BuddhaSasana
Home Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode
Times font
Dhammapada
Sutta
(Khuddaka Nikaya - Sutta Pitaka)
A . DẪN NHẬP
Kinh PHÁP CÚ là một bộ Kinh rất xưa, được xem là kinh Lời Vàng cho những ai có chí nguyện tu tâm, dưỡng tánh để tiến thân trên lộ trình hành đạo giải thoát. Từ lâu kinh Pháp Cú đã trở nên quen thuộc với Tăng Ni và Phật Tử Việt Nam ngay những câu mang tính ca dao, dân ca làm cho mọi người dễ đọc, dễ nghe, dễ học, dễ hiểu v.v...dần dần có sự ăn sâu, bám rễ vào lòng Dân Tộc, góp phần không nhỏ trong việc xây dựng, nâng cao phẩm giá con người. Từ đó những đóa hoa đạo đức-trí huệ của Phật Giáo vốn có sắc và hương thơm ngát lại là người bạn cố tri luôn đem đến nguồn cảm hứng, an ủi, nâng đỡ, hộ trì và cải thiện đời sống tâm linh trong những bước thăng trầm của cuộc sống. Trong suốt 45 năm thuyết giảng giáo pháp, Đức Phật đã dùng vô số phương pháp để hóa độ chúng sanh. Những phương pháp ấy đều có chứa những bài kệ ngắn gọn, hàm xúc, thú vị, tinh túy, hữu ích và đúng theo chân lý. Đó chính là những câu Pháp Cú nằm tản mát trong Kinh- Luật- Luận thuộc Nam Truyền và Bắc Truyền. Do vậy, sau khi Đức Phật nhập Vô Dư Niết Bàn thì kinh Pháp Cú trở thành áng văn bất hủ cho cả hai giới Tại Gia và Xuất Gia.
Chính sự lan truyền rộng rãi của kinh Pháp Cú nên dần dần dễ dẫn tới việc sai khác về ngôn từ và ý nghĩa của kinh so với nguyên bản. Vì thế, khi mới xuất gia học đạo liền bắt gặp trong quyển "Sa Di Luật Giải" của Hòa Thượng Hành Trụ, phần Qui Sơn Cảnh Sách, trang 497 có đoạn viết:
"Đức Như Lai diệt độ chưa bao lâu, có một ông Tỳ Kheo, lầm tụng bài kệ trong kinh Pháp Cú: "Nếu người sống trăm tuổi, chẳng thấy con Hạc già dưới nước, chẳng bằng sống một ngày mà đặng thấy rõ đó" khi ấy ngài A Nan Tôn giả nghe rồi nguôi thản than rằng: "Chánh Pháp Như Lai sao mà diệt mau lắm vậy!" Rồi nói với Thầy Tỳ Kheo kia rằng: Thưa Huynh! Đức Phật, Ngài nói: "Nếu người sống trăm tuổi chẳng thấy sanh diệt, chẳng bằng sống một ngày mà thấy rõ đó". Ông Tỷ Kheo ấy bấy giờ trở về thuật lại với Bổn sư, sư nói: "Ơi! Ông A Nan già cả, nói hay lầm lộn không nên tin vậy. Ngươi cứ về tụng như trước đi."
Ôi! Xét như xưa đời chánh pháp hãy còn lầm lộn như thế đó. Huống đời bây giờ cách Phật đã xa, không gần Thầy hay Bạn giỏi, làm sao nói ra cho nhằm Kinh Luật ấy ư?"
Qua đoạn trích trên, người viết nhận thấy nguyên nhân có sự nhầm lẫn giữa chữ "sanh diệt" với "hạc già" là xuất phát từ sự truyền khẩu của kinh, truyền từ người này qua người nọ nên dẫn đến sự sai khác. Như theo bản PàLi câu 113 trong Phẩm Ngàn, tức là câu 14 của bản phụ lục ở phía sau cho biết: "Yo ca vassa- satam jìve apassam udaya – vyayam" (Ai sống một trăm năm mà không thấy sanh tử). Và theo bản Prakrit câu 317 cho thấy: "Ya ji vasa – s ado jivì apas u udaka - vaya". (Ai sống một trăm năm mà không thấy sanh tử). Do lẫn lộn chữ "Udaka-vaya" dịch là "Sanh tử" đọc nhầm thành "Udaka-bakam" dịch là "Hạc nước". Sự đọc nhầm này cũng do một phần sau khi Đức Phật nhập diệt, phần đông các vị Tổ về sau đều là gốc Bà La Môn nên họ cứ tin tưởng và chấp chặt vào ngôn ngữ của mình, không để ý đến nghĩa của chữ dẫn đến sự nhầm lẫn như thế.
Và Thầy Lê Mạnh Thát cũng có bàn về vấn đề này trong quyển Tư Tưởng "Thử bàn về một phương pháp phê bình văn học", bộ IV, số 2 (1971), tr 101-112; số 3 (1971), tr 127 – 134; số 6 (1971), tr 85- 106. Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh – Sài Gòn.
Từ sự nhầm lẫn trên, người viết hằng suy nghĩ : Tất cả Tăng Ni sinh chúng ta đều mong sao tự mỗi cá nhân trước hết phải nhìn nhận đây là vấn đề, là mấu chốt cần phải tìm hiểu và nghiên cứu kỹ trước những kinh sách về Phật giáo thật sự có tính cách lợi ích cho sự hành đạo giải thoát hay không? Có như vậy, chúng ta mới trang bị nền móng vững chắc cho sự hành đạo giải thoát ở chính ngay con người mình. Từ sự nhận định tổng quát như vậy mà các nước trên thế giới đều đã nghiên cứu so sánh Kinh Pháp Cú như S. LéVi, L Apramàdavarga. Etude sur les recensions des-Dharmapada, JAS (xx) 1912, 203-94; và người nghiên cứu The Gàndhàrì by John Brought (London, Oxford University Press, 1962); còn ở Việt Nam nước ta thì chưa thấy ai so sánh kinh Pháp Cú. Đây là lý do người viết chọn đề tài: "Nghiên cứu so sánh văn bản kinh Pháp Cú chữ Hán và chữ Pàli."
Kinh Pháp Cú có tầm quan trọng trong kho tàng Pháp Bảo Phật Giáo, nên được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Hầu hết các ngôn ngữ quan trọng trên thế giới đều có bản dịch kinh Pháp Cú và nhiều tác giả đã xem tập này như một Thánh Thư của Đạo Phật. Riêng tiếng Việt, hiện nay Kinh Pháp Cú có khá nhiều bản như sau:
- Kinh Pháp Cú do H.T Thích Trí Đức dịch từ bản Hán văn của Pháp Sư Liễu Tham (từ bản Pàli sang Hán). Bản này được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1959 và đến nay được tái bản nhiều lần.
- Kinh Pháp Cú do Á Nam Trần Tuấn Khải dịch từ bản Anh-Hán Đối Chiếu Hòa dịch 1963 của soạn giả Thường Ban Đại Định.
- Kinh Pháp Cú do Phạm Kim Khánh dịch từ Pàli-Anh của Đ.Đ Narada người Tích Lan, được xuất bản năm 1971.
- Kinh Pháp Cú do H.T Thích Minh Châu dịch từ bản Pàli, được trường Cao Cấp Phật học Việt Nam ấn hành 1989, nay là Học Viện Phật Giáo Việt Nam.
- Thi Hóa Pháp Cú Kinh do Tịnh Minh dịch từ bản tiếng Anh của Đ.Đ. Narada, 1990.
Hầu hết các văn bản trên đều có nguồn gốc từ bản Tích Lan 26 phẩm 423 bài kệ do các dịch giả dịch từ tiếng Hán, tiếng Pàli, tiếng Anh. Ngoài ra, kinh Pháp Cú còn có nhiều dị bản như:
- Hán dịch Pháp Cú kinh. Bản này do Ngài Pháp Cứu người Ấn ở thế kỷ thứ I trước Công Nguyên tuyển tập, nhóm Ngài Duy Kỳ Nan đời Ngô Tam Quốc dịch sang Hán, được thâu vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. ĐTK 210 tờ 559 a1 – 575 b10.
