khác đã sanh cho nhà vua những đứa bé giống như những tượng vàng, nhưng ta đường đường chính chính là hoàng hậu nhiếp chính lại chỉ hạ sanh cho nhà vua một cục thịt”. Suy tính cách thoát khỏi điều công kích này, nàng liền đặt cục thịt vào một chiếc bình, và cho đậy lại rồi gắn lại với dấu triện hoàng gia và nàng cho thả trôi trên sông Hằng. Các vị Chư thiên đã thu xếp bảo vệ “Điều con người ta đã vứt bỏ ”. Và sau khi đã viết bằng thần sa trên chiếc nhãn bằng vàng dòng chữ “Hậu Duệ của hoàng hậu nhiếp chính nhà vua thành Benares” Ba la nại, các Chư thiên này đã cột vào [chiếc bình]. Sau đó chiếc bình đã trôi trên dòng sông Hằng mà không gặp bất kỳ hiểm nguy sóng gió nào. 5. Vào lúc đó có một vị ẩn sĩ kia đang tá túc trong một gia đình chủ trang trại chăn nuôi bò ngay bên bờ sông Hằng, vào buổi sáng sớm, Ngài đi xuống sông Hằng sau khi nhìn thấy chiếc bình đang trôi lại về phía mình, ngài đã vớt lên, ngắm nhìn vật nổi lềnh bềnh. Rồi ngài nhìn thấy nhãn hiệu có ghi dòng chữ và có dấu triện hoàng gia. Ngài mở bình ra và nhìn thấy trong đó có một cục thịt.[159] Khi ngài nhìn thấy như vậy, [ngài nghĩ] “Rất có thể đây là một phôi bào còn sống, chính vì thế đã không có mùi hôi thối của cục thịt thối rữa bốc lên”. Và chính vì thế ngài liền đem chiếc bình đó vào trong chiếc chòi khổ hạnh của ngài và cất vào một nơi sạch sẽ. Sau nửa tháng liền xuất hiện hai cục thịt. Khi vị Ẩn Sĩ nhìn thấy như vậy ngài liền cất chiếc bình vào một chỗ tốt hơn và sau hai tuần lễ có năm chỗ xưng lên biến thành cánh tay, chân và đầu xuất hiện trên mỗi cục thịt. Thế rồi sau mười lăm ngày nữa trôi qua một miếng thịt trở thành một bé trai trông giống như một bức tượng vàng và cục thịt thứ hai lại biến thành một bé gái. Tình yêu phụ tử nổi lên trong lòng vị ẩn sĩ thế rồi, sữa chảy ra từ ngón tay cái của ngài. Sau đó, khi ngài đã có được bữa ăn cơm sữa gạo ngọt, ngài ăn cơm và rải sữa đó vào miệng hai đứa nhỏ. Bất kỳ điều gì vào bụng hai đứa nhỏ đều nhìn thấy rõ như đựng trong một chiếc bình pha lê, chính vì chúng chẳng có da (licchavi) – Tuy nhiên, một số người khác lại nói da của hai đứa nhỏ bám chặt (līnā chavi) vào nhau như thể được khâu dính lại – Dù sao đi nữa hai đứa nhỏ được biết đến với tên là Licchavi hoặc do bởi chúng không có làn da hay do bởi làn da chúng bám chặt vào nhau (līnacchavitā). 6. Với công việc nuôi nấng hai đứa trẻ con, công việc vị ẩn sĩ đi vào làng khất thực trở nên chậm trễ và khi ngài quay trở về nhà trở lại thì trời đã tối. Khi những người chăn bò nghe biết chuyện nhà ẩn sĩ quan tâm [đến trẻ con] họ kháo nhau: “Thưa ngài ẩn sĩ đáng kính, công việc nuôi nấng con nít là một trở ngại cho những ai đã xuất gia [khỏi cuộc sống gia đình.] Hãy trao cho chúng tôi hai đứa nhỏ đó đi, chúng tôi sẽ nuôi dạy chúng tốt. Xin ngài hãy thực hiện công việc tu trì của ngài mà thôi.” Vị ẩn sĩ đồng ý, chính vì thế ngày hôm sau những người chăn bò sửa sang lại đường xá. Và sau khi đã rải hoa khắp trên con đường vừa được sửa sang đó họ còn giăng cờ xí và biểu ngữ, họ kéo đến nơi ở khổ hạnh của vị ẩn sĩ chơi các nhạc cụ hết sức vui nhộn. Vị Ẩn sĩ nói với họ. “ Hai đứa nhỏ có phước rất lớn hãy giáo dục chúng cho cẩn thận. Và khi chúng đã được giáo dục tử tế hãy để cho hai đứa kết hôn với nhau theo hai nghi thức. [3] Rồi hãy dâng một lễ vật với năm sản phẩm làm từ bò cho nhà vua để [nhà vua] ban cho hai đứa một vùng đất rộng. Hãy cho xây một thành phố trên vùng đất đó và xức dầu cho đứa bé trai tại đó. Nói xong ngài ẩn sĩ giao hai đứa nhỏ cho họ. 7. Họ [160] đồng ý, và chính vì thế họ đã mang hai đứa bé đi và chăm sóc cho chúng rất cẩn thận. Khi hai đứa nhỏ đã lớn lên, chúng chơi với những đứa trẻ con những người chăn bò và trong quá trình chúng cãi cọ lẫn nhau chúng đã tát và đá bọn trẻ con những người chăn bò. Những đứa trẻ con những người chăn bò òa lên khóc và khi được cha mẹ chúng hỏi “tại sao các con lại khóc vậy?” chúng nói “Hai đứa trẻ mồ côi ngài ẩn sĩ đã nuôi đánh chúng con nhiều lắm.” Thế rồi cha mẹ chúng nói. “Hai đứa trẻ này hay bắt nạt và đánh những đứa khác, chúng không được kết bạn với bọn trẻ con của chúng ta nữa. Họ đã tách hai đứa ra khỏi đám trẻ. (vajjitabba)”, và sau đó hình như vùng đất rộng ba trăm dậm được đặt tên là Vajjī (có nghĩa là” Tách ra khỏi”). [chính vì thế mà tại sao các cư dân sống trên những phần đất đó được gọi là những người Vajjanas.] 8. Thế rồi những người chăn bò đã dâng một phần lễ vật cho nhà vua và chiếm quyền trên mảnh đất đó. Sau đó họ cho xây một thành phố trên miếng đất đó. Cậu con trai, hiện nay đã mười sáu tuổi, họ đã xức dầu phong vương cho cậu và họ đã cưới cho cậu nàng con gái. Và họ đã đồng ý với nhau là không có con gái nào được phép xuất khỏi thành phố đó. 9. Ngay từ lúc mới sống chung với nhau hai đứa trẻ sanh ra được một đứa con gái và một đứa con trai. Họ đã sanh đôi đến mười sáu lần như vậy. Thế rồi khi những đứa trẻ đã lớn lên và khi đã có đủ nơi cư trú để chứa đựng tài sản: nào là vườn tược, công viên, nơi cư trú và kẻ ăn người ở. Họ đã cho xây bức tường thành vây quanh ba vòng thành phố. Mỗi vòng có khoảng cách rộng khoảng độ nửa dậm. Chính vì có sự nới rộng liên tục như vậy (vesali-katatta) mà thành phố được gọi là Vesālī. Đây chính là câu chuyện kể về thành phố Vesālī. [Nguồn Tài Liệu] 10. Vào lúc này khi Đức Thế Tôn xuất hiện trên [thế gian], thành Vesālī là một nơi rất phồn vinh thịnh vượng. Và đã có tới bảy trăm bảy mươi bảy ngàn các vị quan nhiếp chính sống tại đó, cũng có một số các vị phó nhiếp chính, các vị tướng lãnh và lính canh với số lượng bằng từng ấy nữa. [161] v.v...theo như người ta kể lại, “Giờ đây vào dịp đó thành Vesālī rất phồn vinh thịnh vượng, phát triển tột bậc có rất đông người đến cư ngụ, có nguồn cung cấp lương thực dồi dào và có đến bảy trăm bảy mươi bảy ngàn tòa lâu đài và bảy trăm bảy mươi bảy ngàn phòng ở cao cấp và bảy trăm bảy mươi bảy ngàn công viên cộng với từng ấy ao hồ.” (Vin. i. 268). 11. Nhưng vào một dịp khác thành phố lại thiếu lương thực do phải trải qua hạn hán và mùa màng thất bát. Trước tiên những người nghèo phải chết và [xác của họ] được quẳng ra ngoài thành, do mùi hôi thối của các xác chết xông lên chẳng còn người nào dám đi vào thành phố các chúng sanh phi nhân được cơ hội đột nhập vào Thành phố. Sau đó, nhiều người khác nữa cũng phải chết. Sự kinh tởm quá lớn lao xảy đến khiến cho bệnh dịch “Hơi rắn” đã xuất hiện. [4] tàn phá biết bao nhiêu sanh linh. Thành phố Vesālī đã bị ba tai nạn ám ảnh đó là: sợ đói, sợ các chúng sanh phi nhân (non-human beings) và sợ bệnh dịch hoành hành. Thế nên các cư dân thành phố liền đến gặp vị quan nhiếp chính [đứng đầu] và thưa rằng: “Thưa Đại Vương, có ba tai nạn đã xuất hiện trong thành phố chúng ta, điều này xưa nay chưa từng xảy ra dưới bảy triều vua trước đó. Có lẽ giờ đây chúng xuất hiện là vì do danh nghĩa của nhà vua đang có một số vấn đề bất chính diễn ra chăng?” Vị quan nhiếp chính liền tụ họp toàn bộ dân chúng lại nơi sảnh đường thành phố và ra lệnh cho họ điều tra xem danh nghĩa nhà vua có gì trục trặc không. Họ đã điều tra toàn bộ thân tộc hoàng gia, song chẳng phát hiện ra điều gì. Chính vì không phát hiện ra điều gì sai phạm nơi thân tộc hoàng gia, họ liền thắc mắc, “Bằng cách nào có thể giảm thiểu tai nạn này đây.” Có một số người đề nghị sáu vị Đạo sư đó là [Puuraṇa, Kassapa và các vị khác, nói rằng] “ Tai nạn đó sẽ được giảm thiểu ngay sau khi họ xuất hiện.” Có số người khác lại cho rằng, “Hình như đã có một vị Toàn Giác xuất hiện trên thế gian này”. Đức Thế Tôn sẽ giảng Pháp để đem lại phước đức cho chúng sanh. Ngài vô cùng quyền năng và dũng mãnh. Toàn bộ tai nạn sẽ được giảm thiểu ngay sau khi ngài xuất hiện. Ngay lúc đó toàn dân đều rất phấn khởi và họ hỏi nhau, “ Đức Thế Tôn đang sống ở đâu?” Nếu như [162] chúng ta cho người đi mời ắt hẳn Ngài sẽ tới. Thế rồi một số người khác lại lên tiếng, “ Các Vị Toàn Giác luôn tỏ ra nhân hậu thì làm sao Ngài lại không đến?”