|
BuddhaSasana Home Page |
Vietnamese, with VU Times font |
![]() |
Những lời dạy của Đức Phật Tu nữ Ngọc
Duyên PL. 2551 - DL. 2007
|
|
Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode) |
|
LỜI NÓI ĐẦU Niềm Hỷ Lạc thấm nhuần sâu đậm trong lòng chư Phật tử khi được tiếp cận với Giáo Pháp của Đức Thế Tôn. "Lời Dạy Của Đức Phật" luôn sống động, nhẹ nhàng, bình dị, nhưng thiết thực và tuyệt diệu. Nơi đây, một số ít bài kệ trong "Kinh Pháp Cú" được trích dẫn, rất tối cần và gần gũi nhất đối với mọi hạng người trong dân gian. Những lời kinh như một suối nguồn vang động, khêu gợi sự dũng mảnh hướng lên bờ giải thoát cho chính mình. Lời dạy của Đấng Cha Lành bao hàm những kinh nghiệm giác ngộ của Đấng Toàn Giác. Mỗi bài kinh là một trưởng thành cao tột của trí tuệ, phá vỡ những ưu phiền trong cân não nội tâm. Nhận thấy sự lợi ích thiết thực của "Kinh Pháp Cú", chúng tôi biên sọan để phổ biến cho chư Phật tử xa gần. Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ đem vui cho mọi người, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc:
Tập kinh nầy được hoàn thành, cũng nhờ sự góp sức của nhiều người. Nơi đây chúng tôi xin chân thành tri ân chư vị thí chủ đã từng ủng hộ cho chúng tôi trên đoạn đường nghiên cứu và soạn dịch kinh sách. Ngưỡng mong cho chư vị thí chủ, ấy được hưởng niềm an lạc vô biên trong Giáo Pháp của Bậc Thánh. Tn. Ngọc Duyên -ooOoo- NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA * 1- NÓ MẮNG TÔI, ĐÁNH TÔI 2- NÓ MẮNG TÔI, ĐÁNH TÔI Duyên khởi: Hai kệ ngôn nầy, Đức Thế Tôn giảng thuyết liên quan đến Tỳ khưu Tissa. Tissa ỷ mình là em họ của Đức Phật nên không tôn trọng các Tỳ khưu cao hạ khác. Các vị Tỳ khưu khách tăng khiển trách để sửa sai hạnh kiểm, Tỳ khưu Tissa cảm thấy tự ái bị tổn thương, đến than phiền với Đức Phật. Đức Phật hiểu rõ câu chuyện, Ngài khuyên Tỳ khưu Tissa nên sám hối với Chư Tăng, nhưng Tỳ khưu Tissa không nghe và cố chấp hận thù. Nhân việc nầy, Đức Phật thuyết hai câu kệ trên để cảm hóa Tỳ khưu Tissa. * 3- AI MẶC ÁO CÀ SA 4- AI RỜI BỎ UẾ TRƯỢC Phần đông thiện tín ưng thuận dâng bộ y quý giá đến Tỳ khưu Devadatta (Đề-Bà-Đạt-Đa). Ông là người tham vọng, muốn quản chúng, đã nhiều lần chống nghịch Bậc Đạo Sư: phá hòa hợpTăng, gây thương tích cho Đức Phật và xúi giục Hoàng Tử Ajātasatu (A-Xà-Thế) giết Vua Cha đoạt ngôi, v.v… Nhân cơ hội nầy, Đức Phật nhắc lại trong một tiền kiếp ông đã có những hành động tương tự. Sau đó, Đức Thế Tôn giải thích ai mới là người xứng đáng mặc y vàng. Ghi chú: - Y càsa tượng trưng cho sự thoát tục trong sáng của vị Tu sĩ. Tuy nhiên đối với người có