- Phạn bản Ưu Đà Na phẩm, còn gọi Ô-Đà-Nam Phẩm, theo câu Xá Luận Quang Ký quyển 1 nói cũng do Ngài Pháp Cứu tuyển tập, có Phạn bản lưu hành ở Ấn Độ.
- Tạng dịch Phạn bản Ưu-Đà-Na phẩm với tên là Che-du-brjod-pahi tshoms, nằm trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng.
Kinh Pháp Cú ngoài văn bản và dị bản như đã kể trên, lại có kinh Pháp Cú Thí Dụ với những dị bản như sau:
- Pháp Cú Kinh chú (Dhammapada-tthakathà) của Ngài Phật Âm (Buddha-Ghosa), thế kỷ thứ V viết, bằng văn Pàli.
- Hán dịch Pháp Cú Thí Dụ Kinh (Thuộc ngữ hệ Pàli) cũng chính để giải thích ý nghĩa, nhân duyên truyện tích của kệ Pháp Cú.
- Hán dịch Xuất Diệu Kinh do Ngài Tăng Già Bạt Trừng và Trúc Phật Niệm dịch vào năm 398.
- Tạng dịch Ưu-Đà-Na Phẩm Chú Giải (Che-du-brjod-pahi tshoms-Kyirnam-parthrelpa).
Các bài kệ Pháp Cú Thí Dụ này cũng dịch ra tiếng Việt như:
- Kinh Pháp Cú Thí Dụ, Dịch giả Thích Minh Quang, nhà xuất bản TP. HCM-1994.
- Kinh Pháp Cú Thí Dụ, Dịch giả Thích Thiện Phát, nhà xuất bản TP. HCM-1997.
- Chú Giải Kinh Pháp Cú (Dhammapàdatthakathà). Tác Giả: Bhadantàcàriya Buddhaghosa. Dịch Giả: Trưởng Lão Pháp Minh, nhà xuất bản TP. HCM-1997
- Trích Truyện Pháp Cú, Dịch Giả T.V.Viên Chiếu, nhà xuất bản TP. HCM-2000.
Vì vậy, khi đi vào nghiên cứu so sánh kinh Pháp Cú, người viết thật vô cùng ngần ngại với số văn bản và dị bản khá nhiều. Muốn có cái nhìn nhất quán về lời Phật dạy, người viết quyết chọn hai văn bản có cơ sở: 1) Kinh Pháp Cú - nguyên tạng Pàli do H.T. Thích Minh Châu dịch; 2) Kinh Pháp Cú Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, ĐTK 210 tờ 559 a1-575 b10, để so sánh sự giống nhau và khác nhau như thế nào. Tại sao có sự dị biệt này? Đây là vấn đề mà người viết cần muốn tìm hiểu về giáo lý nguyên thủy để làm ngọn đuốc soi đường dẫn lối cho hành giả đi đến giải thoát, giác ngộ như Đức Phật từng dạy:
Kẻ mất ngủ cho rằng đêm rất dài, người lữ khách mệt mỏi cho rằng đường hãy còn xa thế nào? Thì cũng như thế ấy, kẻ nào chưa tìm được chân lý, hằng phải bị sanh tử luân hồi trong thời gian vô tận." - Dhammapada- kệ số 60
Sự thật, với tinh thần đi tìm một giá trị đích thật về kinh Pháp Cú mà tập tiểu luận này được ra đời. Vả lại, cũng có duyên may được học dưới mái trường Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh, lại được gặp Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát đồng ý hướng dẫn đề tài này, nên có cơ hội để hoàn thành tốt tiểu luận. Với sự rộng lớn của Đề Tài, người viết xin chỉ tập trung một số bài tụng phổ biến nhất trong các phẩm của kinh Pháp Cú.
Mặc dù, nổ lực hết sức mình và cố gắng rất nhiều trong khi viết nhưng không sao tránh khỏi nhiều điều thiếu sót trong việc tìm hiểu và trình bày lời Phật dạy. Kính mong Giáo Sư hướng dẫn cùng Chư Tôn Đức, các bạn đồng học, chư vị thiện tri thức từ bi hoan hỷ chỉ giáo để kiến thức Phật Học được tăng bổ.
Phước Viên Tự, ngày 17/12/2000.
Kính bút
Ni sinh Thích Nữ Nguyệt Chiếu (Nguyên Anh)-ooOoo-
B. SO SÁNH VĂN BẢN KINH PHÁP CÚ CHỮ HÁN VÀ CHỮ PÀLI
1. VẤN ĐỀ VĂN BẢN CHỮ PÀLI:
Tất cả Kinh điển chữ Pàli phân thành 5 Nikàya: 1. Dìgha-Nikàya (Kinh Trường Bộ); 2. Majjhimanikàya (Kinh Trung Bộ); 3. Samyuttnikàya (Kinh Tương Ưng); 4. Anguttaranikàya (Kinh Bộ Tăng Chi); và 5. Khuddakanikàya (Kinh Tiểu Bộ) thì Dhamma-pada (Kinh Pháp Cú) là một Kinh thuộc kinh thứ 5-Tiểu Bộ Kinh (Khuddakanikàya) trong kinh tạng Pàli.
Vậy "Dhammapada" nghĩa là gì? Dhamma dịch là Pháp, Pada dịch là Cú (câu). Dhammapada tức là những câu ghi chép lại lời dạy Đức Phật, nên thường được dịch là Pháp Cú.
Chữ "Dhamma" là Pháp, có nhiều nghĩa như chân lý, giác ngộ, giải thoát hàm chứa: là giáo pháp, chánh pháp, chân lý được Đức Phật khai thị; là Phật ngôn, pháp ngữ hay những lời giáo huấn của Đức Phật về chơn, thiện, mỹ; là kỷ luật, phép tắc, tín ngưỡng hình thức sinh hoạt của Phật Giáo.
Chữ "Pada" là Cú (câu) nghĩa là đường lối, lối đi, nền tảng căn bản. Pada cũng có nghĩa là bàn chân, bước chân.
Cuối cùng, "Dhammapada" có thể có nghĩa là những bàn chân hay bước chân đưa đến chân lý giác ngộ, giải thoát; đưa đến chân, thiện, mỹ v.v... Được hiểu như là "con đường chân lý, con đường đạo hạnh."