– “ Đức Thế Tôn đó hiện giờ đang cư trú tại thành Rājagāha và nhà vua Bimbisāra đang phục vụ Ngài. Rất có thể nhà vua chẳng để cho Ngài tới đây đâu.” – “ Thế thì chúng ta hãy xin phép nhà vua đồng ý để cho chúng ta thỉnh Ngài tới đây!” Và họ liền phái đi hai vị quan nhiếp chính người Licchavi đến gặp nhà vua mang theo một lễ vật vô cùng quí giá, có một đạo binh hùng mạnh hộ tống. [bảo họ rằng] “Hãy xin nhà vua Bimbisāra đồng ý để cho các ngươi thỉnh Đức Thế Tôn đến đây”. Họ lên đường và dâng lên Đức Vua lễ vật vô cùng quí giá đó và thông báo cho nhà vua Bimbisāra những gì đang xảy ra, nói rằng “ Thưa Đại Vương, hãy cung thỉnh Đức Thế Tôn đến thăm thành phố chúng tôi”. Thay vì đồng ý, nhà vua truyền, “ Các ngươi hãy tự đi tìm [Đức Thế Tôn] thỉnh đi.” Chính vì thế họ liền đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đã kính lễ Ngài, họ liền thưa, “Thưa Đại Nhân Kính mến, có ba tai nạn đang nổi lên tại thành phố chúng tôi. Nếu như Đức Thế Tôn đến với thành phố chúng tôi, chúng tôi sẽ được an toàn.’ Đức Thế Tôn liền tập trung quán xét [vào sự việc đó và nhận ra điều đó] “ Khi nào Kinh Châu Báu được công bố tại thành phố Vesālī thì An Toàn đó sẽ lan tràn khắp cả Thập Vạn Đại Thiên Tà Bà Thế Giới và khi kết thúc công bố Kinh đó có tới tám mươi tư ngàn sanh linh sẽ chứng đắc Pháp”, thế rồi Đức Thế Tôn đã đồng ý đến thành Vesālī . 12. Khi nhà vua Bimbisāra nghe biết Đức Thế Tôn thuận ý đến. Ngài phải công bố Kinh [Châu Báu] tại thành phố đó, nói rằng, “ Đức Thế Tôn đã đồng ý đến thăm thành Vesālī”, và thế rồi nhà vua liền đến Đức Thế Tôn hỏi rằng ‘Ngài đáng kính, Ngài đã đồng ý đến thành Vesālī tẩy uế rồi sao? – “ Bẩm hoàng thượng, đúng vậy.” – “ Thế thì thưa Ngài, hãy đợi chúng tôi cho sửa sang lại đường xá đã.” Thế rồi nhà vua Bimbisāra cho san bằng đường xá một khoảng cách dài độ năm dặm. Giữa thành Rājagāha kéo dài cho đến tận sông Hằng. Và cứ cách một dặm nhà vua lại cho xây một nơi nghỉ ngơi. Sau đó nhà vua thông báo cho Đức Thế Tôn là mọi sự đã sẵn sàng đã đến giờ Ngài có thể lên đường. Đức Thế Tôn đã lên đường, đi theo là một đoàn tùy tùng có khoảng năm ngàn vị Tỳ Khưu hộ tống. Trên đường đi kéo dài suốt năm dặm đó nhà vua cho rải hoa ngũ sắc ngập cho đến đầu gối và cho treo cờ xí , biểu ngữ và cờ đuôi nheo, v.v... [163]. Nhà vua truyền làm hai chiếc lọng màu trắng che trên đầu Đức Thế Tôn và mỗi vị Tỳ Khưu cũng có một chiếc lọng như vậy. Thế rồi nhà vua kính lễ Đức Thế Tôn với hoa, nhang v.v... và cho cả đoàn tùy tùng của nhà vua hộ tống. Nhà vua truyền lệnh hãy để cho Đức Thế Tôn nghỉ tại mỗi tòa nhà nghỉ đã cho xây dựng trên đường đi và tại mỗi nơi dừng lại đó nhà vua truyền thực hiện một cuộc bố thí thật xứng đáng. Bằng cách đó nhà vua đã hộ tống Đức Thế Tôn tới bờ sông Hằng trong vòng năm ngày. Tại đó nhà vua cho truyền đóng một chiếc thuyền được trang hoàng với đủ loại đồ trang trí. Và rồi nhà vua còn gửi một thông điệp đến cho cư dân thành Vesālī truyền rằng: “Đức Thế Tôn đã đến. Hãy dọn đường xá. Hãy truyền cho mọi người ra nghênh đón Ngài. Họ quyết định thực hiện công việc kính lễ long trọng gấp đôi. Và vì vậy, sau khi họ đã cho san bằng đường xá trong vòng ba dặm giữa thành Vesālī chạy dài cho tới sông Hằng, họ đã cho sửa soạn bốn chiếc lọng màu trắng dành cho Đức Thế Tôn và hai chiếc dành cho mỗi vị Tỳ Khưu.Và để thực hiện kính lễ Đức Thế Tôn và đoàn tùy tùng các vị Tỳ Khưu dân chúng kéo ra rất đông và đứng tại bờ phía tây sông Hằng. Nhà vua Bimbisāra lại truyền cho đóng hai con thuyền nhập vào đoàn người nghênh đón Đức Thế Tôn và cho dựng trên hai chiếc thuyền đó một sảnh đường được trang trí bằng hoa v.v...và trên đó nhà vua cho làm một bảo tọa cho Đức Thế Tôn ngự, được làm bằng đủ mọi loại đá quí. Đức Thế Tôn ngồi trên bảo tọa đó và năm ngàn vị Tỳ Khưu liền bước lên thuyền mỗi vị ngồi tại chỗ xứng hợp với họ. Thế rồi nhà vua còn hộ tống Đức Thế Tôn xuống sông cho đến khi nước ngập đến cổ và nhà vua truyền: “Thưa Đức Thế Tôn, tôi sẽ lưu lại tại đây trên bờ sông Hằng này cho đến khi Ngài quay trở lại ” và rồi nhà vua hồi cung. Các vị Chư Thiên mãi tận cõi Akaniṭṭha (ci trời sắc cứu cnh) [cùng các vị Chư Thiên nơi cõi Tịnh Cư] cũng kính lễ Đức Thế Tôn từ trên cao. Và Kambala và Long vương Naga Assanta và nhiều loại khác đang sinh sống dưới nước sông Hằng cũng kính lễ Đức Phật từ phía dưới như vậy. 13. Khi Đức Thế Tôn đang còn du hành trên sông Hằng như vậy khoảng độ một dậm với việc kính lễ long trọng như vậy, Ngài liền băng qua biên giới những người Vesalian. Thế rồi, tại đây thực hiện kính lễ Đức Thế Tôn gấp hai lần nhà vua Bimbisāra, các vị quan nhiếp chính người Licchavi đã đến nghênh đón Đức Thế Tôn họ bước xuống sông cho đến khi nước ngập đến cổ. Vào lúc đó, ngay khoảnh khắc đó, có một đám mây lớn, bóng tối đám mây che phủ bầu trời trên cao rộng khắp với sấm chớp nổi lên khắp nơi và trời bắt đầu đổ mưa xuống khắp tứ phương thiên hạ. Thế rồi khi Đức Phật vừa mới đặt chân [164] xuống bờ sông Hằng ngay lập tức một đám mưa hoa sen đổ xuống; nhưng chỉ có kẻ nào đã bị nước mưa làm ướt vì muốn làm ướt mình, và chẳng có ai không muốn bị ướt lại bị ướt cả. Khắp mọi nơi đều có nước ngập tới đầu gối, đến đùi đến thắt lưng rồi đến cổ và tất cả các xác chết được quét sạch xuống sông Hằng. Cho đến khi mặt đất được làm sạch sẽ. 14. Cứ mỗi khoảng cách độ một dậm những người Licchavi lại thỉnh Đức Thế Tôn dừng lại nghỉ chân và tại đó họ lại tổ chức một cuộc bố thí thật lớn. Như vậy chỉ trong vòng ba ngày họ đã thực hiện kính lễ long trọng gấp hai lần nhà vua Bimbisāra đã thực hiện. Họ đã thỉnh Đức Thế Tôn vào thành Vesālī. Ngay sau khi Đức Thế Tôn vào thành Vesālī, Thì Thiên Chủ (Sakka) Quốc Vương Các Vị Thần được cộng đoàn các Chư thiên báo trước liền đến. Với sự xuất hiện của các vị Chư Thiên với uy thế lớn lao đến như vậy, đa số các chúng sanh phi nhân đều bỏ trốn. Đức Thế Tôn liền dừng lại ngay cổng thành, và Ngài đã truyền cho Trưởng Lão Ananda nói rằng. “Hỡi Ananda, hãy lắng nghe Kinh Châu Báu này, và cùng với các vị hoàng tử người Licchavi hãy thực hiện một nghi lễ Cầu An trong cuộc rước quanh những khoảng cách ba vòng tường thành, hãy mang theo với các người những của cải vật chất để thực hiện nghi lễ dâng cúng. Và thế rồi Ngài công bố Kinh Châu Báu. 15. Đó là những gì Ngài trả lời cho câu hỏi: “ Ai đã công bố bài thuyết Pháp này? Khi nào? và tại sao bài thuyết Pháp được công bố. Đã được các vị Trưởng lão đưa ra chi tiết. Bắt đầu với chuyện kể về Thành Vesālī. 