thân, khẩu, ý không trong sạch, đầy uế trược nhiễm ô, những người như vậy không xứng đáng mặc y vàng. Đức Phật ghi nhận rằng, con người đạo hạnh chính ở giới luật và phẩm cách ở bên trong, chớ không phải ở bên ngoài sắc tướng. * 5- NHƯ MÁI NHÀ VỤNG LỢP 6- NHƯ MÁI NHÀ KHÉO LỢP Pháp thoại nầy, được Thế tôn thuyết giảng khi Ngài đang ngụ tại Jetavana, có liên quan đến Tỳ khưu Nandā. Hoàng tử Nandā là em một Cha khác Mẹ với Đức Phật, Hoàng Tử xuất gia ngay trong ngày cưới của mình. Do đó, thay vì tinh tấn tu học, nhưng Tỳ khưu Nandā mãi tưởng nhớ đến người vợ đang cưới. Đức Phật áp dụng phương pháp tốt đẹp, trợ giúp Tỳ khưu Nandā từ bỏ những tư tưởng tham dục và nỗ lực tu luyện. không bao lâu vị ấy đắc Đạo Quả A-La-Hán. Ghi chú: - Tâm vụng tu: Tâm không khéo huấn luyện, không tu tập theo Thiền Chỉ hoặc Thiền Quán. Không trao dồi Giới, Định, Tuệ. Người ấy sẽ bị 1 trong 10 loại phiền não tấn công:
* 7- NAY KHỔ, ĐỜI SAU KHỔ Bài kệ nầy được Đức Thế Tôn thuyết giảng tại Veluvana, liên quan đến người đồ tể hàng heo Cunda. Suốt 55 năm, Cunda sinh sống bằng nghề giết heo để bán. một ngày kia, cơn bệnh tấn công, ông bị ám ảnh cảnh lửa địa ngục do nghiệp sát sanh. Ông phải chịu đau khổ cùng cực trong những ngày cuối cuộc đời. Trước khi lìa trần, ông lăn lộn kêu la thảm khốc, giống như con heo đang bị thọc huyết. Mãi kêu gào như vậy đến ngày thứ bảy. Ông chết tái sanh vào địa ngục Avīci. Ghi chú: - Người làm ác, trong hiện tại bị đau khổ về tinh thần, thường sầu muộn do nghiệp. - Trong tương lai, người ấy lại phải gặt hái quả dữ khi sanh vào 4 cõi khổ: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh hay A-Tu-La. Người không chánh niệm, dễ duôi, dù tại gia hay xuất gia, sự đau khổ trong hai nơi bằng nhau. * 8- NAY VUI ĐỜI SAU VUI Kệ ngôn nầy khi ở Jetavana, Chùa Veluvana (Trúc Lâm), Bậc Đạo Sư thuyết giảng liên quan đến người nam cư sĩ có đạo hạnh. Tại thành Sāvatthi, có người nam cư sĩ, cùng gia đình con trai và con gái, mỗi người thường xuyên bố thí thức ăn trong ngày Bát Quan Trai và ba tháng nhập hạ. Cả gia đình vợ con đều sống một cuộc đời đạo đức, chánh trực và tự hoan hỷ trong các sự phân phát vật bố thí. Thời gian sau, ông già yếu. Trong giờ cận tử, ông thỏa thích nhìn thấy cảnh an vui nơi cõi Chư thiên. Khi trút hơi thở cuối cùng, ông được hóa sanh Thiên Giới. Ghi chú: - Nay vui: Hoan hỷ khi nghĩ đến các việc thiện đã làm như Bố Thí, Trì Giới, Tu Thiền, Cung Kính, Phục Vụ, Nghe Pháp, Thuyết Pháp, Tùy Hỷ, Hồi Hướng và Cải Chánh Kiến Thức. * 9- NAY THAN, ĐỜI SAU THAN Duyên Khởi: Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn này khi đang ngụ tại Jetavana, liên quan đến Tỳ khưu Devadatta. Ông là người âm mưu sát hại Đức Phật, nhưng đã nhiều lần thất bại. Đến khi già, ông ăn năn hối hận muốn đến diện kiến Đức Thế Tôn, nhưng khi vừa đến cổng chùa ông bị chết đau thương do đất rút. Ghi chú: - Kẻ ác hai đời khổ: "Hiện Tại và Tương Lai". Có hai trạng thái khổ:
* 10- TINH CẦN GIỮA PHÓNG DẬT Duyên Khởi: Kệ ngôn nầy ở Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết giảng kệ ngôn đề cập đến hạnh tu của hai Vị Tỳ khưu. Một vị chuyên chú tu học, vị kia dễ duôi thích trò chuyện. Đức Phật tán thán vị tu tinh tấn. * 11- ĐẾ THÍCH KHÔNG PHÓNG DẬT Hoàng Tử Māhali hỏi Đức Phật về oai đức của Vị Vua Trời Đế Thích (Sakka) và những pháp tác thành vị Vua Trời. Đức Phật trả lời, do nhờ nỗ lực phục vụ không cầu lợi, không nhăn nhó và chuyên tâm hành 7 đức tánh trọn đời không dễ duôi. Bảy đức tánh đó là:
Nếu có sân hận đột khởi liền trấn áp một cách nhanh chóng. Nhờ các đức tánh nầy, người thanh niên Maghavā trong nhiều kiếp trước đã tự chấp hành, nắm giữ và đã thực hiện đầy đủ 7 Pháp trên nên được sanh làm vị Vua Trời Sakka. * 12- TÂM CHẬP CHỜN DAO ĐỘNG 13- NHƯ CÁ QUĂNG LÊN BỜ Kệ ngôn nầy, khi ngụ tại núi Cālikā, Bậc Đạo Sư thuyết giảng liên quan đến Tỳ khưu Meghiya. Tỳ khưu Meghiya là thị giả của Đức Phật trong thời gian chưa có Đại Đức Ānanda. Vì còn là phàm tăng nên Tỳ khưu tâm tánh nông nổi đã mắc phải sự sai lầm nghiêm trọng. Tỳ khưu Meghiya thường than thân trách phận thị giả của mình. Một ngày kia, đang đi với Đức Phật ngang qua khu rừng xoài, Tỳ khưu có ý muốn đến đó hành thiền, liền ngỏ lời xin phép. Đức Phật xét thấy chưa phải lúc nên đã ngăn cản 3 lần, nhưng Tỳ khưu Meghiya vẫn bỏ mặc Đức Phật ra đi một mình. Đến vườn xoài, mặc dù Tỳ khưu Meghiya cố gắng hành thiền, nhưng không thể ổn định nội tâm. Quá thất vọng, ông liền trở về sám hối Đức Phật. Nhân đó, Đức Phật thuyết hai kệ ngôn trên và Tỳ khưu Meghiya đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn. * 14- KHÓ NẮM GIỮ KHINH ĐỘNG Kệ ngôn nầy, Bậc Đạo Sư thuyết giảng khi Ngài đang ngụ tại Sāvatthi. Tại làng Mātika có người tín nữ với tâm đạo nhiệt thành. Nhờ sự hướng dẫn của Chư Tăng bà đắc quả A-Na-hàm với tha tâm thông. Bà ủng hộ Chư Tăng rất đắc lực. Bà biết được tư tưởng khác và hiểu rằng Chư Tăng còn đang thiếu thốn về mặt vật chất, nên bà hết lòng ủng hộ. Được cung ứng thích hợp, không bao lâu quý Ngài đắc Đạo Quả A-La-Hán. Một vi Tỳ khưu khác nghe tán thán về đức hạnh của bà. Vào ngày nọ Tỳ khưu xin phép Bậc Đạo Sư đến viếng và lưu lại tu viện ấy. Bà biết rõ và đáp ứng đúng lúc những tư tưởng ước muốn của