Kinh Dhammapada theo truyền thống được xem là bộ kinh được kiết tập vào kỳ kiết tập thứ nhất, ngay ba tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Có thể nói đây là một cuốn kinh chứa đựng một cách gọn ghẽ, đầy đủ giáo lý nguyên thủy của Đức Phật. Hay nói một cách khác là một cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Ngài đã truyền dạy trong khoảng ba trăm trường hợp giáo hóa khác nhau trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sanh, Ngài đã giảng nhiều pháp ngữ chứa đựng nghĩa lý thâm thúy để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết Bàn an lạc. Những giáo pháp ấy được trình bày dưới hình thức các bài kệ đơn giản và súc tích gồm phần lớn là bốn câu, thỉnh thoảng lên đến sáu câu và mỗi câu gồm có tám âm đồng đều, cụ thể qua 423 gàthà (bài kệ) chia làm 26 vagga (phẩm) như sau:
01 Yamaka Vagga Phẩm Song Yếu 20 bài kệ 02 Appamàda Vagga Phẩm Không Phóng Dật 12 bài kệ 03 Citta Vagga Phẩm Tâm 11 bài kệ 04 Puppha Vagga Phẩm Hoa 16 bài kệ 05 Bàla Vagga Phẩm Ngu 16 bài kệ 06 Pandita Vagga Phẩm Hiền Trí 14 bài kệ 07 Arahanta Vagga Phẩm A La Hán 10 bài kệ 08 Sahassa Vagga Phẩm Ngàn 16 bài kệ 09 Pàpa Vagga Phẩm Ác 13 bài kệ 10 Danda Vagga Phẩm Hình Phạt 17 bài kệ 11 Jarà Vagga Phẩm Già 11 bài kệ 12 Atta Vagga Phẩm Tự Ngã 10 bài kệ 13 Loka Vagga Phẩm Thế Gian 12 bài kệ 14 Budda Vagga Phẩm Phật Đà 18 bài kệ 15 Sukha Vagga Phẩm An Lạc 12 bài kệ 16 Piya Vagga Phẩm Hỷ Ái 12 bài kệ 17 Kodha Vagga Phẩm Phẫn Nộ 14 bài kệ 18 Mola Vagga Phẩm Cấu Uế 21 bài kệ 19 Dhammattha Vagga Phẩm Pháp Trụ 17 bài kệ 20 Magga Vagga Phẩm Đạo 17 baì kệ 21 Pakinnaka Vagga Phẩm Tạp Lục 16 bài kệ 22 Niraya Vagga Phẩm Địa Ngục 14 bài kệ 23 Nàga Vagga Phẩm Voi 14 bài kệ 24 Tanhà Vagga Phẩm Tham Ái 26 bài kệ 25 Bhikkhu Vagga Phẩm Tỷ Kheo 23 bài kệ 26 Bràhmana Vagga Phẩm Bà La Môn 41 bài kệ Mỗi phẩm đặt trọng tâm vào một đề tài chính, như "Phẩm Tâm" tập hợp các bài kệ về tâm, nghĩa là tinh thần không hình nhưng tạo tác không mất; hay "Phẩm A La Hán" tập hợp các bài kệ nói về con người nói lời chân chánh thì thoát được dục, tâm không còn đắm trước.v.v... Tất cả 26 Vagga (phẩm) trong Kinh Dhammapada-Pháp Cú đều thích hợp với tâm tính trình độ và căn cơ khác nhau của người nghe.
2. VẤN ĐỀ VĂN BẢN CHỮ HÁN:
Căn cứ vào bài tựa của Kinh Pháp Cú, ĐTK 210 tờ 566 b14 – c 26, quá trình hình thành văn bản chữ Hán được trình bày như sau:
"Kệ Đàm Bát là yếu nghĩa trong kinh. Đàm đó là Pháp, Bát đó là Cú, mà Kinh Pháp Cú có vài bản để phân biệt. Có bộ gồm 900 bài kệ, hoặc có bộ 700 bài kệ và 500 bài kệ. Kệ là lời đúc kết lại cũng giống như thi tụng vậy. Đó chính là Đức Phật thấy sự việc nêu lên chẳng phải Ngài nói trong cùng một lúc mà tất cả đều có nhân duyên được phân bố chặt chẽ trong các kinh. Đức Phật là bậc Nhất Thiết Trí, tánh của Ngài là một bậc đại nhân cho nên Ngài thương xót chúng sanh mà xuất hiện nơi đời, mở bày đạo nghĩa để cứu độ con người. Trong 12 bộ kinh, tổng quát yếu nghĩa của từng thể loại mà chia ra làm nhiều bộ. Sau khi Đức Phật nhập diệt, Ngài A Nan trùng tuyên lại 4 bộ A Hàm (Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm). Kinh không có dài ngắn, mở đầu ngài A Nan đều tụng: Nghe như vầy, và nơi chốn Đức Phật thuyết pháp, là nơi diễn đạt những lời đầy đủ tự thuyết của Ngài. Sau đó, năm bộ Sa Môn mỗi mỗi sao chép ra thành kệ 4 câu hoặc 6 câu trong các kinh rồi so sánh, phán định ý nghĩa vào các điều chương mà phân biệt thứ loại, từng phẩm. Đối với 12 bộ kinh không đâu không tham cứu rút ra và không có một tên gọi nhất định cho nên gọi là Pháp Cú. Các Kinh là pháp ngôn, pháp cú do từ pháp ngôn mà có ra vậy. Gần đây người họ Cát có lưu truyền 700 bài kệ, nghĩa của kệ rất sâu xa, người dịch ra rất nhiều. Do nghĩa lý ẩn sâu trong kinh mà khiến cho người dịch lẫn lộn. Chỉ có Đức Phật là khó gặp, giáo pháp cũng khó mà nghe được. Lại nữa, Chư Phật xuất thế ở Thiên Trúc nên ngôn ngữ Thiên Trúc với Hán ngữ khác âm. Sách của Thiên Trúc gọi là Thiên Thư, lời âm nói gọi là Thiên Ngữ. Do ngôn ngữ và sự vật bất đồng nên truyền đạt sự chân thật chẳng phải là chuyện dễ. Ngài Lam Điều, An Hầu Thế Cao, Đô Quý Phật Điều dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Trung Hoa, sự thật đạt được thể của ngôn ngữ nhưng việc ấy khó có người kế thừa. Người sau lưu truyền không thể sâu sắc nhưng vẫn còn tôn trọng chỗ quý báu những bản kinh, và tạm cho phần này đã đạt được chỉ thú của kinh.
Người đầu tiên là Duy Kỳ Nan sinh ra ở Thiên Trúc vào năm thứ ba đời Hoàng Vũ đến Vũ Xương, tôi mới theo ngài Duy Kỳ Nan mà nhận được bộ sách gồm 500 bài kệ, mời người đồng đạo Trúc Tướng Diễm dịch. Tướng Diễm, tuy giỏi tiếng Thiên Trúc nhưng mà chưa am hiểu đầy đủ Hán ngữ cho nên lời truyền đạt của Ngài hoặc còn Phạn ngữ, hoặc lấy nghĩa mà dịch thành âm. Vì thế văn nghĩa chất phác, lời của nói không đẹp, không bóng bẩy. Đầu tiên, Duy Kỳ Nan nói rằng: Lời của Phật nương theo nghĩa mà không dùng sự trau chuốt ngôn từ, chọn lấy pháp mà không lấy chỗ nghiêm sức. Phàm người truyền dịch kinh được dễ hiểu, chớ nên làm mất đi nghĩa lý của Kinh. Được như vậy là điều hay nhất, cần thiết nhất. Những người ngồi ở đạo tràng phiên dịch đều cho rằng: Lão Tử nói ngôn từ trau chuốt thì không đáng tin, lời đáng tin thì không cần hoa mỹ. Khổng Tử cũng nói rằng: Thư viết ra không hết lời, lời nói ra thì không thâu tóm được hết ý. Đó là những lời nói của bậc Thánh Nhân. Ý của bậc Thánh Nhân thâm thúy vô cùng, nay thì người truyền đạt ý nghĩa của tiếng Phạn cần phải thấu đạt được ý Kinh. Vì thế, từ những bài kệ được người dịch ra cần phải chính lý yếu chỉ, chớ không cần thêm trau chuốt văn chương. Nếu có dịch những chỗ không hiểu thì thiếu sót không thể truyền đầy đủ, cho nên phần nhiều có sự thiếu sót, phần lớn do sự có ra ngoài những trường hợp mất mát ý nghĩa. Nhưng bài kệ Pháp Cú này, tuy lời mộc mạc, chất phác mà ý chỉ sâu sắc.
Văn sơ sài, ước lược mà nghĩa thì rộng lớn nên sự việc được dẫn dắt trong các kinh. Chương phẩm có đầy đủ, câu cú có ý nghĩa. Những người mới tu học ở tại Thiên Trúc không học Kinh Pháp Cú cho là vượt quá thứ bậc nhưng kinh này mới chính là quy tắc lớn cho người mới học và kho tàng sâu kín của người thâm nhập. Khó có thể khai mở cho những người sơ cơ phân biệt những chỗ lầm lẫn, dụ dẫn chúng sanh đi đến chỗ tự lập. Công sức tu học ít, mà chỗ hiểu biết thì rộng. Kinh này, thật đáng cho là cốt yếu và vi diệu thay! Khi xưa lúc truyền đạt kinh này. Tôi có chỗ không hiểu, gặp lúc ông Tướng Diễm đến cho nên theo đó mới thưa hỏi và thọ nhận lấy những bài kệ này rồi được thêm 13 phẩm nữa, đồng thời so sánh với những bản cổ rồi tăng bổ hiệu đính lại, sắp xếp phẩm mục gom lại một bộ thành 39 phẩm gồm có 752 bài kệ, ngỏ hầu để cho có sự bổ ích và rộng cho sự học hỏi."