16. Chính vì thế đang lúc Kinh Châu Báu là mục tiêu nhằm phá tan dịch bệnh được công bố ngay tại cổng thành vào chính ngày Đức Thế Tôn đặt chân đến thành Vesālī, thì vị Trưởng Lão Ananda đã học biết được kinh này và rồi Trưởng Lão tụng kinh đó sau này như là một nghi lễ cầu an. Trưởng Lão Ananda đã dùng bát khất thực của Đức Thế Tôn để lấy nước và tiến hành rẩy chung quanh thành phố. Ngay sau khi những lời “bất kỳ điều gì cũng chẳng hệ gì” (đoạn kệ 3) được vị Trưởng Lão công bố, thì toàn bộ các chúng sanh phi nhân chưa kịp chạy trốn đều bỏ chạy trốn hết và núp vào những đống phân và đằng sau bức tường thành và những chỗ đại loại như vậy, chúng đã bỏ trốn ra khỏi thành qua bốn cổng. Nhưng cổng thành đó lại không đủ rộng để chúng chạy trốn chính vì thế một số đã không thể bỏ chạy qua lối cổng thành và đã phá tường thành mà chạy trốn. Bệnh tật xuất hiện trên tay chân con người được chữa lành. Toàn dân đã đổ ra đường để kính lễ vị Trưởng Lão với đủ mọi loại hoa, hương nhang, v.v... đám đông [165] đã tràn ngập sảnh đường ngay trung tâm thành phố với đủ mọi hương hoa làm thành một màn trướng trang điểm với đủ mọi loại đồ trang sức và khi họ đã sửa soạn một bảo tọa cho Đức Thế Tôn, họ đã thỉnh Ngài ngự trên bảo tọa đó. Đức Phật đã vào sảnh đường thành phố và ngồi trên bảo tọa dọn sẵn cho Ngài. Cùng với Tăng đoàn các vị Tỳ Khưu, các quan nhiếp chính và dân chúng ngồi tại chỗ dành riêng cho họ. Vị Thiên Chủ (Sakka) quốc vương các vị Chư Thiên đang ngự trên hai cõi trời. [5] và các vị thần khác khi vị Trưởng lão Ananda tiến hành đi quanh toàn bộ thành Vesālī và đã hoàn tất cử hành nghi lễ cầu An, Ngài quay trở lại với thần dân thành Vesālī và ngồi xuống một bên. Tại đó Đức Thế Tôn đã công bố cùng một Kinh Châu Báu đó cho toàn thể dân chúng. Tới điểm này, điều gì đã được đưa ra trong bộ kinh, cụ thể là
Do ai công bố, khi nào và ở đâu, và tại sao Đã được trình bày đến từng chi tiết dưới mọi khía cạnh. [Chú Giải các từ và ý nghĩa.] 17. Nhưng vì đã có lời nói rằng:
Ở bất kỳ nơi đâu, vào thời gian thuận lợi Việc chú giải về ý nghĩa phải được bắt đầu thực hiện. Giờ đây có một số người khác cho là chỉ có năm đoạn kệ đầu tiên là do Đức Phật công bố, số còn lại là do Trưởng lão Ananda công bố vào thời điểm Ngài thực hiện nghi lễ Cầu An. Điều này thực chất có thể là như vậy hay cũng có thể không phải thế. Nhưng liệu việc điều nghiên đó có liên quan đến chúng ta hay không? Tập Chú Giải chúng ta sẽ thực hiện về Kinh Châu Báu này thực sự sẽ thích hợp trong cả hai trường hợp. [Đoạn kệ 1 - Lời Hô Hào] 18. Đoạn kệ đầu tiên bắt đầu như sau:
Yānīdha bhūtāni [samāgatāni bhummāni vā yāni
va antalikkhe
Phàm ở tại đời này, có sanh linh tụ hội Liên quan đến từ “ bất kể điều gì” trên trần gian này [trong đoạn kệ này]: (yānī) [có nghĩa là] bất kể loại nào cho dù có ảnh hưởng nhỏ bé hay to lớn. Ở đây (idha): nơi vị trí này; Ngài nói đến việc ám chỉ nơi hội họp vào dịp đó. Các sanh linh (bhūtāni): từ bhūta [quá khứ phân từ của động từ bhavati ‘hiện hữu’ [6]] trong các đoạn như thực tế, khi điều đó là như vậy, (bhūtasmim),là một lỗi phạm bắt phải có việc đền tội (Vin. iv. 25) ý nghĩa là thực sự (vijjmāna) và trong các đoạn như [thực thể] chính là (bhūta)”; [168] Ngài có nhận ra điều này chăng, hỡi các vị tỳ khưu?’ (M. i. 260) lại có ý nghĩa ngũ uẩn (khandha pañcaka),và trong các đoạn như, hỡi các vị Tỳ Khưu, tứ đại hiển (mahā-bhūta) là nguyên nhân (S iii 101) có nghĩa là sắc tứ đại hiển (rūpa), gồm có địa đại và [các đại như thủy đại, hỏa đại và phong đại), và trong các đoạn như: sanh linh (bhūta) đã chiếm hết thời gian (ja. ii. 260) điều này có nghĩa là (một vị A-la-hán) một người đã đoạn tận được hết các lậu hoặc của mình (khīnāsava Bậc Lậu Tận), và trong các đoạn như, Không có chng sanh nào trên thế gian này chỉ có hợp chất mà thôi. (D. ii. 157) điều này có nghĩa là toàn bộ các chúng sanh (satta), và trong các đoạn như, rơi vào [7] cuộc sống thực vật (bhūtagāma) (Vin. iv. 34) có nghĩa là các loại cây (rukkha), v.v...và trong các đoạn như, Ngài chiêm ngưỡng một chúng sanh (bhūtam.- M. bản văn ghi là bhūte) như là một hữu thể (bhūtato) (M. i. 2) lại có nghĩa là thân xác của các chúng sanh (sattakāya) thấp hơn cõi trời Tứ Đại Thiên Vương. [Giờ đây] cho dù [từ này có nhiều ý nghĩa như vậy] [tuy nhiên] nên hiểu điều này như là tất cả những chúng sanh không phân biệt thuộc dạng phi nhân. Qui tụ lại (samāgatāma): tụ họp lại. 19. Chính vì thế hoặc trên cõi đời này (bhummāni): được sanh ra trên đời này. hay (vā) lại là một [tiểu từ] khác; có nghĩa là một cách khác với các từ bất kỳ sanh linh nào – hoặc sanh ra trên đời này – đều tụ họp lại nơi đây thế thì để chọn cách thứ hai Ngài nói hoặc là trên trời cao (yāni va antalikkhe), có nghĩa là bất kể chúng sanh nào cho dù được sanh trên trời cao cũng đều tụ họp lại ở đây. Và ở đây ta cũng nên hiểu là những chúng sanh được sanh trên cõi trời Dạ Ma xa tít tận cõi trời [8] Akaniṭṭha Sắc cứu cánh là các chúng sanh ở trên tít trời cao vì chúng được sanh ra trong những nơi ở thần tiên trên tít tận trời cao. Và ta cũng có thể hiểu rằng các chúng sanh đang cư trú nơi cây cối, cây dây leo, v.v... hoặc được sanh ra trên mặt đất này, phía dưới cõi [trời Dạ Ma] từ ngọn núi Sineru trở xuống đều là những chúng sanh trên mặt đất này, vì tất cả đều được sanh ra trên mặt đất này và trên các cây cối, cây leo, vách đá, v.v... là những gì gắn liền với trái đất này. 20. Giờ đây Đức Thế Tôn đã gom tất cả các chúng sanh phi nhân trong hai câu văn khác nhau. Cho dù chúng có là chúng sanh trên mặt đất hay trên trời cao, chớ gì từng chúng sanh đó hay toàn bộ chúng đều được bình tâm. Về điểm này, toàn bộ (sabbe) [có nghĩa là] không phân biệt. Từng loại (và eva nghĩa đen là đúng là) chỉ dùng để nhấn mạnh; ý định của Ngài là: không loại trừ bất kỳ loài nào cả. Các sanh linh ở đây (bhūta, giống đực số nhiều) có nghĩa là: các chúng sanh phi nhân. Chớ gì....được bình tâm (sumāna bhavantu): chớ gì họ có được vui sướng trong tâm (sukhitamana), trở nên hạnh phúc và vui sướng. 21.Và cũng như (atho pi): cặp tiểu từ này ám chỉ điều gì ta sắp nói tới. Mục tiêu là đưa ra mối liên kết giữa các chức năng của các từ được đề cập tới. Chớ gì họ chú ý lắng nghe những lời này. (sakkacca sunantu bhāsitam): [167] lắng nghe, chú ý nghe, và toàn tâm đáp ứng lại, chớ gì họ lắng nghe lời dạy của Ta, chỉ đem lại những điều tuyệt diệu từ trời cao và hạnh phúc siêu thế xuống cho họ mà thôi. 22. Chính vì thế sau khi Đức Thế Tôn đã gộp toàn bộ các chúng sanh trong một câu bất định “bất kỳ sanh linh nào trên cõi đời này đều tụ tập lại ở đây” và rồi lại xác định chúng thành hai loại như trên chính vì vậy cho dù được sanh ra trên địa cầu này hay tại cõi trời cao.’ Và Ngài đã hợp nhất chúng lại bằng các từ “chớ gì mỗi sanh linh cũng như toàn bộ chúng sanh đó”. Ngài đã kết luận đoạn kệ bằng cách động viên cổ vũ chúng về điều tuyệt diệu cuối cùng (xin đọc Ch. v. § 37) với các từ sau, chớ gì họ được bình tâm và về điều tuyệt diệu do những phương thức Ngài đưa ra với các từ, “Hãy lắng nghe cẩn thận những lời này, và cũng giống vậy Ngài đã động viên cổ vũ họ liên tiếp về điều tuyệt diệu trong việc chú tâm lắng nghe và điều tuyệt vời nơi những gì người khác nói (xin đọc M. i. 294) và cũng lưu ý đến điều tuyệt diệu với ý hướng tốt lành nhằm tự hướng chính mình và phục vụ những Thiện Nhân (xin đọc A, ii. 22) và Ngài cũng đưa ra điều tuyệt diệu về nguyên nhân Định và Tuệ. [Đoạn kệ 2 – kết thúc lời động viên]
[Tasmā hi bhūtā nisāmetha sabbe mettam karotha
mānusiyā pajāya.