vị Tỳ khưu. Vị ấy khởi tâm lo sợ sẽ bị phát hiện những tư tưởng xấu của mình, liền thối lui trở về hầu Đức Phật. Đức Thế Tôn khuyên Tỳ khưu nên trở lại nơi ấy hành đạo và cố gắng điều phục nội tâm. Vị Tỳ khưu nghe lời khuyên của Đức Phật, liền trở lại làng Mātika lần nữa. Vị ấy nỗ lực thu nhiếp tâm và đắc Đạo Quả A-La-Hán. * 15- KHÔNG BAO LÂU THÂN NẦY Tại Jetavana, thành Sāvatthi, có vị Tỳ khưu Pūtigattatissa bị cảm thọ trọng bệnh do nghiệp xấu ở quá khứ. Đức Phật chăm sóc cho vị ấy trong khi các vị Tỳ khưu khác không dám đến gần. Thế Tôn lau rửa và thay y phục cho Tỳ khưu, thân của vị ấy bị lở loét hôi thúi. Khi lau chùi sạch sẽ xong, Thế Tôn ngồi trên đầu giường thuyết kệ ngôn trên đề cập đến bản chất vô thường của thể xác. Khi nghe xong kệ ngôn, Tỳ khưu Tissa nắm giữ dòng tư tưởng, suy niệm về đề tài thiền quán và đắc quả A-La-Hán nhập vô dư Níp Bàn. * 16- BIẾT THÂN NHƯ BỌT NƯỚC Kệ ngôn nầy, khi ở Jetavana, Bậc Đạo Sư nói đến vị Tỳ khưu tu thiền. Vị Tỳ khưu nầy nỗ lực hành thiền nhưng không có khả năng đạt quả vị A-La-Hán. Trên đường trở về hầu Đức Phật thấy ảo ảnh của những bọt nước, đã gợi cho vị ấy suy xét về sự vô thường của các pháp. Tỳ khưu đã nắm giữ dòng tu tưởng ấy làm đề tài thiền quán. Đức Phật hiểu được tâm tư của vị Tỳ khưu, liền xuất hiện đến trước mặt vị ấy thuyết kệ ngôn trên, giúp vị Tỳ khưu vượt khỏi 3 cõi luân hồi và đắc đạo quả A-La-Hán. * 17- NGƯỜI NHẶT CÁC LOẠI HOA Tại thành Sāvatthi, có cô tín nữ tên Patipūjikā. Cô giàu lòng nhân đạo, thường cúng dường thực phẩm cho Chư Tăng sáng, chiều. Cô cho xây dựng một ngôi trai đường có đầy đủ tiện nghi dâng cúng đến Chư Tăng. Cô cúng dường với mục đích để được chồng. Một ngày kia, vào buổi sáng sau khi cúng dường vật thực xong, buổi chiều cô qua đời. Chư phàm Tăng xúc động trước cái chết đột ngột của cô tín nữ. Khi nghe qua câu chuyện, Đức Phật giảng về bản chất vô thường của kiếp sống. Ghi chú: - Nhặt các loại hoa: Ví như người đang bị lôi cuốn bởi nhiều khát vọng, và chưa được thỏa mãn thì thần chết đã bắt đi. * 18- KHÔNG NÊN NHÌN LỖI NGƯỜI Kệ ngôn nầy, khi ở Sāvatthi Bậc Đạo Sư thuyết giảng liên quan đến nữ gia chủ của ngoại đạo sư Pātika. Do tâm ganh tỵ, ngoại đạo sư Pātika cấm nữ gia chủ của mình không được đi nghe Pháp của Đức Phật. Tuy nhiên vì muốn tầm cầu Pháp, cô bảo đứa con của mình đi thỉnh Đức Phật về nhà. Trong khi Đức Thế Tôn giảng Chánh Pháp, bỗng nhiên vị đạo sĩ xuất hiện lăng mạ Cô và Đức Phật thậm tệ. Trước sự ngẫu nhiên, Cô vô cùng bối rối. Đức Phật thuyết kệ ngôn trên khuyên Cô nên nhìn lỗi ở chính mình, chớ nhìn lỗi người khác. Cuối bài Pháp Cô đắc