Qua bài tựa giúp chúng ta hiểu được phần nào về nguồn gốc và nội dung của kinh Pháp Cú. Kinh Pháp Cú còn có tên gọi Pháp Cú Tập Kinh, Pháp Cú Tập, Pháp Cú Lục, Đàm Bát Kinh, Đàm Bát Kệ. Đó chính là Đức Phật thấy sự việc mà nêu lên. Kinh không có dài ngắn, mở đầu được ngài A Nan đều tụng: Tôi nghe như vậy và nơi chốn Đức Phật thuyết pháp.v.v... Nghĩa là có đầy đủ lục chủng thành tựu. Sau đó, năm bộ Sa Môn sao chép ra thành kệ bốn câu, sáu câu trong các kinh mà phân biệt thứ loại, từng phẩm. Gần đây ngưới họ Cát có lưu truyền 700 bài kệ, nghĩa của kệ rất sâu, người dịch ra rất nhiều. Về sau ngài Lam Điều, An Hầu Thế Cao, Đô Quý Phật Điều dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Trung Hoa. Người đầu tiên là Duy Kỳ Nan sinh ra ở Thiên Trúc nói rằng: Lời của Phật nương theo nghĩa mà không dùng sự trau chuốt ngôn từ, chọn lấy pháp mà không lấy chỗ nghiêm sức. Những người ngồi ở đạo tràng phiên dịch đều cho rằng: Lão Tử nói ngôn từ trau chuốt thì không đáng tin, lời đáng tin thì không cần hoa mỹ. Khổng Tử cũng nói rằng: Thư viết ra không hết lời, lời nói ra thì không thâu tóm được hết ý. Đó là những lời nói của bậc Thánh Nhân. Ý của bậc Thánh Nhân thâm thúy vô cùng nay thì người truyền đạt ý nghĩa của tiếng phạn cần phải thấu đạt được ý kinh. Vì thế, những bài kệ Pháp Cú này, tuy lời mộc mạc, chất phác mà ý chỉ sâu sắc. Văn sơ sài, ước lược mà nghĩa thì rộng lớn nên sự việc được dẫn dắt trong các kinh. Những người mới tu học ở tại Thiên Trúc không học kinh Pháp Cú cho là vượt quá thứ bậc, nhưng kinh này mới chính là quy tắc lớn của người thâm nhập. Kinh gồm 2 quyển, 39 phẩm, 752 bài tụng do ngài Pháp Cứu, người Ấn Độ soạn, ngài Duy Kỳ Nan nước Ngô dịch vào thời Tam Quốc (có thuyết cho rằng do ngài Chi Khiêm và Trúc Tướng Diễm dịch vào năm 224) được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, ĐTK 210 tờ 559a1 – 575 b10. Nội dung gom góp những bài kệ do Đức Phật nói trong các kinh mà biên tập thành, được thể hiện ở mỗi bài kệ có bốn câu, sáu câu, có lúc tám câu; mỗi câu có bốn chữ hay năm chữ. Kinh Pháp Cú trình bày cụ thể qua hai quyển với 39 phẩm 752 bài kệ như sau:
Quyển Thượng
10 Phẩm Phóng Dật 20 bài kệ 11 Phẩm Tâm Ý 12 bài kệ 12 Phẩm Hoa Hương 17 bài kệ 13 Phẩm Ngu Ám 21 bài kệ 14 Phẩm Minh Triết 12 bài kệ 15 Phẩm La Hán 10 bài kệ 16 Phẩm Thuật Thiên 16 bài kệ 17 Phẩm Ác Hành 22 bài kệ 18 Phẩm Đao Trượng 14 bài kệ 19 Phẩm Lão Mạo 14 bài kệ 20 Phẩm Ái Thân 13 bài kệ 21 Phẩm Thế Tục 14 bài kệ Quyển Hạ:
22 Phẩm Thuật Phật 21 bài kệ 23 Phẩm An Ninh 14 bài kệ 24 Phẩm Hảo Hỷ 12 bài kệ 25 Phẩm Phẫn Nộ 26 bài kệ 26 Phẩm Trần Cấu 19 bài kệ 27 Phẩm Phụng Trì 17 bài kệ 28 Phẩm Đạo Hành 28 bài kệ 29 Phẩm Quãng Diễn 14 bài kệ 30 Phẩm Địa Ngục 16 bài kệ 31 Phẩm Tượng Dụ 18 bài kệ 32 Phẩm Ái Dục 32 bài kệ 33 Phẩm Lợi Dưỡng 20 bài kệ 34 Phẩm Sa Môn 32 bài kệ 35 Phẩm Phạm Chí 40 bài kệ 36 Phẩm Nê Hoàn 35 bài kệ 37 Phẩm Sanh Tử 18 bài kệ 38 Phẩm Đạo Lợi 19 bài kệ 39 Phẩm Kiết Tường 19 bài kệ 3. ĐỐI CHIẾU GIỮA HAI VĂN BẢN CHỮ HÁN VÀ CHỮ PÀLI:
Theo S. Lévi trong "L.Apramàdavarga. Étude sur les recensions des Dharmapada, JAS (x.x) 1912, 203- 94" thì cho rằng văn bản tiếng Pàli và tiếng Hán hoàn toàn khác nhau. Nhưng theo John Brough trong The Gàndhàri Dharmapada, Oxford University Press, lại nhận định rằng giữa hai văn bản tiếng Pàli và tiếng Hán có những điều cơ bản giống nhau, bên cạnh đó có những cái khác nhau theo hai quan điểm: 1) Ở văn bản tiếng Hán có thể đưa thêm "thơ" hay "những kinh khác" vào kinh Pháp Cú; 2) Ở quan điểm này thì ngược lại, nói do chính bản Pàli mất. Còn quan điểm bản thân người viết khi nghiên cứu so sánh thì cảm nhận giữa hai văn bản có một số phẩm lại chứa điều cốt yếu cơ bản về nội dung của từng phẩm là hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên ở văn bản Chữ Hán có 39 phẩm 752 bài kệ thì số phẩm và số bài kệ lại nhiều hơn so với bản Pàli chỉ có 26 phẩm 432 bài kệ. Điều này, có thể cho rằng văn bản Pàli bị thiếu một số phẩm. Bởi ở bản Hán, từng phẩm có ghi chú tương đương tiếng Pàli, ta có thể lập bảng đối chiếu như sau:
Bảng đối chiếu giữa văn bản chữ Hán và chữ Pàli:
SỐ THỨ TỰ
TÊN PHẨM
SỐ LƯỢNG BÀI KỆ
HÁN
PÀLI
HÁN
PÀLI
HÁN
PÀLI
1
0
Phẩm Vô Thường
Không có
21
0
2
0
Phẩm Giáo Học
Không có
29
0
3
0
Phẩm Đa Văn
Không có
19
0
4
0
Phẩm Đốc Tín
Không có
18
0
5
0
Phẩm Giới Thận
Không có
16
0
6
0
Phẩm Duy Niệm
Không có
12
0
7
0
Phẩm Từ Nhân
Không có
18
0
8
0
Phẩm Ngôn Ngữ
Không có
12
0
9
1
Phẩm Song Yếu
Phẩm Song Yếu
22
20
10
2
Phẩm Phóng Dật
Phẩm Không phóng Dật
20
12
11