Do vậy các sanh linh, tất cả hãy chú tâm 23. Đoạn kệ thứ hai [bắt đầu] “ Do vậy các sanh linh”. Về điểm này, chính vì thế (tasmā) là một từ nêu lên lý do. Ôi tất cả sanh linh (bhūta): một từ dùng để nói . Hãy chú tâm (nisāmetha): hãy lắng nghe. Tất cả (sabbe): không phân biệt. Ngài muốn ám chỉ điều gì vậy? Ngài muốn nói, do các ngươi đã từ bỏ các nơi trời cao và điều tuyệt diệu sung sướng, tìm thấy trong đó mà lại tụ hội lại nơi đây nhằm mục đích lắng nghe Pháp không nhằm mục tiêu chiêm ngưỡng những vũ nữ, vũ điệu, v.v...chính vì thế mà các sanh linh, đã chú ý lắng nghe tất cả. Hoặc giả, hãy đọc thêm điều đó trong các câu “chớ gì họ được bình tâm”, và “hãy chú tâm lắng nghe” họ được bình tâm và chỉ muốn lắng nghe, điều Ngài muốn nói ở đây là, “Vì, nhờ được bình tâm, các ngươi được phù hợp do bởi có những mục tiêu tinh tuyền do phương hướng tự dẫn mình tới và chú tâm thường xuyên, và vì do ước muốn lắng nghe chăm chú. [các ngươi có được nhờ việc phục vụ những Bậc Chân Nhân và lắng nghe người khác chỉ bảo, nhờ đó mà hình thành cho mình căn bản Chánh kiến. Chính vì thế, tất cả các sanh linh hãy chú ý lắng nghe”, hoặc giả, quay trở lại với đoạn “những lời này” ở cuối đoạn kệ trước là lý do, Ngài muốn nói rằng “Vì những lời của ta rất khó lòng kiếm được do bởi rất khó tìm ra thời điểm nào có thể tránh được toàn bộ [những nét riêng đặc biệt nơi giây phút không đúng đắn đó. [9] và [bởi vì] những lời của ta có rất nhiều lợi điểm bởi lý do chúng luôn luôn xuất hiện kèm theo những ân đức đặc biệt gồm trí tuệ và lòng bi mẫn.- và đó là điều ta muốn diễn đạt khi ta nói “Hãy lắng nghe...những lời này.” Do vậy hỡi tất cả các sanh linh hãy chú tâm; đó là điều muốn nói tới ở dòng này. 24. Sau khi đã động viên khích lệ chúng sanh hãy lắng nghe chính lời của Ngài bằng lý do đã biện dẫn. Ngài bắt đầu chú giải chú tâm là gì theo như Ngài đã công bố [nói rằng] mà ta phải [168] hãy thực thi từ tâm cho mọi người. (mettam karotha mānusiyā pajāya). Ý nghĩa điều này như sau: “Hãy thiết lập tình bằng hữu (mittabhāva) chỉ ước muốn điều tốt lành cho mọi chúng sanh mọi dân tộc đã bị ba tai nạn hoành hành”; nhưng một số lại đọc là mānusiyam [thay vì mānusiyā] là sai vì nghĩa định sở cách không hàm chứa ở đây. [10] và vì vậy những gì các từ này chú giải [trên căn bản đó] là sai. Ý định ở đây như sau: Ta không nói điều đó dựa trên sức mạnh kiêu căng ngã mạn với tư cách là một người đã Giác Ngộ, nhưng chính là vì hạnh phúc cho chính các ngươi và cho dòng giống nhân loại mà ta đã phải thốt lên “hãy thực thi từ tâm cho nhân loại”. Và bằng cách nào từ tâm đem lại lợi ích cho những kẻ thực hiện điều đó là điều ta có thể hiểu được ở đây nhờ vào bài thuyết Pháp sau đây: “Sau khi đã khuất phục được khắp tứ phương thiên hạ, có cơm ăn nào là chúng sanh, sanh linh. Vị Đại Nhân vương đế đã đi vòng quanh khắp nơi, dâng cúng lễ vật với nghi thức tráng lệ. Cả tế lễ ngựa lừa lẫn tế lễ nhân loại. Cộng cả nghi thức giải thoát và rất nhiều đồ uống vāja;Thật không xứng chỉ một phần mười sáu. Đối những gì Ngài tích luỹ từ tâm trong chúng sanh”. (A. iv. 151). Và “Kẻ nào có tâm không vấy bẩn sân hận có thể đổi lấy từ tâm mà đối xử tốt với chỉ một sanh linh có hơi kệ. Chỉ có một thực tế đó được hoàn thiện: nhưng nếu tâm trí. Lại chứa chấp với lòng từ tâm đối với mọi sanh linh có hơi kệ. Khi một người được trở nên cao quí nhờ thực hiện được việc công đức cao cả”. Và nhờ [bài kinh] về mười một điều lợi ích (A .v 342); thế rồi làm thế nào bài thuyết Pháp đó đem lại lợi ích cho những người thực hiện từ tâm có thể được hiểu nhờ bài kinh đó sau:
người nào được các Chư thiên đồng cảm, 25. Sau khi nói rằng. “Hãy tỏ lòng từ tâm cho nhân loại trên thế gian này” như vậy Ngài chỉ ra cho thấy làm sao thực hiện điều đó có lợi cả đôi đường, đến đây Ngài nói thêm “Ban ngày và ban đêm họ mang vật cúng đường. Do vậy không phóng dật hãy giúp đỡ hộ trì”.[Divā ca ratto ca haranti ye balim tasmā hi ne rakkhatha appamattā.] lại cho thấy điều [169] trợ giúp [phải thực hiện] là gì. Ý nghĩa điều này là như sau: có những con người miêu tả sinh động các Chư thiên bằng những bức tranh và những tượng điêu khắc bằng gỗ và đi đến chùa,tháp, cây, v.v...và vì họ đã thực hiện dâng cúng lễ đường vào ban ngày hay họ đã thực hiện dâng cúng lễ đường ban đêm bằng đèn [11] vào những đêm không có trăng. v.v...; hay họ thực hiện dâng cúng lễ đường vào ban ngày cho các vị Chư Thiên hộ trì bởi những lễ vật thường đem lại công đức đến tận các vị Chư Thiên trời cao bằng cách thực hiện các bữa ăn phát chẩn, v.v... thực hiện việc che lọng, đốt đèn và vòng hoa. Chính vì thế khi họ thực hiện những việc cúng dường cho bạn cả ngày lẫn đêm như vậy thì làm sao bạn lại có thể không gìn giữ họ đây? Chính vì thế hãy bảo vệ họ; chính vì thế hãy bảo hộ độ trì những con người đã thực hiện những buổi cúng dường. Hãy đẩy lui những thống khổ cho họ, hãy đem lại hạnh phúc cho họ, hãy chuyên tâm ghi khắc trong lòng việc tri ân đó và suy tưởng thường xuyên về điều này. [Đoạn Kệ 3 – Người Toàn Hảo]
[Yam kiñci vittam idha vā huram vā saggesu vā
yam ratanam panītam,
Phàm có tài sản gì, đời này hay đời sau 26. Như vậy sau khi đã chứng tỏ cho thấy các Chư Thiên đem lại lợi ích lớn lao cho con người đến nhường nào, [giờ đây] Ngài bắt đầu thốt lên một lời cầu khẩn chứa đựng chân ngôn được bắt đầu như sau. Có bất kỳ điều gì đáng giá, thực hiện như vậy nhằm mục đích loại bỏ dịch bệnh và nhằm mục tiêu giúp cho cả các Chư Thiên lẫn con người được lắng nghe Pháp bằng cách chú giải những ân đức đặc biệt và điều gì còn lại. 27. Về điểm này, bất kỳ điều gì...thấy có (yam. Kiñci) bao gồm toàn bộ bất kỳ điều gì thích hợp để đem ra trưng bày chỗ này chỗ nọ. Điều gì có giá trị (vittam) có nghĩa là tài sản giàu có; vì điều đó tạo ra [phần thưởng] do sự phú quí thịnh vượng (vitti) đem lại, như vậy đó là những tài sản có giá trị. (vitta). Ở đây hay (idha vā) chứng tỏ cõi nhân loại này. Thế giới ở xa (huram vā) chứng tỏ điều còn lại trên thế gian này ngoài điều đó. (thế giới bên kia). Giờ đây mặc dù điều sau này có thể mở rộng tới mức độ bao gồm toàn bộ thế gian này ngoại trừ con người. [Tuy nhiên] vì hay cả trên Thiên cung nữa, được đề cập tiếp theo sau đó cả thế giới loài người lẫn thế giới thiên đường được gộp chung lại như vậy, điều được hiểu [do từ nơi xa xăm] lại được gộp chung lại với những thế giới còn lại đó là thiên giới của các (Nagas) Long vương, (Supannas) Kim Sí Điểu v.v... [12] Chính vì thế điều mà được chứng tỏ bằng hai từ này [cõi đời này hay thế giới ở xa] là bất kỳ vật gì có giá trị, đó là thích hợp cho nhân loại [cõi đời này] và có thể được sử dụng như là một món đồ trang sức: vàng, bạc, đá quý, pha lê, lục ngọc thạch, san hô, hồng ngọc, ngọc bích.v.v...và bất cứ vật gì có giá trị thuộc về (Nàgas) Long vương, (Supaṇṇas) Kim Sí Điểu..... [nơi cõi xa xăm] là điều nổi lên nơi những cõi đó trải dài hàng trăm ngàn dậm [170] những ngôi nhà được xây dựng bằng đá quí đứng sừng sững, trên mặt đất rơi vãi khắp nơi với đá quí và pha lê. 28. Hoặc ở tại Thiên Giới. (saggesu vā): thuộc cõi dục giới và cõi sắc giới các Chư thiên; vì do hành vi đáng ca ngợi (sobhana) họ đã đạt đến được cũng như đã chứng đắc (gammanti) [13] đó chính là thiên đường vậy. (sagga) hoặc giả chúng hoàn toàn (suṭṭhu) tốt đẹp nhất (agga) như vậy, chúng là thiên giới Điều (yam.) có người sở hữu hay những gì không có chủ nhân. Châu báu (ratamam): sẽ đem lại, mang đến, tạo ra (janayati). [14] Cảnh sung sướng (rati –nghĩa đen là ‘niềm sảng khoái’). Như vậy đây là một châu báu (ratana); đây chính là biểu tượng đối với bất kỳ điều gì đáng khâm phục, điều có giá trị lớn, vô giá, hiếm thấy, và được các chúng sanh siêu việt sử dụng, theo như những gì được nói đến như sau: “(1) Điều đáng khâm phục, (2) có giá trị rất lớn. (3) Điều vô giá, (4) hiếm khi thấy được. (5) chỉ những chúng sanh siêu việt mới sử dụng; đó là ý nghĩa những gì từ “châu báu’ muốn ám chỉ.” Hiếm có (panītam - nghĩa đen là “ thượng hạng”: trổi vượt, tốt nhất, không tầm thường. Chính vì thế điều gì được biểu thị trong dòng chữ này là bất kỳ loại châu báu nào như thể một Sudhamma [Diệu Pháp đường]. Vejayanta [tòa lâu đài] [15] v.v... đều là các tòa nhà thiên quốc được làm bằng đủ mọi loại đá quí và rộng đến hàng trăm dậm. và cũng như vậy bất kỳ châu báu nào không có chủ, hoặc là thuộc về các tòa nhà thiên cung đã bỏ vắng chủ khi các chủ nhân đã [được tái sanh xuống trần] lấp đầy cõi khổ cảnh trong thời điểm vắng bóng một vị Giác Ngộ; hay bất kỳ châu báu nào vô chủ nằm trên mặt đất, nơi đại dương,trên núi Hy Mã Lạp Sơn v.v... 29. Không gì sánh bằng được với Như Lai Thiện Thệ (Na no samam atthi tathāgatena): không gì (na) dùng để phủ định. [không] Ai (no) dùng để nhấn mạnh. [16] Sánh bằng (samam): có thể sánh được với một vị Như Lai Thiện Thệ (Tathāgatena): với một vị Toàn Giác Ngộ được đâu. [17] 30. Điều này có nghĩa là gì vậy? đó là bất kỳ có tài gì đáng giá và có châu báu thù thắng nào, cũng chẳng có bất kỳ điều gì có thể sánh bằng Phật Bảo ở đây cả. 31. (1) Đến đây bất kỳ châu báu [có thể được định nghĩa] là được ngưỡng mộ rất nhiều (§ 28). Thí dụ như, một Bảo luân xa hay là một viên ngọc Bảo châu một Chuyển Luân Vương (xin đọc D. Sutta 17 và Trung Bộ Kinh Sutta 129 và các tập chú giải tương ứng) - một khi đã khởi xuất, thì đa số chúng sanh chẳng còn trầm trồ khen ngợi bất kỳ điều gì khác, và tuyệt đại đa số chúng sanh chẳng còn kính lễ với hoa, hương nhang v.v... những nơi kệ tự của bất kỳ chúng sanh phi nhân hay quỉ thần nào khác; nhưng toàn bộ chúng sanh chỉ còn biết kính lễ Châu Báu Luân và Ngọc Châu Báu mà thôi; và họ sẽ cầu khẩn chúng đem lại cho họ ân huệ này nọ và có đôi khi họ cũng được toại nguyện nơi những gì họ cầu xin ngay cả một châu báu có sức thần như vậy cũng không thể nào sánh bằng với Phật Bảo. Nếu một châu báu được định nghĩa là được khen ngợi ngưỡng mộ. Thì chỉ có duy nhất một vị Như Lai Thiện Thệ là xứng được như vậy mà thôi.; [171] Vì khi một vị Như Lai Thiện Thệ xuất hiện, thì bất kỳ các Chư Thiên hay nhân loại nào với ảnh hưởng to lớn đến cỡ nào, cũng chẳng được họ kính lễ hay tỏ lòng ngưỡng mộ bất kỳ ai khác ngoài vị Như Lai Thiện Thệ đó. Thật vậy vị Đại Phạm Thiên Sahampati cao siêu cũng đã kính lễ vị Như Lai Thiện Thệ với vòng hoa Châu Báu to bằng cả ngọn núi Sineru, và các vị Chư Thiên khác cũng đã thực hiện giống như vậy; ngoài ra về phía nhân loại như nhà vua Bimbisara. Nhà vua Pasenadi nước Kosala, Anāthapindika, v.v... Và sau khi Đức Thế Tôn đã hoàn toàn viên tịch. Nhà vua Asoka đã từ bỏ chín mươi sáu kotis (96.000.000?) đất đai Vương quốc của ngài vì Đức Phật và đã xây dựng tám mươi tư ngàn chùa tháp trên khắp đất nước Ấn Độ (Jambudipa). Chính vì vậy ta cần kể ra đây những người ngưỡng mộ vị Như Lai Thiện Thệ khác làm gì nữa? Thật vậy cuối cùng đã có ai khác hơn là Đức Thế Tôn đã chứng đắc tịch diệt nếu chẳng phải chỉ duy có một mình Đức Thế Tôn hay sao, vì người đó mà nơi đản sanh, việc chứng đắc Giác ngộ. Việc quay Chuyển Pháp Luân và việc Tịch Diệt Níp Bàn hoặc giả ngay cả các ảnh tượng và đền chùa v.v..lại xứng đáng được ngưỡng mộ và kính lễ đến như vậy? Chính vì thế chẳng còn châu báu nào sánh bằng với vị Như Lai Thiện Thệ hiểu theo nghĩa Ngài được kính lễ và ngưỡng mộ. 32. (2) Cũng giống vậy chẳng có Châu báu nào [có thể được xác định] theo nghĩa có Giá trị lớn lao; tỷ dụ như, vải Kāsi . Theo những gì người ta kể lại, “hỡi các vị Tỳ Khưu, vải Kāsi ngay khi đã cũ kỹ cũng vẫn vô cùng đẹp đẽ và rất mềm mại và có giá trị vô cùng to lớn.” (A. i. 248); nhưng ngay cả một châu báu như vậy cũng không bao giờ sánh bằng Phật Bảo. Nếu một châu báu có thể xác định được theo nghĩa có giá trị to lớn. thì chỉ có vị Như Lai Thiện Thệ mới thực sự được coi như là một châu báu đích thực mà thôi.; vì cho dù vị Như Lai Thiện Thệ có chấp nhận khoác vào chiếc y cà sa làm bằng vải rách bỏ đi thì hành vi của họ sẽ đem lại cho họ công đức to lớn và phước đức cho họ, tương tự như vị Vua Asoka [mặc vương bào quí giá vậy]. Giá trị to lớn của ngài bao gồm ở điều này, và với từ có giá trị to lớn; ta nên hiểu là đoạn kinh tiếp theo kiến lập bản chất nơi bất kỳ khiếm khuyết nào [trong luận cứ này]: “ Bất kể ngài chấp nhận y cà sa nào, thứ thực phẩm khất thực nào, nơi tịnh dưỡng nào, hay bất kỳ thứ đồ dùng thiết yếu nào như thuốc chữa bệnh nào cũng đem lại phước lợi lớn cho họ; ta nói cho các ngươi biết, điều đó sẽ trở nên có giá trị rất lớn. Giống như vải Kāsi có giá trị to lớn đến nhường nào, ta nói cho các ngươi biết, con người này còn giá trị lớn hơn gấp bội. (A. i. 248) Chính vì thế chẳng có Châu Báu nào sánh ngang bằng một vị Như Lai Thiện Thệ hiểu theo nghĩa giá trị to lớn của vị đó. 33. Cũng giống vậy chẳng có bất kỳ châu báu nào [có thể được xác định] theo nghĩa đặc tính vô giá. Thí dụ như, Bảo Luân Xa [được sửa soạn kỹ càng] xuất hiện trước vị Chuyển Luân Vương. Có trục làm bằng Đá Sa-phia, bảy ngàn cây căm làm bằng bảy loại đá quí, vành bánh xe làm bằng san hô, các chỗ nối bằng vàng đỏ; và cứ mỗi mười cây căm lại có một cây chính nhằm tạo ra âm thanh giống như tiếng gió tạo ra, âm thanh do cây căm đó tạo ra giống như tiếng nhạc ngũ âm điêu luyện [18]. Thế rồi mỗi bên chiếc trục này lại có một đầu sư tử và bên trong lại có một chỗ lõm vào như trong chiếc bánh xe ngựa vậy, chẳng có ai chế tạo chiếc bánh xe này, và cũng chẳng có ai có thể làm được chiếc bánh xe như thế, [19] chiếc bánh xe do khí hậu tự nhiên tạo ra và nhờ nghiệp của những điều kiện tự nhiên mà có. [20] Và khi nhà vua đã hoàn tất được mười bổn phận của một vị Chuyển Luân Vương, và vào ngày giới bát quan trai (Uposatha) nhằm ngày rằm trăng tròn trong tháng, sau khi nhà vua đã gội đầu. và thực hiện những việc tuân thủ giới bát quan trai (Uposatha) và đi lên phòng riêng trên tòa lâu đài hoàng cung, thế rồi đang khi ngài ngồi thiền thanh tịnh những việc giới hạnh của mình ngài nhìn thấy Bảo luân xa của mình nổi lên giống như mặt trăng rằm hay mặt trời, ngay lúc ngài chứng kiến, Bảo luân xa đó phát ra một tiếng náo động rất lớn vang dội ra xa xung quanh cả mười hai dặm. Và cách xa cả hàng dậm cũng nhìn thấy Bảo luân xa đó xuất hiện. Thế rồi đa số chúng sanh trong thành nhìn thấy Bảo luân xa đó đã thốt lên một tiếng náo động rất lớn [nói rằng] “ Chúng ta có thể tưởng tượng thấy một mặt trăng hay một mặt trời thứ hai đang xuất hiện!” và rồi Bảo luân xa đó di chuyển trên thành phố cho đến khi tới hướng đông của đông cung, Bảo luân xa dừng lại trên tòa đông cung đó giống như một chiếc trục xe bao quanh một địa điểm không quá cao cũng không quá thấp rất thích hợp cho nhiều người có thể tỏ lòng kính lễ với hoa và hương nhang v.v... Rồi tiếp theo sau đó, lại nổi lên Voi Châu Báu xuất hiện, toàn một màu trắng, có bốn chân được đánh bóng và với bảy tư thế khác nhau. [21] có được sức mạnh tự nhiên, bay trên không. Và con voi xuất hiện từ nòi giống Uposatha hay từ nòi giống Chaddanta [22] - Khi xuất thân từ nòi giống Uposatha voi ta thuộc loại già nhất tại nòi giống đó. Nhưng khi xuất thân từ nòi giống Chaddanta thì lại trẻ nhất trong toàn nòi giống.