quả Tu-Đà-Hườn. Ghi chú: - Không nên nhìn lỗi người: Người khác có làm hay không làm, tức có Đức Tin, có Bố Thí, có trong sạch hay không, đừng tìm xem việc của họ. Hãy nhìn lại mình, tự xét mình rằng "Trong những ngày và đêm trôi qua ta đã làm được việc gì? Tự xét lại mình đã tỏ ngộ Giáo Pháp của Đức Phật chưa, ta có thể chứng hay không chứng Níp Bàn?" * 19- NHƯ BÔNG HOA TƯƠI ĐẸP 20- NHƯ BÔNG HOA TƯƠI ĐẸP Vua Pasenadi thỉnh cầu Đại Đức Ānanda đến Hoàng Cung giảng giáo lý cho hai bà mệnh phụ phu nhân. Bà Mallikā chăm chú học với niềm tin cùng trí tuệ và đã thực hiện các môn học có sự tiến bộ rõ rệt. Còn bà Vāsabhakhattiyā thiếu niềm tin, không cố gắng nên không tiến bộ. Đại Đức Ānanda trình lên Đức Phật sự kiện trên. Đức Phật tuyên khuyết rằng: - Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, nhưng không có kết quả đối với người thiếu tinh cần, cũng tựa hồ như cành hoa có sắc nhưng không có hương. Cũng vậy, Giáo Pháp trở nên vô ích đối với người không cố gắng. Hai bài kệ trên được áp dụng ở hai trường hợp: - Nói đến hai bà Hoàng Hậu. - Nói đến những người chỉ nói giỏi chứ không thực hành. * 21- NHƯ TỪ MỘT ĐỐNG HOA Kệ ngôn nầy, khi ở thành Sāvatthi, Đức Phật thuyết giảng đề cập đến bà tín nữ Visākhā. Khi lên bảy tuổi, bà đến nghe Pháp nơi Đức Phật đoạn trừ được ba "Hạ Phần Kiết Sử" là Thân Kiến, Hoài Nghi và Giới Cấm Thủ. Khi trưởng thành bà làm dâu trong một gia đình Bà La Môn. Với niềm tin và trí tuệ sẵn có, bà đã cảm hóa được Cha chồng hướng về Phật Pháp. Từ đó về sau, bà nỗ lực làm các thiện sự, nhất là kiến tạo một ngôi Chùa rất đắc tiền. Khi công việc hoàn thành bà rất hoan hỷ. Vào ngày khánh thành, bà cùng các con cháu đi vòng quanh Chùa đọc lên những bài kệ bày tỏ sự thỏa thích. Khi câu chuyện nầy đến tai Đức Phật, Ngài ghi nhận rằng: "Sở dĩ bà làm như vậy vì bà đã thành tựu mỹ mãn những nguyện vọng cao đẹp của bà". Đức Phật giảng thêm rằng: "Tất cả phước báu cần phải cố gắng đào tạo bằng nhiều sự góp nhặt. Ghi chú: - Như từ những cành hoa người ta làm thành tràng hoa. Tuy nhiên nếu hoa ít, dù người thợ rất giỏi cũng không thể làm thành tràng hoa đẹp. Ngược lại, hoa nhiều nhưng thợ dỡ cũng không thể kết thành tràng hoa. Do vậy, hoa phải nhiều đồng thời thợ cũng giỏi, mới làm được tràng hoa hoàn hảo. Cũng vậy việc làm từ thiện được thành tựu phải đầy đủ niềm tin và tài sản. Nếu tài sản nhiều nhưng niềm yin yếu kém thì không thể làm nhiều thiện sự được. Ngược lại, niềm tin nhiều nhưng tài sản ít cũng không thể làm được nhiều thiện sự. * 22- HƯƠNG CÁC LOẠI HOA THƠM 23- HOA CHIÊN ĐÀN, GIÀ LA Tại Jetavana, vào buổi chiều, từ thiền định độc sư, Đại Đức Ānanda khởi lên ý nghĩ về các loại hương. Đức Phật giảng rằng: - Hương thơm những bông hoa không thể bay ngược gió, dù là hương trầm cũng thế. Chỉ có hương thơm của Giới Đức có thể bay xuôi và bay ngược chiều gió thổi. Cũng vậy, hương thơm của người hiền đức bay tỏa khắp mọi nơi. * 24- ÍT GIÁ TRỊ HƯƠNG NẦY Duyên khởi: Khi Đức Thế Tôn ngụ ở Rajagaha, Ngài thuyết kệ ngôn nầy, đề cập đến Đại Đức Kassapa. Tôn giả Maha Kassapa là bậc có đức hạnh trì pháp "Đầu Đà". Sau 7 ngày "Xuất Thiền Diệt", Chư Thiên khao khát muốn tạo phước cúng dường Ngài, nhưng Tôn Giả từ chối. Vì Ngài muốn dành phần phước ấy cho những người nghèo. Đức Trời Đế Thích cùng cô Tiên Nữ, giả làm vợ chồng người thợ dệt già nghèo khổ, để được đến gần Ngài cúng dường vật thực. Khi thực hiện được điều mong ước, Đức vua Trời Sakka hoan hỷ bay lên giữa hư không phát lên lời cảm hứng. Đức Phật hiểu ý nghĩa này bèn thuyết kệ ngôn trên. Do giới đức trong sạch của Đại Đức Kassapa đã gây sự chú ý đến vua Trời Sakka. Ghi chú: - Ít giá trị hương này: Tất cả các loại hương hoa của loài thảo mộc ít giá trị, khi so sánh với những hương thơm của người có giới đức, tức là sự trì giới để thu thúc thân, khẩu và ý. - Chỉ hương người đức hạnh: Chỉ có người giới đức mới tỏa hương thơm, nhưng trừ "Giới Cẩm Thủ", không tỏa hương thơm, vì mấy giới này chỉ có người si mê chấp giữ. * 25- ĐÊM DÀI CHO KẺ THỨC Duyên Khởi: Vua Pasenadi tình cờ gặp một thiếu phụ và đem lòng tương tư, nên tìm cách hại người chồng của thiếu phụ ấy, bằng cách sai đi công việc khẩn cấp, nếu trễ sẽ bị giết chết. Người cận vệ quân (chồng nàng) quá sợ hãi với công việc khẩn cấp cảm thấy dặm đường quá xa. Vua Pasenadi trong đêm thao thức lo toan mưu đoạt vợ người, nên thấy đêm quá dài. Cả hai nói lên nỗi ẩn khúc của lòng khi gặp Đức Phật. Đức Thế Tôn thuyết lên bài kệ trên, Ngài kết hợp hai câu sau kết luận rằng: - Đối với người không biết Chánh Pháp, vòng luân hồi quả thật xa xôi diệu vợi. Khi nghe xong, cả hai giải tỏa mối oan trái với nhau. Ghi chú: - Kẻ ngu: Là người chỉ chất chứa những nhân sanh tử. Trái lại kẻ trí là người luôn cố gắng tu sửa, để đoạn tuyệt các nhân dắt dẫn luân hồi. * 26- TÌM KHÔNG ĐƯỢC BẠN ĐƯỜNG Khi ở Jetavana, thành phố Sāvatthi, Bậc Đạo Sư thuyết giảng kệ ngôn trên liên quan đến Trưởng Lão Mahā Kassapa. Trưởng Lão Kassapa có hai người đệ tử hầu cận. Một có hạnh kiểm tốt và siêng năng; còn người kia có tánh gian xảo, thường trốn tránh nhiệm vụ và lười biếng. Trưởng Lão nhiều lần quở trách, giáo dục nhưng không có kết quả. Trái lại, người ấy khởi tâm oan trái oán thù. Một hôm