3
Phẩm Tâm Ý
Phẩm Tâm
12
11
12
4
Phẩm Hoa Hương
Phẩm Hoa
17
16
13
5
Phẩm Ngu Ám
Phẩm Ngu
21
16
14
6
Phẩm Minh Triết
Phẩm Hiền Trí
12
14
15
7
Phẩm La Hán
Phẩm A La Hán
10
10
16
8
Phẩm Thuật Thiên
Phẩm Ngàn
16
16
17
9
Phẩm Ác Hành
Phẩm Ác
22
13
18
10
Phẩm Đao Trượng
Phẩm Hình Phạt
14
17
19
11
Phẩm Lão Mạo
Phẩm Già
14
11
20
12
Phẩm Ái Thân
Phẩm Tự Ngã
13
10
21
13
Phẩm Thế Tục
Phẩm Thế Gian
14
12
22
14
Phẩm Thuật Phật
Phẩm Phật Đà
21
18
23
15
Phẩm An Ninh
Phẩm An Lạc
14
12
24
16
Phẩm Hảo Hỷ
Phẩm Hỷ Ái
12
12
25
17
Phẩm Phẫn Nộ
Phẩm Phẫn Nộ
26
14
26
18
Phẩm Trần Cầu
Phẩm Cấu Uế
19
21
27
19
Phẩm Phụng Trì
Phẩm Pháp Trụ
17
17
28
20
Phẩm Đạo Hạnh
Phẩm Đạo
28
17
29
21
Phẩm Quãng Diễn
Phẩm Tạp Lục
14
16
30
22
Phẩm Địa Ngục
Phẩm Địa Ngục
16
14
31
23
Phẩm Tượng Dụ
Phẩm Voi
18
14
32
24
Phẩm Ái Dục
Phẩm Tham Ái
32
26
33
0
Phẩm Lợi Dưỡng
Không Có
20
0
34
25
Phẩm Sa Môn
Phẩm Tỳ Kheo
32
23
35
26
Phẩm Phạm Chí
Phẩm Bà La Môn
40
41
36
0
Phẩm Nê Hoàn
Không Có
35
0
37
0
Phẩm Sinh Tử
Không Có
18
0
38
0
Phẩm Đạo Lợi
Không Có
19
0
39
0
Phẩm Kiết Tường
Không Có
19
0
Qua bảng so sánh, giúp chúng ta biết được ở văn bản Pàli thiếu các phẩm Sau: Phẩm Vô Thường (thứ 1); Phẩm Giáo Học (thứ 2); Phẩm Đa Văn (thứ 3), Phẩm Đốc Tín (thứ 4); Phẩm Giới Thận (thứ 5); Phẩm Duy Niệm (thứ 6); Phẩm Từ Nhân (thứ 7); Phẩm Ngôn Ngữ (thứ 8); Phẩm Lợi Dưỡng (thứ 33); Phẩm Nê Hoàn (thứ 36); Phẩm Sinh Tử (thứ 37); Phẩm Đạo Lợi (thứ 38); Phẩm Kiết Tường (thứ 39). Tổng cộng bản Pàli thiếu 13 phẩm-256 bài kệ; và nội dung đề tài của 13 phẩm này nói về Vô Thường; Giáo Học, Sinh Tư.v.v... đều đặt trọng tâm vào giáo lý của Đức Phật dạy. Theo như chúng ta thiết nghĩ, những giáo lý của Đức Phật dạy khi còn tại thế thì Ngài không thể nào lại không quan tâm khi bàn về vấn đề Vô Thường, Sanh Tử, Niết Bàn v.v...
Mặt khác, theo như bài tựa của Pháp Sư Ấn Thuận viết cho bản kinh Pháp Cú Hán Văn của sư Liễu Tham có đoạn ghi: "Theo truyền thuyết của Hữu Bộ thì sau khi Đức Phật diệt độ, Đại Đức Pháp Cứu (Dharmahata) tùy nên chỗ lần được nghe, thuận theo ý nghĩa soạn tập đặt thành tên phẩm. Như gom những câu tụng dạy lý vô thường, lập làm phẩm vô thường, cho đến gom những bài tụng dạy về Phạm Chí làm phẩm Phạm Chí". (Xem Bà Sa Luận 1) đều là chỉ cho Pháp Cú, nhưng theo Ngài Chi Khiêm (khoảng 230 T.L) trong bài tựa Pháp Cú của Ngài có nói: "Năm bộ chúng Sa Môn đều lượm lặt những bài kệ bốn câu, sáu câu trong các Kinh, sắp đặt thứ lớp theo nghĩa lý rồi làm thành từng phẩm riêng. Cho nên gọi Pháp Cú. Pháp Cứu là người ở thế kỷ I trước Công Nguyên, Ngài chỉ làm công việc cải biên. Bởi vì từ các tập Pháp Cú của ngũ bộ chúng Sa Môn, cho đến khi các bộ phải phân chia, thì mỗi bộ điều có biên thêm, cải đổi. Tuy nhiên chúng đều là trích từ trong kinh Phật ra, chứ không phải do sự tái biên, cải biên mà giảm mất giá trị".
Cũng có người viết: "Lúc Phật còn tại thế, Ngài Buddhaghosa không cho ghi chép Kinh, vì sợ tam sao thất bổn. Mấy Tổ về sau giỏi chữ nghĩa văn chương nhất là vị gốc Bà La Môn sẽ có thể thêm bớt làm sai lệch nguyên bổn, Ngài chỉ thuyết bằng tiếng Pàli, tiếng bình dân xứ Magadha, không có chữ Nam Phạn, Bắc Phạn (sanskrit) là của Đạo Bà La Môn, tuy hơi giống như tiếng Pàli, nhưng không phải là một thứ tiếng như tiếng Việt Nam ở hai miền Nam, Bắc của xứ ta" (Quyển Chú Giải Kinh Pháp Cú-tr 94, Q 1. Dịch Giả Trưởng lão Pháp Minh). Lại nữa, theo Từ Điển Phật Học Huệ Quang của Phật Quang Sơn cho biết: "Bản gốc Kinh Pháp Cú chữ Hán có nhiều loại: Loại 1000 bài tụng; 900 bài tụng; 500 bài tụng… Năm 224, ngài Duy Kỳ Nan đem về 26 phẩm, 500 bài tụng, sau lại thêm 13 phẩm, thành 39 phẩm - 752 bài tụng. Kinh này hiện còn có bốn bản khác là: Kinh Pháp Cú (Pàli: Dhammapada); Phẩm Ưu Đà Na (Phạn: Udàna- Varga, còn gọi: Ô đà nan phẩm), Che-du-brjod tshoms (bản Tây Tạng), Kinh Pháp Tập Yếu Tụng, bốn quyển do ngài Thiên Tức Tai dịch vào đời Tống-Trung Quốc (thuộc hệ tiếng Phạn, được xếp vào Đại Chánh Tạng Tập 4). Trong đó bản Pàli gồm có 26 phẩm, 423 bài tụng (1 bài tụng có nhiều đoạn). Bản này rất giống với bản do ngài Duy Kỳ Nan thỉnh về Trung Quốc". Quan điểm này dễ gây hiểu lầm hai văn bản hoàn toàn giống hệt nhau. Theo bảng đối chiếu trên thì giữa hai văn bản có sự chênh lệch về số phẩm và số lượng bài kệ. Chi tiết này cũng cho thấy hai văn bản có phần khác nhau. Vả lại, một số nước trên thế giới trước đây có so sánh hai văn bản khác nhau nhưng Từ Điển Phật Quang Sơn lại cho bản Pàli rất giống với bản chữ Hán do ngài Duy Kỳ Nan thỉnh về Trung Quốc. Điểm này, chúng ta phải điều soát lại.