- Voi được huấn luyện thuần thục và thuần hóa hoàn toàn. Thế rồi với một hội chúng kéo dài cả hàng dậm, [nhà vua] đi du ngoạn toàn cõi Diêm phù đề (Jambudipa) và [cưỡi trên] Voi Châu Báu và quay trở về trước bữa ăn sáng ngay chính thủ đô hoàng gia của ngài. Và tiếp theo sau đó là Ngựa Châu Báu xuất hiện, trắng tinh tuyền, với bốn móng đánh bóng láng, đầu đen nhánh và bờm có màu cỏ mūnjo, và ngựa xuất thân từ nòi giống ngựa hoàng gia có tên là Valāhaka. Những chi tiết còn lại giống như trường hợp Voi Châu Báu. Tiếp theo ngựa châu báu đó,[173] phải kể đến Ngọc Châu Báu cũng xuất hiện. Đó là một hòn lục ngọc, có nước sáng tinh tuyền nhất, với tám mặt, được cắt vô cùng điêu luỵên. Và Ngọc Báu có kích cỡ bằng với chiếc trục Bảo luân xa. Ngọc có xuất xứ từ mõm đá Vepulla. Khi viên Ngọc Châu Báu đạt quá tiêu chuẩn hoàng gia. Nó tỏa sáng ra xa cả hàng dậm ngay cả khi trời tối với bốn cách tỏa sáng, và do ánh sáng rực rỡ viên ngọc Châu Báu tỏa ra, chúng sanh cứ tưởng là ánh sáng ban ngày và bắt đầu công việc làm ăn của mình; và họ có thể nhìn sâu xuống đến cả mỗi con kiến nhỏ tí. Tiếp theo sau đó xuất hiện Phụ nữ Châu báu. Cứ sự thường nàng là hoàng hậu nhiếp chính. Và nàng thường xuất thân từ Bắc cưu lưu châu hay hoàng tộc Maddarāja. Nàng thoát khỏi sáu nhược điểm bắt đầu với chiều cao không quá khổ. (Trung Bộ Kinh iii. 174-5); nàng vượt qua hết mọi hình dáng con người nhưng lại không đạt đến được hình dáng chư thiên.; đối với nhà vua thì các chi của nàng ấm áp khi trời lạnh vào mùa đông và lại mát vào mùa hạ, đang khi đó sự đụng chạm của nàng thì êm ái như bông đã được nện đến cả trăm lần; từ thân thể của nàng luôn tỏa ra một hương kệm ngào ngạt của loại gỗ giáng hương và từ miệng nàng toát ra hương sen thoang thoảng, và nàng còn chứng đắc được nhiều phẩm chất tuyệt hảo bắt đầu với việc thức dậy trước khi [Chuyển Luân Vương] thức giấc. Tiếp theo sau đó xuất hiện Người Hầu Châu Báu, cậu ta thường là một chủ ngân khố trong công việc phục vụ hoàng gia; nơi người đó thì mắt thần đã tỏ hiện khi Bảo luân xa xuất hiện, nhờ đó cậu ta thấy rõ những kho báu dấu kín. Có chủ hoặc vô chủ trong vòng một trăm dậm xung quanh. Cậu ta tiến lại gần nhà vua và dâng cúng cho Ngài, người hầu hạ nói rằng: Tâu bệ hạ. Bệ hạ có thể không hành động gì cả; thần sẽ làm điều gì phải làm với số tiền đó. Rồi tiếp theo sau lại xuất hiện người Cố Vấn Châu báu, người này thường là con trai cả của nhà vua. Là người có được phẩm chất hiểu biết đặc biệt ngay khi Bảo luân xa xuất hiện bằng cách thấu triệt được với tâm của mình và những tâm của cả một hội chúng cách xa hàng mười hai dặm, người đó có khả năng kiềm chế hoặc khuấy động chúng lên; người đó tiến lại gần đức vua và dâng ngài chiến lược như sau, “Tâu bệ hạ, ngài có thể không hành động gì cả. thần có thể chỉ bảo cho toàn bộ quyền hành của bệ hạ được mà”. Giờ đây với châu báu này hay với bất kỳ một châu báu nào được xác định theo kiểu không thể lượng định giá được, theo đó chẳng có giá trị nào được định do ước lượng hay bằng cách phân xử đáng giá vào khoảng một trăm ngàn hay là mười ngàn, thì chẳng có châu báu nào trong số những châu báu đó có thể sánh bằng với Phật Bảo. [174] Nếu như một châu báu lại được định giá bằng ước lượng vô giá, thì chỉ có một vị Như Lai Thiện Thệ mới thực sự là một châu báu mà thôi.; vì vị Như Lai Thiện Thệ không thể được phân định ranh giới bằng bất kỳ người nào đang thực sự [cố gắng] lượng định và phân xử Ngài liên quan đến việc giới hạnh, thiền định hay liên quan đến bất kỳ người nào trong số những gì bắt đầu với trí tuệ như vậy, kẻ nào chính xác có nhiều ân đức đặc biệt, so với Ngài, đều chỉ là một bản sao chép với Ngài mà thôi. Chính vì thế mà chẳng có bất kỳ châu báu nào được sánh ngang bằng với một vị Như Lai Thiện Thệ hiểu theo nghĩa đánh giá ước lượng là vô giá. 34. (4) cũng giống như bất kỳ châu báu nào [có thể được xác định] theo ý nghĩa do rất hiếm khi thấy được. Thí dụ như: bất kể ít khi có sự xuất hiện một Chuyển Luân Vương và [bảy] châu báu của Ngài thì ngay cả một châu báu như vậy cũng chẳng bao giờ sánh bằng với Phật Bảo. Nếu như một châu báu được xác định theo nghĩa hiếm khi thấy được thì chỉ có một mình vị Như Lai Thiện Thệ và điều còn lại mới [thực sự] được coi như là một châu báu. Tuy nhiên bằng cách nào một vị Chuyển Luân Vương và điều còn lại được coi như là một châu báu một khi có quá nhiều vị nổi lên chỉ trong một đại kiếp? Nhưng thế gian này có thể vắng bóng một vị Như Lai Thiện Thệ đến hàng Vô Số Lượng đại kiếp, chính vì thế mà tại sao vì chỉ có một vị duy nhất thỉnh thoảng mới xuất hiện. Thế nên một vị Như Lai Thiện Thệ thực sự rất hiếm khi được nhìn thấy. Và chính Đức Phật đã nói về vấn đề này vào dịp Ngài tịch diệt rằng: hỡi Ananda, các vị Chư Thiên đang phản đối rằng: “ thực sự chúng ta khó có thể gặp được một vị Như Lai Thiện Thệ. [Chỉ duy nhất] thỉnh thoảng mới có một vị Như Lai Thiện Thệ xuất hiện trên thế gian này. Bậc Alahán và Chánh Đẳng Giác. Kể từ tối nay cho đến sáng sẽ diễn ra vô dư Níp Bàn của một vị Như Lai Thiện Thệ. Và vị Tỳ Khưu lỗi lạc này sẽ đứng ngay trên đầu của Đức Phật, che dấu Ngài cho đến giây phút chót, chúng ta cũng chẳng có thể được nhìn tận mắt vị Như Lai Thiện Thệ đó hiểu theo nghĩa rất hiếm khi được chứng kiến. 35. (5) Cũng giống vậy bất kỳ châu báu nào [có thể được xác định] theo nghĩa chỉ được một chúng sanh tuyệt vời sử dụng mà thôi .Thí dụ như: Bảo luân xa của vị Chuyển Luân Vương và điều gì đại loại như vậy. Loại Châu Báu đó không được tạo ra dành cho những hạng hạ cấp sử dụng, ngay cả trong mơ nữa, như thể những hạng người bị xã hội ruồng bỏ, những người làm đồ liễu gai, người kệ săn, những người kệ đóng xe ngựa và những người thu gom rác, vì tất cả những người này cho dù có tích lũy được tài sản lên đến cả trăm ngàn kotis và sống trong những tòa lâu đài bảy tầng. [175]. Nó chỉ được tạo ra cho vị vua thuộc đẳng cấp Sát Đế Lỵ sử dụng, thuộc dòng dõi gia đình quí tộc cả hai họ,là những người đã thực hiện trọn vẹn mười bổn phận của một Chuyển Luân Vương. Nhưng ngay cả một châu báu thuộc loại như vậy thì cũng chẳng bao giờ được sánh bằng với Phật Bảo. Giả như một châu báu được xác định được theo nghĩa chỉ dành cho những chúng sanh Thượng đẳng sử dụng thì chỉ có một mình Đức Như Lai Thiện Thệ mới thật sự là một châu báu mà thôi, vì vị Như Lai Thiện Thệ không phải để sử dụng, ngay cả trong mơ đi nữa, đối với sáu ngoại đạo sư bắt đầu với Purāṇa, Kassapa và những người khác giống như họ, cho dù ai trong họ có thể được danh vọng trong thế gian là chúng sanh tuyệt vời, thì cũng chưa được coi như là hoàn hảo trên cở sở giác ngộ và cách quan sát của họ vẫn có thể trở nên lệch lạc. Tuy nhiên, ngài được dành cho các vị như thể Bāhiya Dārucīriya (Ud, 6-8) v.v...sử dụng và các vị đệ tử vĩ đại khác xuất thân từ các gia tộc vĩ đại, là những người đã đạt đến hoàn hảo trên cơ sở (đạt đến giác ngộ) và có khả năng đạt đến bậc A-la-hán vào cuối một đoạn kệ bốn dòng. Và tri kiến của các Ngài có khả năng thâm nhập được [Tứ Thánh Đế] vì họ đã biết tận dụng ngay cách này hay cách khác bằng cách hoàn tất được những điều không thể vượt qua bằng thấy, nghe, phục vụ và những điều còn lại. (D. iii. 250) Chính vì lý do đó mà chẳng có Châu báu nào có thể sánh bằng vị Như Lai Thiện Thệ hiểu theo nghĩa được sử dụng do các chúng sanh cao cấp. 36. Cũng như bất kỳ châu báu nào, không phân biệt là một châu báu (ratana) hiểu theo nghĩa tạo ra cảnh hạnh phúc. (Ratijana)14 Thí dụ như: Một vị vua cảm thấy phấn chấn ngay khi ngài nhìn thấy Bảo luân xa của vị Chuyển Luân Vương và như vậy Bảo luân xa đó đã tạo ra cảnh hạnh phúc sung sướng (sảng khoái) nơi ngài. Còn nữa một Chuyển Luân Vương tay trái cầm một chiếc bình bằng vàng và tay phải ngài rải Chuyển Luân Châu báu, [nói rằng,] “ hãy lăn ra ngoài đi, ôi Bảo luân xa tốt lành; hãy chiến thắng, ôi Bảo luân xa tốt lành”. (D. iii. 62; M. iii. 172). Sau đó Bảo luân xa di chuyển về hướng đông trên không trung phát ra một tiếng ngọt ngào như tiếng nhạc ngũ cung. [178] và theo sau, di chuyển do chính sức mạnh của mình, là vị Chuyển Luân Vương với bốn đạo binh của ngài [gồm có tượng binh, kỵ binh, chiến xa và bộ binh] dàn trận rộng khoảng mười hai dặm. Chuyển luân vương di chuyển không quá cao mà cũng không quá thấp ngay trên đỉnh những ngọn cây thấp, nhận lấy lễ vật từ tay của những [trong đoàn tùy tùng] mang theo của lễ là hoa, trái cây, lá cây.v.v...