thừa dịp Trưởng lão đi khất thực, Tỳ khưu ấy nổi lửa đốt Tịnh Thất rồi bỏ trốn. Ghi chú: - Hơn mình hay bằng mình: Ngụ ý nói về hạnh kiểm "Giới, Định, Tuệ". Thân cận với người tốt hơn ta sẽ được tiến hóa, nếu thân cận với người xấu hơn ta sẽ bị thoái hóa. Trừ khi vì lòng bi mẫn muốn tiếp độ họ, nhưng không nên để các cuồng dại của họ nhiễm ta. * 27- CON TÔI, TÀI SẢN TÔI Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy, đề cập đến người tỷ phú keo kiết. Tại thành Sāvatthi, có người gia chủ tài sản lớn. Mỗi tháng hai lần, ông tập hợp thân quyến lại và khuyên nhủ con trai của mình là Mūlasiri: - Không nên bố thí, không nên làm hao mòn tài sản. Ví như loại ong tụ mật như thế nào, thì hãy giữ tài sản cũng như thế ấy. Thời gian sau ông qua đời, vì quá dính mắc tài sản nên ông tục sanh làm người hèn hạ, dị dạng. Khi lớn lên, nó ăn xin quanh xóm làng. Ngày kia, khi tình cờ nó đến nhà của mình trong kiếp trước. Khi bước vào nhà, nó bị mọi người đánh đuổi vứt ra đống rác. Đức Phật trên đường khất thực, thấy vậy bèn lưu ý đến người chủ nhà Mūlasiri rằng: "Người ăn xin nầy là Cha của ngươi trong kiếp trước". Ghi chú: - Con của ta, sự nghiệp của ta: Đó là mối lo âu của hạng cuồng si. Đúng ra, chính ta còn không phải là của ta, vậy con cái nào là của ta? Sự nghiệp nào là của ta? * 28- NGƯỜI NGU DẦU TRỌN ĐỜI Kệ ngôn nầy Đức Thế Tôn thuyết tại Jetavana, khi đề cập đến Tỳ khưu Udāyi. Tỳ khưu Udāyi thường đến ngồi nơi Pháp toạ. Các Tỳ khưu khách lầm tưởng Tỳ khưu Udāyi thông suốt Giáo Pháp, đến nhờ giảng dùm 5 Uẩn (khối, nhóm) và các Pháp khác. Tỳ khưu Udāyi chẳng thông hiểu gì về vấn đề nầy, mặc dù đang sống gần Đức Phật. Câu chuyện được bạch lên Đức Thế Tôn, Ngài thuyết kệ ngôn trên. Ghi chú: - Người ngu: là người không thích nghe, không thích tầm cầu Diệu Pháp. Hoặc nếu có được nghe cũng không thực hành, không thẩm xét đúng đắn. Người như vậy, dù có sống gần bậc thiện trí trọn đời cũng không làm tăng trưởng Thiện Pháp. Cũng ví như cái muỗng được ngâm trọn vẹn trong nồi canh, nhưng chẳng thưởng thức được hương vị của canh. * 29- NGƯỜI TRÍ, DẦU MỘT KHẮC Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy đề cập đến 30 vị Tỳ khưu. Có 30 người thanh niên đang tìm kiếm một người nữ ở khu rừng Kappāsika. Vào thời điểm nầy, họ gặp Đức Thế Tôn và Ngài đã thuyết pháp: "Hãy đến, nầy các Tỳ khưu". Lập tức những người ấy có đủ tam y và quả bát, đồng thời cũng được thanh lọc mọi ô nhiễm và đắc quả A-La-Hán. Với sự thắc mắc được trình lên Đức Phật: - Tại sao, chỉ trong thời gian ngắn, sau khi nghe Pháp, các vị Tỳ khưu kia đã giác ngộ Giáo Pháp một cách nhanh