Do vậy, khi bàn về hai văn bản chữ Hán và chữ Pàli thì chúng ta nên hiểu rằng: Hết thảy Phật Pháp đều cùng bắt nguồn từ thân giáo, ngữ giáo của Đức Thế Tôn mà được lưu truyền mãi về sau cho nên đôi lúc họ chú trọng lý lẽ của nghĩa câu, hoặc lúc thiên về bảo thủ, cục bộ v.v...Từ đó, hình thành ra nhiều học phái. Thế nên phải từ trong sự nghiên cứu so sánh mới hiểu rõ tính cộng thông và tính sai biệt của nó. Được vậy mới có thể nhìn nhất quán về lời Phật dạy; và có thể giải được Phật ý một cách hoàn chỉnh, hiểu rõ được cách thích ứng với thế gian vô thường lưu biến này. Còn như cứ chấp một bề cho là phải (bản chữ Hán đủ, bản Pàli thiếu), hoặc tự xưng nguyên thủy (bản Pàli đúng, còn bản chữ Hán bị pha tạp bởi đạo Bà La Môn, Đạo Hồi. v.v...), hoặc tự xưng cứu cánh, mình phải người trái, thì đó là một bóng mờ đáng sợ của tiền đồ Phật Giáo vậy. Để hiểu rõ hơn, người viết xin đi sâu vào phần chi tiết.
III-a. Những Phẩm Khác Nhau Về Văn Bản Chữ Hán Và Chữ Pàli:
Y Theo bài tựa ở bản chữ Hán của ngài Pháp Cứu soạn, cho biết: "Khi xưa lúc truyền đạt kinh này, ngài Duy Kỳ Nan có những chỗ không hiểu nhân lúc gặp ngài Tướng Diễm rồi theo đó mới thưa hỏi và thọ nhận những bài kệ lại được thêm 13 phẩm nữa, đồng thời so sánh với bản cổ 26 phẩm 423 bài kệ rồi tăng bổ hiệu đính lại thành 39 phẩm 752 bài kệ". Đó là 13 phẩm của bản Hán mà phẩm Pàli không có. Mười ba phẩm ấy bao gồm: tám phẩm đầu, bốn phẩm cuối và một phẩm Lợi Dưỡng ở gần cuối của văn bản. Nội dung lần lượt của mười ba phẩm này như sau:
1/ PHẨM VÔ THƯỜNG:
Phẩm này có tổng cộng 21 bài kệ. Trong đó, từ bài kệ số 1 đến số 17 là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ; riêng bài kệ số 18 có 6 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất cả 21 bài kệ trên đều đặt trọng tâm vào đề tài "Vô Thường". Nghĩa là người ngủ nhiều thì hôn mê, mạng sống được sung sướng thì buông lung, tham đắm ngũ dục, chỉ lo cung dưỡng thân mình. Vì họ chấp trước bản ngã, không biết vô thường, không hiểu mọi vật trên đời đều như vậy, không có cái gì trường tồn; mọi người đều phải chết, không ai tránh được lẽ này, cho nên chỉ có con đường đạo mới là chơn. Vì thế Đức Phật dạy chúng sanh biết rằng: "Làm người từ xưa đến nay có bốn việc đáng sợ nhất đó là : 1. Sanh phải già yếu; 2. Bệnh sẽ tiều tụy; 3. Chết thần thức ra đi và 4. Xa lìa quyến thuộc". Rồi Đức Phật ví mạng người như dòng nước chảy liền nói bài kệ số 4:
Như hà sử lưu
Vãng nhi bất phản
Nhân mệnh như thị
Thệ giả bất hoànDịch:
Như dòng nước chảy,
Trôi mãi chẵng về .
Mạng người cũng thế
Chết rồi không lại2/ PHẨM GIÁO HỌC:
Phẩm này có tổng cộng 29 bài kệ. Bài kệ từ số 1 đến số 4 là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Bài kệ từ số 5 đến số 16, là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Bài kệ từ số 17 đến số 22 là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Bài từ số 23 đến số 29, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất cả 29 bài kệ trên đều đặt trọng tâm vào đề tài "Giáo Học". Ý nói dẫn dắt người tu hành hãy tinh tấn tu tập đạo nghiệp, dứt trừ các ấm cái, tâm trong sáng, tinh thần định tĩnh, mới có thể tránh được các khổ. Và "Giáo Học" còn có nghĩa là giải thích người ngu muội thấy được đạo rõ ràng. Ví như người xuất gia học đạo mà không lo niệm kinh trì giới, chỉ biết tham mê lợi dưỡng cung phụng cho huyễn thân, cứ ăn no lại ngủ không nhớ đến lẽ vô thường. Người muốn cầu đạo trước phải dứt trừ si mê rồi sau mới chế phục tâm. Tâm là nguồn gốc của thiện, ác. Muốn dứt trừ tận gốc ái dục phải chế phục tâm. Tâm an định, ý thông hiểu mới đắc đạo được, như bài kệ số 4.
Chánh kiến học vụ tăng
Thị vi thế gian minh.
Sở sinh phúc thiên bội.
Chung bất đọa ác đạoDịch:
Chánh kiến luôn trau dồi,
Là ánh sáng giữ đời.
Phước đức tăng ngàn lần,
Chết không đọa đường ác.3/ PHẨM ĐA VĂN:
Phẩm này có 19 bài kệ, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 19 bài kệ này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Đa Văn". Nghĩa là khuyên người nghe nhiều học rộng thì được bậc thánh, được trí chánh giác. Cũng như Đức Phật nhờ học rộng giáo pháp không biết nhàm chán, phụng hành chánh đạo không có giải đãi, tinh tấn trì giới tu huệ không có phóng dật, nên đạt đến Niết Bàn, cụ thể qua bài kệ số 3.
Đa văn năng trừ ưu
Năng dĩ định vi hoan
Thiện thuyết cam lồ pháp
Tự trí đắc Nê Hoàn.Dịch:
Nghe nhiều dứt âu lo
Luôn vui trong thiền định.
Khéo nói cam lồ pháp
Tự mình được Niết Bàn.4/ PHẨM ĐỐC TÍN:
Phẩm này có hết thảy 18 bài kệ. Trong đó, bài kệ từ số 1 đến số 3, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ; từ bài kệ số 4 đến số 18, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất cả 18 bài kệ này đặt trọng tâm vào đề tài "Đốc Tín". Nghĩa là đôn đốc niềm tin, kết quả để thành lập đạo, là nguyên nhân để trở về tâm nguyện của mình. Vì người chưa biết đạo đức, không tu giải thoát, cứ quen thói ương ngạnh, dối trá, tham lợi, buông lung theo tình ý khó mong được giải thoát khổ đau. Nếu người có lòng tin, tâm kiên cố, thọ trì ngũ giới làm Phật Tử tại gia biết tu hành liền được trí huệ và hạnh lành, lần lần người ấy vượt thóat sanh tử như bài kệ số 7.
Tín chi giữ giới.
Tuệ ý năng hành.
Kiện phu độ tuệ
Tùng thị thoát uyên.Dịch:
Lòng tin và giới luật
Tuệ quán siêng tu hành,
Bậc trượng phu trí tuệ,
Qua được vực tử sinh.5/ PHẨM GIỚI THẬN:
Phẩm này có 16 bài kệ, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất cả 16 bài kệ này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Giới Thận". Ý nói giữ điều khuyên răn, không phạm điều cấm, về sau khỏi ăn năn. Do vậy, người hành đạo phải lấy giới làm căn bản, lấy nhiếp tâm làm công hạnh, coi nhẹ thân thể, quý trọng chân lý, xả thân cầu đạo. Ăn uống là để duy trì mạng sống, tu tập thiền định. Phải hướng đến mục tiêu đắc đạo mà tu học chỉ quán, dứt trừ vọng tưởng. Còn nếu chỉ lo cung dưỡng thân thể, chìu theo đòi hỏi thì làm sao thoát được khổ đau? Cho nên Đức Phật dạy bài kệ số 8.
Tỳ Kheo lập giới.
Thủ nhiếp chư căn
Thực tri tự tiết
Ngụ ý linh ưng.Dịch:
Tỳ Kheo giữ giới.