[hái từ] những cây ngay trên đường [đi ngang qua] [23] và [trên đường đi] ngài đã chỉ dạy cho các vị hoàng đế địa phương, đã đến để tuyên xưng lòng trung thành thuần phục sâu đậm của mình với Chuyển luân vương như sau: “ xin hãy đến, hỡi vị đại vương” v.v...ngài bảo cho họ biết, “ chớ sát sanh những sinh vật có hơi kệ” v.v...Nhưng bất kỳ nơi nào nhà vua ước ao được ăn và nghỉ một chút trong ngày hôm đó, thì nơi đó Bảo luân xa liền hạ xuống ngay trên không và dừng lại như một chiếc trục xe được hãm lại trên một miếng đất bằng phẳng và cung cấp cho ngài đủ mọi phương tiện bắt đầu với nước [dành cho nghi thức tẩy uế]. Đến khi nào được nhà vua khuyến cáo để lên đường, thì Bảo luân xa di chuyển trước phát ra tiếng động, và ngay khi đoàn quân trải rộng khắp mười hai dậm nghe thấy tiếng động đó cũng bay lên không trung, cuối cùng thì Bảo luân xa hạ xuống đại dương phía đông, và sau khi thực hiện điều đó, nước đại dương liền tách ra làm hai với khoảng rộng độ một dậm và dựng đứng giống như một bức tường nước. Đám đông thi nhau lượm đủ bảy loại châu báu tùy theo sở thích. Thế rồi khi nhà vua cầm chiếc bình vàng lên tuyên bố rằng: “Chớ gì Vương quốc của trẫm trải dài đến vô tận, và đồng thời lại rẩy nước xuống Bảo luân xa, nó lại quay trở lại. Giờ đây đạo binh của nhà vua di chuyển phía trước, còn Bảo luân xa theo sau, và nhà vua đứng ở giữa. Nước đại dương trở lại như cũ ở mỗi vị trí đáy đại dương khi Bảo luân xa đi ngang qua khỏi. Cùng một cách như vậy Bảo luân xa đã di chuyển cũng đã di chuyển xuống đại dương phía nam, phía tây và phía bắc. Khi Bảo luân xa đã quay đủ bốn phương như vậy, Bảo luân xa liền bay lên không trung đến độ cao vào khoảng [một trăm dậm]; nhà vua dừng lại trên đó và quan sát chung quanh như thể một đầm sen trắng đang nở rộ [24] toàn bộ ta bà được trang điểm cũng như vậy, toàn bộ bốn đại lục và hai ngàn hòn đảo nhỏ hơn, có nghĩa là đại lục Pubbavideha Đông thắng thần châu [ở phía đông] rộng khoảng bảy ngàn dậm, đại lục Aparagoyan Tây ngưu hóa châu [ở hướng Tây] [177] rộng khoảng tám ngàn dậm, đại lục Uttarakuru Bắc cưu lưu châu [ở phía bắc] rộng khoảng bảy ngàn dậm, và Jambudipa Nam thiện bộ châu [ở phía nam] rộng khoảng mười ngàn dậm. Mỗi đại lục lại gồm hơn năm ngàn đảo nhỏ mà nhờ sức mạnh của Bảo luân xa ,nhà vua đã chinh phục được. Và khi ngài còn đang quan sát khắp chung quanh như vậy, thì niềm [sung sướng hạnh phúc bao la] không nhỏ trào dâng nơi ngài, và chính vì thế Bảo luân xa (cakkaratana) đã là người tạo ra niềm vui sảng khoái (ratim jameti) cho nhà vua. Nhưng ngay cả một Bảo luân xa như vậy cũng không bao giờ có thể sánh bằng Phật Bảo.Nếu như một Bảo luân xa được [xác định] theo nghĩa tạo ra được niềm sảng khoái (tạo ra lợi ích) thế thì chỉ có một vị Như Lai Thiện Thệ mới thực sự là một Châu Báu. Làm thế nào một Bảo luân xa có thể so sánh đựơc với Châu báu đó? Đối với niềm vui sảng khoái của Chuyển luân Vương ngay cả khi được tạo ra do toàn thể các châu báu bắt đầu với Bảo luân xa, không kể đến những gì phụ thuộc bên ngoài. Cũng không thể sánh bằng một phần nhỏ nơi bất kỳ loại hạnh phúc sảng khoái thiên đường nào. và một vị Như Lai Thiện Thệ tạo ra được niềm sảng khoái còn cao quý hơn, thượng hạng hơn, ngay cả niềm hạnh phúc đó.[vì] nơi vô vàn vô số các Chư Thiên lẫn nhân loại là những người thực hiện lời giảng dạy của ngài thì ngài sẽ tạo ra cho niềm hạnh phúc sảng khoái ở bậc thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm. Một niềm hạnh phúc như không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Niềm hạnh phúc của Nhập Lưu Thánh Đạo. Niềm vui hạnh phúc của quả Nhập Lưu. Và niềm hạnh phúc của các Thánh đạo và Thánh quả của bậc Nhất Lai, bậc Bất Lai và bậc A-la-hán. Chính vì thế mà chẳng có bất kỳ châu báu nào sánh bằng một vị Như Lai Thiện Thệ hiểu theo nghĩa tạo ra được cảnh sung sướng (tạo ra được hạnh phúc.) 37. Hơn thế nữa, châu báu này lại có hai loại: châu báu tâm thức và châu báu vô tâm thức. Về điểm này, loại châu báu vô tâm thức chính là Bảo luân xa, Ngọc Châu Báu hay loại nào khác không bị các mạng căn ràng buộc như vàng, bạc v.v...Loại Châu Báu có tâm thức là những loại bắt đầu với Tượng Châu Báu, và kết thúc với Cố Vấn Châu Báu, hay bất kỳ loại nào được các mạng căn ràng buộc, và trong hai loại Châu Báu đó thì loại Châu Báu tâm thức được coi như là loại tuyệt hảo nhất. Tại sao vậy? vì những thứ châu báu nào không có tâm thức như vàng, bạc. Pha lê, ngọc ngà đá quí v.v...chỉ dùng để trang điểm cho châu báu nào cótâm thức mà thôi; bắt đầu với tượng Châu báu. 38. Châu báu có tâm thức cũng lại có hai loại đó là súc sanh và nhân loại. Ở đây châu báu nhân loại được coi như là tuyệt vời nhất. Tại sao vậy? vì châu báu súc sanh chỉ được dùng làm phương tiện chuyên chở [178] cho châu báu nhân loại mà thôi. 39. Châu báu nhân loại cũng có hai loại đó là châu báu đàn ông và châu báu phụ nữ. Về điểm này thì Châu báu nam được coi là tuyệt hảo. Tại sao vậy? vì châu báu nữ giới chỉ nhằm phục vụ cho châu báu nam giới mà thôi. 40. Châu báu nam giới cũng có hai loại, châu báu nam sống ở gia đình và châu báu nam thực hiện cuộc sống vô gia cư. Về điểm này, thì châu báu vô gia cư thuộc loại hảo hạng. Tại sao vậy? Vì cho dù một Chuyển luân vương là tuyệt hảo nhất nơi châu báu sống cuộc đời gia cư, tuy nhiên do hành vi kính lễ với năm cách phủ phục (Ch. v. n. 96) trước châu báu vô gia cư. Là người được phú cho những phẩm chất giới hạnh, v.v... và nhờ việc ngài phục vụ ngài như vậy [cuối cùng] ngài đã đạt đến điểm tuyệt hảo cả thiên đường lẫn nhân loại cho đến cuối cùng thì lại đạt đến điểm tuyệt hảo tịch diệt nữa. 41. Châu báu vô gia cư (xuất gia) cũng gồm hai loại đó là Bậc Thánh nhân và Phàm nhân. Và Châu Báu Bậc Thánh nhân cũng có hai loại đó là hữu học và vô học. Và vô học cũng chia thành hai loại như người thuần lạc quán và người có thừa [25] an tịnh. Người thừa an tịnh cũng có hai loại đạt đến thập toàn thinh văn và không phải thập toàn thinh văn. Ơ đây ai đạt đến thập toàn thinh văn đựơc coi là tuyệt nhất. Tại sao vậy? là do đặc tính vĩ đại của các ân đức người đó có được. 42. Cũng vậy một vị Phật Độc Giác. Được coi là người tuyệt vời nhất khi so sánh với những ai đã đạt đến thập toàn thinh văn. Tại sao vậy? Vì đặc tính vĩ đại nơi những ân đức của ngài cho dù cả vị thinh văn như Xá Lợi Phất (Sariputta), Mục Kiền Liên (Moggallāna) cũng không thể so sánh với một phần trăm ân đức của một Vị Phật Độc Giác. Vì ngay cả toàn bộ các vị Phật Độc Giác đang ngồi thiền trên toàn cõi Jambudipa [toàn bộ họ] ngồi thiền đầu gối chạm nhau trong tư thế xếp bằng. Ngay cả nhiều đến như vậy cũng chưa sánh bằng hay chỉ một phần nhỏ, so với các ân đức đặc biệt của vị Phật Toàn Giác và điều này do chính Đức Phật nói ra rằng: “Hỡi các vị Tỳ Khưu, cho dù ta gộp lại toàn bộ chúng sanh không chân cho tới hai chân hay...vị Như Lai Thiện Thệ vẫn được coi như là hoàn thiện nhất nơi họ.’ (A ii. 34) v.v... 43. Cũng vậy một vị Phật Toàn Giác được xem là tối thượng nhất trong việc so sánh với một vị Phật Độc Giác. Tại sao vậy? Vì những ân đức vĩ đại của Ngài 44. Như vậy chẳng có châu báu nào có thể sánh bằng với vị Như Lai Thiện Thệ dưới bất kỳ hình thức nào hết thảy. Chính vì thế Đức Thế Tôn có nói rằng Chẳng có người nào có thể sánh bằng [179] với vị Như Lai Thiện Thệ. [Kệ Cầu Khẩn.] [Idam pi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ etena saccena suvatthi hotu] 45. Khi Đức Phật đã khẳng định như vậy làm sao Phật Bảo chẳng có gì sánh bằng. Giờ đây để xua tan những dịch bệnh cho các chúng sanh đã nổi lên đó, ngài cầu khẩn bằng việc thốt ra chân ngôn, cụ thể như sau: “Châu báu này hiếm thấy nơi Đấng Tự Giác Ngộ: Chính vì thế do chân ngôn này sẽ đem lại an toàn.” Lời chân ngôn này khẳng định mục đích hỗ trợ cho chúng sanh, chủng tộc khởi xuất. Nhưng ngược lại, đã đem lại hỗ trợ cho chính điều không có gì sánh bằng với Phật Bảo ngay trên thế gian này bắt đầu với địa ngục A tỳ Avici [vô gián] và kết thúc với tột đỉnh hiện hữu, [cụ thể là bao gồm phi tưởng phi phi tưởng xứ.] Cũng không có gì sánh nổi, có nghĩa là trong những ân đức đặc biệt như giới uẩn, [định, tuệ, giải thoát và tri kiến giải thoát. (xin đọc thêm D. iii. 279) 46. Ý nghĩa những điều trên như sau. Phàm trên cõi đời này (idam pi) vì đặc tính không gì sánh bằng nơi những ân đức đặc biệt [đã nói đến ở trên] nơi bất kỳ điều gì quí giá hay châu báu thuộc bất kỳ loại nào hoặc trên cõi đời này hay tại cõi đời xa hay tại cõi thiên giới – có châu báu thù thắng nơi vị Như Lai Thiện Thệ (buddhe ratanaṃ paṇītaṃ) chính vì thế nếu điều này là có thực, thì nhờ chân đế này (etena saccena) chớ gì các chúng sanh có hơi kệ được an tịnh (sotthi hotu) chớ gì luôn có được những gì mang lại vẻ vang cho họ. (sobhaṇānaṃ aṭṭhitā) đó là thoát khỏi tai họa. 47. Giờ đây chính trong các đoạn như, “ Hỡi Ananda, con mắt chẳng có bản ngã cũng chẳng có điều chi thuộc bản ngã cả.” (S. iv. 54) Ý nghĩa ở đây là “[thiếu] bản ngã tính hay những gì thuộc bản ngã đó.” Bằng không [26] chẳng vì con mắt bị loại [27] ra không thuộc ngã hay chẳng phải điều gì thuộc về ngã cả. Chính vì vậy ta phải hiểu rằng cách diễn tả châu báu này thật hiếm thấy có nghĩa là bản chất châu báu đó thật hiếm, đặc tính châu báu đó cũng khó lòng kiếm được, bằng không ta không thể thiết lập cho rằng Đấng Giác Ngộ [nơi ngài] là có một châu báu có đặc tính một châu báu cũng là một châu báu. Nhưng trong đó mang ý nghĩa được ngưỡng mộ, v.v... (§§ 31 tt.) được gọi là “bản chất châu báu.” Liên quan cách này cách khác được thiết lập là một châu báu, do có đặc tính châu báu hiện hữu trong đó. [28] Hay nói cách khác, ý nghĩa các từ châu báu này...nơi vị Như Lai Thiện Thệ (idam pi buddhe ratanam.) có thể hiểu vì lý do này cho nên Đấng Giác Ngộ chính là một Châu Báu vậy. 48. Ngay sau khi Đức Phật thốt lên đoạn kệ này thì phước báu được ban xuống trên toàn bộ các hoàng gia và mọi tai nạn được lắng xuống, và mệnh lệnh trong đoạn kệ này cũng đã được mọi chúng sanh phi nhân tuân thủ nơi khắp các cõi Thập Vạn Đại Thiên Ta Bà Thế Giới. [Đoạn Kệ 4 – Pháp Níp-bàn]
[Khayam virāgam amatam panītam yad ajjhagā
sakyamunī
Đoạn diệt và ly tham, bất tử và thù diệu 49. [180] Sau khi đã diễn tả Chánh Pháp theo cách này thông qua những ân đức đặc biệt của vị Như Lai Thiện Thệ. Giờ đây Ngài bắt đầu diễn tả Chánh pháp đó với các từ như: đoạn diệt, ly tham, thực hiện điều này thông qua Pháp Tịch Diệt (Níp-bàn). 50. Về điểm này, vì tham dục, v.v...đã đoạn diệt đi (bị cạn kiệt) phai tàn đi hoàn toàn, với thực chứng tịch diệt và vì điều đó được tách ra khỏi tham dục như một cách tịch diệt không khởi sanh [29] và vì điều đó đã được tách ra khỏi tham dục. v.v.. vừa liên kết cả [chủ quan] lẫn khách quan, hoặc giả vì lý do, khi điều đó được thực chứng thì tham dục bị phai tàn đi, bị quét sạch đi, bị loại bỏ hoàn toàn. Chính vì thế chân đế tịch diệt đó được gọi là đoạn diệt (khayam- sự cạn kiệt) và ly tham (virāyam). Thế rồi trong trường hợp này, không sanh là hiển nhiên cả.[không diệt là điều hiển nhiên cả] chẳng có điều khác biệt nào [30] hơn là điều hiện hữu được coi là [điều hiển nhiên]’ (A. i. 152). Vì thế cho nên, coi đó như là điều gì “ không sanh ra hay không già đi hoặc không chết đi ”. Điều này ta gọi là Bất Tử (amatam), và đây cũng là điều ta gọi là hiếm thấy nhất (panītam) hiểu theo nghĩa uy thế tối cao, hiểu theo nghĩa bao la vô số kể. 51. Như vậy...thấy được (yad ajjhagā): điều (yam) Ngài thấy được (nghĩa đen là bắt gặp),chứng nghiệm được, đạt được, thực chứng được, với sức mạnh chính trí lực của ngài. Nhà hiền triết Thích Ca (sakyamuni) Đức Thích Ca: Thích Ca vì ngài đến từ hoàng tộc Thích Ca, vị hiền triết (muni) vì ngài có được Pháp tĩnh lặng (moneyya – xin đọc Sn 70 tt) chính người Thích Ca là một vị hiền triết thế nên ta có “vị hiền triết Thích Ca” (sakyo eva muni= sakyamuni - thay thế hai âm ngắn thành một từ ghép).Trong thiền định bằng tâm định đó chính ý nghĩa của chánh định là một chi của Thánh Đạo. 52. Chánh Pháp thù diệu ấy không có gì sánh bằng (na tena dhammena sam’atthi kiñca): Chánh Pháp đó, mang những tên khác nhau như đoạn diệt, v.v...và đã được Đức Thích Ca đạt được, chẳng có loại pháp nào có thể sánh bằng; chính vì thế người ta kể lại tiếp theo sau trong Kinh [được trích trong § 43]: “Hỡi các vị tỳ khưu, vì có nhiều Pháp, cho dù hữu vi hay vô vi, ly tham được coi như là Pháp tối thượng nhất trong số các pháp đó” (A. ii. 34), v.v... [Điệp Khúc Cầu Khẩn.] 53. Khi Đức Thế Tôn đã khẳng định như, làm thế nào tịch diệt (Níp-bàn) là Chánh Pháp không có gì sánh bằng các pháp khác. Giờ đây để có thể xua tan những tai họa xảy đến cho các chúng sanh đó, Ngài đã cầu khẩn bằng lời chân ngôn, cụ thể là. Châu Báu hiếm thấy nhất này lại nằm trong Chánh Pháp, chính vì thế nhờ Chánh Pháp đó mà mọi người được an toàn. Lời chân ngôn giúp hỗ trợ tịch diệt là Chánh pháp không gì sánh bằng, đặc tính không gì sánh bằng đó chỉ thấy xuất hiện nơi những ân đức đặc biệt như: đoạn diệt, ly tham, bất tử và hiếm có. 54, Ý nghĩa đoạn kệ này cũng cần được hiểu giống như ý nghĩa trong đoạn kệ tiếp theo sau đây (§§ 45tt). Và mọi chúng sanh phi nhân trên khắp Thập Vạn Đại Thiên Ta Bà Thế Giới đều tuân giữ mệnh lệnh đưa ra trong đoạn kệ này. [Đoạn kệ 5 – Chánh Pháp Tứ Đạo và Tứ Quả]
[Yam buddhaseṭṭha parivannayi vucim samādhim
ānanttarikañ ñam āku.
Phật, Thế Tôn thù thắng, nói lên lời tán thán. 55. Sau khi diễn đạt Chánh Pháp theo cách lấy những ân đức đặc biệt nơi Chánh Pháp được coi như Pháp Tịch Dịêt. Giờ đây ngài bắt đầu diễn đạt Pháp này với những lời lẽ như sau, “ Đức Phật cao siêu vời vợi, tinh tuyền vô song, đã đưa ra những lời khen ngợi Chánh Pháp bằng những ân đức đặc biệt ta coi đó là Thánh Đạo. 56. Về vấn đề này ngài đã giải thích từ Đấng Giác Ngộ (ĐứcPhật) theo cách bắt đầu như sau. “ Ngài là đấng khám phá ra Chánh Pháp” (xin đọc Ch. I §18), [181] Ngài lại là Đấng Tối Cao (seṭṭha) vì ngài là đấng tối cao và đáng được mọi khen ngợi; Ngài là đấng Giác Ngộ và cao siêu vời vợi. Chính vì thế ngài là vị Phật thù thắng (buddha ca no seṭṭha ca=buddhaseṭṭha – thay thế hai âm ngắn thành một từ ghép). Hay nói cách khác, trong số những người được Giác Ngộ trên thế gian này (anubuddha) [31]do người khác và đấng [Tự Giác ngộ] Phật Độc Giác (paccekabuddha), lại được gọi là Các vị Giác Ngộ (Vị Phật) (buddha), Ngài là đấng cao siêu tối thượng. Chính vì thế Ngài là vị Phật, Tối Cao. Như vậy...đã đưa lời khen ngợi (yam...parivaṇṇayi): như điều Đức Thế Tôn tối cao đã khen ngợi và giải thích dẫn giải bằng nhiều ví dụ điển hình khác nhau theo cách như sau, “ Bát Chánh Đạo lại là những chánh đạo tuyệt hảo nhất. Vì chánh đạo này dẫn ta đến bất tử một cách an toàn” (M.i-508 và “ này các vị Tỳ Khưu, ta sẽ thuyết giảng cho các thầy Thánh chánh định cùng với sự hỗ trợ và dụng cụ cần thiết [của nó] (M. iii. 71). Tinh tuyền (sucim): hoàn toàn tinh sạch do đoạn tuyệt được với mọi vết nhơ phiền não. 57. Gọi pháp đó là Thánh định đem lại kết quả liên tục (samādhim ānantarikañ ñam āhu): và Ngài gọi Pháp đó là Pháp thiền vi diệu tạo kết quả liên tục vì pháp đó chắc chắn tạo kết quả ngay lập tức tiếp ngay sau khi khởi sanh; vì khi định Thánh đạo đã khởi sanh, chẳng còn trở ngại bất luận thuộc loại nào có thể cản ngăn pháp đó đem lại kết quả. Do vậy có lời nói rằng: Và nếu như con người đã nhập Thánh đạo thực chứng Thánh quả Nhập Lưu cho dù đó là thời điểm kéo dài hàng đại kiếp bị lửa thiêu đốt, vẫn còn hàng đại kiếp không có lửa thiêu rụi cho đến khi người đó chứng thực Thánh quả Nhập Lưu. Ta gọi hạng người này là những người nắm vững đại kiếp (?) và tất cả những ai đạt được Thánh đạo này ta gọi là những người nắm vững đại kiếp (?) (Pug. 13-4). 58. Không gì sánh bằng được thiền định như vậy (samādhina tena samo na vijjati): với đặc tính tinh tuyền đến như vậy như Đức Thế Tôn đã phải tán dương khen ngợi là cao siêu tuyệt vời như là “ thiền định đem lại qủa liên tục” chẳng có loại thiền định nào nơi cõi sắc giới cũng như nơi cõi vô sắc giới có thể sánh kịp. Tại sao vậy? Vì ngay cả nếu như có ai đó được tái sanh bất kỳ nơi cõi nào hoặc nơi Cõi Đại Phạm Thiên chẳng hạn do chuyên tâm thực hiện và tu tập những [loại thiền định hiệp thế] như vậy. Điều đó vẫn hàm chứa khả năng phải tái sanh trở lại [rất có thể] nơi địa ngục, v.v...vì nếu hạng người này một khi đã trở nên Thánh quả do tu tiến chánh định siêu thế của một vị A-la-hán, điều đó ám chỉ rằng người đó đã loại bỏ được hết mọi tái sanh. Chính vì thế đã có lời nói tiếp ngay sau đó trong Kinh [được trích trong § 52] như sau, “ Hỡi các vị Tỳ Khưu, đến một chừng mực nào đó [182] vẫn còn tồn tại Pháp hữu vi thì Bát Thánh Đạo vẫn được coi như cao thượng nhất trong toàn bộ các pháp đó”. (A.ii. 34) v.v... 59. Khi Đức Phật đã khẳng định như vậy cho thấy thiền định tạo kết quả liên tục này chẳng có pháp nào sánh bằng, giờ đây, theo cách đã được khẳng định ở trên (§§45, 53), Ngài đã tuyên bố bằng lời chân ngôn cụ thể như sau. Chánh Pháp này thật khôn ví....nơi Chánh Pháp khác (idam pi dhamme), đã đem lại hỗ trợ khôn ví cho Thánh đạo được coi như là Chánh Pháp (tịch diệt). 60. Chúng ta nên hiểu ý nghĩa [chánh pháp này] theo cách đã được khẳng định ở |