Nhiếp giữ các căn
Ăn biết tiết độ,
Ngủ nghĩ có chừng6/ PHẨM DUY NIỆM:
Phẩm này có tổng cộng 12 bài kệ.bài kệ số 1 có 6 câu, mỗi câu có 5 chữ. Từ bài số 2 đến số 12, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 12 bài kệ này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Duy Niệm". Nghĩa là hãy cẩn thận đối với những nguyên nhân gây ra tội lỗi. Cũng có nghĩa những điều nhỏ từ trước phải giữ, trong phải tự mình suy nghĩ cho an ổn mới hiểu được đạo. Như "Mạng người mong manh sáng còn tối mất. Vô thường nghiệp báo không hẹn chợt đến. Chỉ cần quán sát thân tứ đại do đâu mà có, tạm hợp thành rồi sẽ hoại diệt. Đất, nước, gió, lửa sẽ trả về cho đất, nước, gió, lửa! Hãy tư duy tỉnh giác, tâm vắng lặng không có vọng tưởng, chuyên niệm Tam Bảo, bố thí, giới đức. Nếu có thể biết được lẽ vô thường thì cũng như thấy Phật! Nghĩ đến việc ngày mai chỉ là vọng tưởng vô ích." Do vậy, Đức Phật dạy bài kệ số 11.
Kỷ tri tự giác ý
Thị vi pháp đệ tử
Thường đương trú dạ niệm
Phật dữ pháp cập chúng.Dịch:
Đã biết mình giác ngộ
Mới là đệ tử Phật
Thường phải ngày đêm nhớ
Phật, Pháp, và chúng Tăng7/ PHẨM TỪ NHÂN:
Phẩm này có hết thảy 18 bài kệ. Bài kệ từ 1 đến 6, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Riêng bài số 7 và số 10 thì mỗi bài có 6 câu, mỗi câu có 4 chữ. Còn bài số 8, số 9, số 11 đến số 18, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất cả 18 bài kệ này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Từ Nhân". Ý nói bậc đại nhân đức bao trùm vô lượng. Điều này khuyên chúng ta được làm người phải biết thương yêu các loài chúng sanh để nuôi sống cho mình. Vì không có ai là không tham sống sợ chết, cho nên giết chúng sanh nuôi sống bản thân mình tội lỗi rất nặng. Do vậy, được làm thân người rất là khó , nên phải thực hành tâm từ bi đối với mọi loài chúng sanh thì đời đời sẽ được an vui như bài kệ số 1, Đức Phật dạy:
Vi nhân bất sát.
Thường năng nhiếp thân
Thị xứ bất tử
Sở thích vô hoạnDịch:
Làm nhân không giết
Thường hay nhiếp thân,
Chỗ đó bất tử.
Đi đâu không họa.8/ PHẨM NGÔN NGỮ:
Phẩm này có 12 bài kệ. Bài kệ từ số 1 đến số 4, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Từ bài số 5 đến số 12, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 12 bài kệ này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Ngôn Ngữ". Nghĩa là: con người sở dĩ dùng lời nói phát ra để đàm luận phải đúng với chân lý, cho nên phải chú ý thận trọng, gìn giữ lời nói cho hòa nhã, nghiêm túc, chớ nói những lời ác, chưỡi rủa mắng nhiếc nhau là tự hại cho mình. Do vậy, Đức Phật liền dạy bài kệ số 3.
Phu sĩ chi sinh
Phủ tại khẩu trung
Sở dĩ trảm thân
Do kỳ ác ngônDịch:
Phàm người ở đời
Gươm đao trong miệng
Sở dĩ chém mình,
Do lời nói ác.9/ PHẨM LỢI DƯỠNG:
Phẩm này thuộc phẩm thứ 33 trong bản Hán, có 20 bài kệ. Trong đó, bài kệ số 1, 2 và số 18 thì mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ; các bài kệ còn lại, mỗi bài đều 4 câu, mỗi câu 4 chữ. Tất cả 20 bài kệ đặt trọng tâm vào đề tài "Lợi dưỡng". Nghĩa là khuyên người phòng tham muốn. Vì tham muốn làm tổn đức của mình, cho nên lúc nào trong tâm của họ đầy dãy xan tham, tật đố, giận càn, mắng chưỡi, trù rủa, ôm lòng thâm độc v.v...không thể nghĩ bàn làm cho uế sanh. Do vậy, là đệ tử của Phật nên phải sáng suốt chớ có tham lam, tật đố v.v... dầu mình ở cõi nào đi chăng nữa. Vì thế, Đức Phật dạy bài kệ số 4.
Tuy hữu thiên dục
Tuệ xả bất tham
Nhạo ly ân ái
Vi Phật đệ tử.Dịch:
Tuy dục lạc cõi trời.
Sáng suốt bỏ không tham
Vui viễn ly ân ái
Là đệ tử Phật Đà.10/ PHẨM NÊ HOÀN:
Phẩm này thuộc phẩm thứ 36 trong bản Hán, có tổng cộng 35 bài kệ. Trong đó, bài kệ số 1 và số 13 đến số 19, và kệ từ số 21 đến kệ số 35 là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Bài kệ từ số 2 đến số 7, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Bài kệ từ số 8 đến số 12, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 6 chữ. Riêng bài kệ số 20 có 6 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 35 bài kệ đều đặt trọng tâm vào đề tài "Nê Hoàn". Nghĩa là trở về đạo lớn, tịch diệt độ được sinh tử. Như bài kệ số 24, Đức Phật dạy:
Lợi thắng bất túc thị
Tuy thắng du phục khổ
Đương tự cầu thắng pháp
Dĩ thắng vô sở sanhDịch:
Thắng người không đủ cậy,
Tuy thắng, vẫn lại khổ
Phải cầu pháp tự thắng,
Thắng rồi được vô sanh.11/ PHẨM SINH TỬ:
Phẩm này thuộc phẩm thứ 37 trong bản Hán, có tổng cộng 18 bài kệ, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 18 bài kệ này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Sinh Tử". Ý nói các người có vong linh tùy theo sự tu hành mà chuyển sanh. Như bài kệ số 3, Đức Phật dạy:
Thị thân vi tử vật,
Tinh thần vô hình pháp.
Giả linh tử phục sinh
Tội phước bất bại vongDịch:
Thân này là vật chết
Tinh thần vật vô hình
Thân chết, thức tái sinh.
Tội phước vẫn không mất.12/ PHẨM ĐẠO LỢI:
Phẩm này thuộc phẩm thứ 38 trong bản Hán, có tổng cộng 19 bài kệ. Trong đó, có bài kệ số 16, 17 là mỗi bài có 6 câu, mỗi câu có 5 chữ. Các bài ệ còn lại là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 19 bài kệ đều đặt trọng tâm vào đề tài "Đạo Lợi". Nghĩa là bất cứ những ai hay Cha, Mẹ, Thầy Tổ khai mở con đường hành thiện, diệt được tiền khiên oan trái để đến con đường chánh. Như bài kệ số 1, Đức Phật dạy:
Nhân tri phụng kỳ thượng
Quân phụ sư đạo sĩ
Tín giới thí văn tuệ.
Chung kiết sở sinh an.Dịch:
Người biết thờ bậc trên
Vua, Cha, Thầy, Đạo Sĩ.
Có tín, giới, thí, tuệ.
Chết tốt, tái sinh an.13/ PHẨM KIẾT TƯỜNG:
Phẩm này thuộc phẩm thứ 39 trong bản Hán, có 19 bài kệ, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 19 bài kệ này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Kiết Tường". Ý nói nếu mình tu hành tốt đẹp bỏ được cái ác và tu được cái thiện thì mình sẽ được hưởng cảnh tốt đẹp. Như bài kệ số 5, Đức Phật dạy:
Khứ ác tùng tựu thiện
Tị sửu tri tự tiết
Bất dâm ư nữ sắc
Thị vi tối kiết tườngDịch:
Bỏ ác theo điều thiện,
Tránh rượu, biết tiết chế.
Không dâm với nữ sắc,
Là tối thượng kiết tường.III-b. Những Phẩm Giống Nhau Về Văn Bản Chữ Hán Và Chữ Pàli:
Ở hai văn bản Hán và Pàli đều có 26 phẩm tương đương với nhau. Tức là 26 phẩm còn lại của bản Hán hoàn toàn giống với 26 phẩm của bản Pàli. Điều này chứng minh rằng: Dù hai văn bản thuộc hai ngữ hệ Hán và Pàli nhưng nội dung đề tài cơ bản của từng phẩm đều giống nhau. Tuy nhiên, số lượng bài kệ của mỗi phẩm đôi lúc có sự chênh lệch, có phẩm bằng nhau, có phẩm nhiều, phẩm ít. Như chúng ta đều biết kinh Pháp Cú là tập hợp những bài kệ nằm rãi rác trong các Kinh- Luật- Luận. Có lúc nghĩa của một bài kệ mà Đức Phật lại tùy theo căn tánh của chúng sanh nên trình bày trong nhiều trường hợp khác nhau. Do vậy, đôi khi nghĩa của từng kệ có khác nhưng nội dung cơ bản vẫn không có gì lạ. Để tìm hiểu điểm nhất quán trong kinh, người viết xin lần lượt giới thiệu từng phẩm một.
PHẨM SONG YẾU:
Phẩm này của hai văn bản gồm những bài kệ song đối nhau, bao hàm các nội dung đối lập nhau, giữa tốt và xấu, giữa thiện và bất thiện, được biểu lộ qua các hành động của chính mình đã tạo và gặt lãnh kết quả từ những hành động tạo tác ấy. Với bản Hán có 22 bài kệ và ở bản Pàli có 20 bài kệ, ta có thể lập bảng đối chiếu như sau:
Hán
Pàli
Hán
Pàli
Hán
Pàli
Hán
Pàli
Hán
Pàli
1
1
5
5
9
9
13
13
19
17
2
2
6
6
10
10
14
14
20
18
3
3
7
7
11
11
17
15
21
19
4
4
8
8
12
12
18
16
22
20
Qua bảng so sánh trên, ta thấy bản Hán có thêm hai câu 15, 16 là một cặp câu đối nghĩa với nhau. Khuyên con người tu hành cố gắng tự sách tấn, chớ có buông lung, phóng túng. Nhìn vào bảng, với 20 bài kệ có số câu tương đương với nhau. Nghĩa là nội dung của từng bài kệ của hai văn bản hoàn toàn giống nhau. Để hiểu rõ hơn người viết xin trích dẫn và phân tích bài kệ thứ nhất của hai văn bản để tìm điểm giống nhau:
Tâm vi pháp bổn,
Tâm tôn tâm sử.
Trung tâm niệm ác.
Tức ngôn tức hành.
Tội khổ tự truy,
Xa lịch vu triệtDịch:
Tâm là gốc muôn pháp
Tâm đứng đầu, sai sử
Trong tâm khởi niệm ác
Nói năng hay hành động
Tội khổ liền theo sau
Như xe lăn theo vết.
Manopubbangamà dhammà Ý dẫn đầu các pháp manosetthà manomayà Ý làm chủ, ý tạo manasà ce padutthena Nếu với ý vô nhiễm bhàsati và karoti và, Nói lên hay hành động tato nam dukkhamanveti Khổ não bước theo sau cakkam va vahato padam Như xe, chân vật kéo Qua bài kệ trên, ở bản Hán dịch "Tâm là gốc muôn pháp". Còn bản Pàli dịch "Ý dẫn đầu các pháp". Dịch "Tâm hay Ý" nghĩa vẫn là một. Vì "Manopubbangamà" nghĩa là do tâm hướng dẫn nên gọi là ý. Do vậy, "Tâm dẫn đầu" hay "Ý dẫn đầu" đều hiểu như nhau. Bởi muôn sự muôn lẽ ở đời đều do tâm người tạo ra, mà Phật học gọi là phái duy tâm. Đạo Phật chia tâm ra nhiều thứ, nhưng rút lại có hai thứ tâm trọng yếu nhất: 1. Vọng tâm, cái tâm nghĩ ngơi lan mang xằng bậy. 2. Chơn tâm; cái tâm nguyên lai vẫn sáng láng tinh thông, đầy đủ mầu nhiệm không cần phải nghĩ mới biết. Cũng như tấm gương trong suốt, vật gì qua nó là soi tỏ ngay, khác hẳn với cái tâm phải suy nghĩ mới biết, phải học hỏi mới hay. Nói đến tâm, chúng ta đều liên tưởng đến tâm sở. Vì có tâm thì không thể không có tâm sở, cho nên tâm sở ở đây chính là Pháp- Dhamma, bao trùm cả tốt và xấu, cả thiện và bất thiện. Nhưng đối với bài kệ này, Pháp- Dhamma là những tâm bất thiện, hết thảy mọi sự mọi vật ở thế gian đều là giả cả, đều do cái vọng tâm tạo ra cả, nên gọi là pháp trần. Tâm dẫn đầu mọi hành động và tác dụng như thành phần chủ yếu trong khi tác hành cũng như trong khi quyết định hoạt động. Đó chính tâm điều khiển tạo tác hành động bằng thân, lời và ý thì khổ não liền (bước) theo sau, như xe lăn theo vết (như xe, chân vật kéo), nghĩa đều giống nhau. Vì chữ "triệt" được hiểu cái vết bánh xe đi qua, còn "Pada" có thể dịch là chân, dấu, vết. Tuy giữa hai bản thuộc hai hệ ngữ văn Hán và Pàli nhưng nội dung và ý nghĩa hoàn toàn giống nhau.
2/ Bản Hán: PHẨM PHÓNG DẬT – Bản Pàli: KHÔNG PHÓNG DẬT
Phẩm này của hai văn bản gồm những bài kệ với nội dung khuyến thiện, nhắc nhở làm việc thiện, tạo thiện nghiệp, luôn luôn giữ tâm ghi nhớ lấy mình. Cẩn thận đề phòng tà để khỏi mất đạo, và thận trọng nên biết mình đang làm việc gì, khuyên vào đạo hiền. Với bản Hán có 20 bài kệ hơn bản Pàli 8 bài kệ, ta có thể lập bảng đối chiếu như sau:
Hán
Pàli
Hán
Pàli
Hán
Pàli
Hán
Pàli
Hán
Pàli
1
1
3
3
5
5
7
7
13
11
2
2
4
4
6
6
8
8
14
12
Qua bảng so sánh trên, ở bản Hán hơn bản Pàli tám bài kệ: kệ số 11,12, 15, 16,17, 18, 19, 20 và có hai bài kệ khác nhau: kệ số 9 và số 10 của hai bản. Nhìn vào bảng trên, giữa hai bản có 10 bài kệ, nghĩa tương đương giống nhau. Vậy xin trích dẫn và phân tích bài kệ số 1 của hai bản để tìm điểm giống nhau.
Giới vi cam lồ đạo
Phóng dật vi tử kính
Bất tham tắc bất tử
Thất đạo vi tự tángDịch:
Giới là đạo cam lồ
Phóng dật là lối chết
Không tham thời không chết
Mất đạo là tự chết
Appamàdo amatapadam, Không phóng dật, đường sống pamàdo maccunno padam, Phóng dật là đường chết appamattà na mìyanti Không phóng dật, không chết ye pamattà yathàmatà Phóng dật như chết rồi Qua bài kệ, ở bản Hán dịch "Giới là đạo cam lồ". Còn bản Pàli "Không phóng dật đường sống" nghĩa đều như nhau. Vì giới là răn như, khuyên răn mà Đạo Phật cho là kiêng: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói xằng, uống rượu là năm giới. Còn "Appamàda" dịch là không phóng dật, không chao động, không lay chuyển, có nghĩa là luôn luôn giữ tâm niệm và luôn luôn thận trọng đưa mình đến con đường bất diệt như Cam lồ đạo. Ngữ này đồng nghĩa với "Amatapada" là sự chuyển sang qua trạng thái không chết. Vì "amata" nghĩa là thuốc trường sinh, trạng thái bất tử. Cũng tương tự như : "phóng dật" đồng nghĩa với "pamàdo" là buông thả,