chóng?" Đức Thế Tôn giảng rằng: - Chẳng phải đây là lần đầu tiên 30 vị này đã lầm lỗi và giác ngộ một cách nhanh chóng. - Ở tiền kiếp trước, họ cũng đã có những hành động tương tự, nhưng khi nghe được lời dạy của bậc hiền trí đạo đức, những thanh niên ấy cũng nhận thức được Giáo Pháp một cách nhanh chóng sau đó tự họ đã thọ trì 5 Giới và Tu thiền nhập định. Đây là phước báu mà họ đã từng làm trong quá khứ, nên nay các vị nầy sớm thành tựu thành quả A-La-Hán một cách mau lẹ, không phí sức không mệt nhọc. * 30- NGƯỜI NGU NGHĨ LÀ NGỌT Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn này, khi Ngài đang ngụ tại chùa Jetavana, đề cập đến thanh niên Nandamānāva. Tỳ khưu Ni Uppalavannā xuất thân từ gia đình giàu có, được cha khích lệ cho xuất gia vào hội chúng Tỳ khưu Ni. Tâm cô giống như một giọt nước thuần tịnh không cấu nhiễm. Cô tập trung nhìn ngọn đèn của Chánh Điện, chú ý về thành phần của lửa. Sau khi đã triển khai Thiền Quán, Cô đạt đến trạng thái siêu phàm đắc Đạo Quả A-La-Hán. Vào một ngày kia, Tỳ khưu Ni Uppalavannā đi khất thực trở về khu rừng nơi Cô đang ngụ. Có một thanh niên đến bức hiếp Tỳ khưu Ni rồi ra đi. Đi không bao xa người ấy bị đất rút chết, đọa vào địa ngục Avìci. Đức Phật hiểu rõ câu chuyện, Ngài giảng về hiểm họa của người cuồng dại, sau khi hành động bất chánh phải gặt hái quả khổ đau. * 31- NGHIỆP ÁC ĐÃ ĐƯỢC LÀM Kệ ngôn nầy được Đức Thế Tôn thuyết tại Jetavana, đề cập đến Ngạ Quỷ rắn và Ngạ Quỷ quạ. Trưởng Lão Moggallāna từ núi Yugandhāra (Kênh Kênh) đi xuống, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy hai Ngạ Quỷ. Trưởng Lão trình câu chuyện này cho Bậc Đạo Sư. Đức Thế Tôn kể rằng: - Thuở xưa, trong thời Đức Phật Kassapa, Chư thiện tín thỉnh Chư Đại Đức Tặng đến cúng dường vật thực và nghe Pháp. Lúc bấy giờ, có con chim quạ bay xuống mổ 3 miếng đầy mồm rồi bay đi, những đồ vật ấy đã được chuẩn bị sắp xếp dâng cúng đến Chư Đại Đức Tăng. Sau kiếp đó, nó bị sanh vào Địa Ngục. Quả xấu chưa hết, từ Địa Ngục nó chết đi tái sanh làm Ngạ Quỷ quạ. - Nói về Ngạ Quỷ rắn. Vào thời kỳ Đức Phật Độc Giác, những người dân trong làng xây dựng một ngôi Tịnh Thất để Ngài trú ngụ. Họ thường xuyên đến đó cúng dường những vật dụng cần thiết cho Ngài. Trước khi đến, họ thường phải băng qua cánh đồng của người nông dân. Đã nhiều lần người nông dân ngăn chận không cho những người dân đi qua ruộng của ông. Ngăn chận không được, ông liền nghĩ kế đốt cốc thì những người nầy sẽ không đi đến đó. Do hành động xấu này, ông bị cuốn hút vào Địa Ngục rất lâu. Khi ra khỏi Địa Ngục, ông tái sanh làm ngạ Quỷ "Đầu người, mình rắn". Nó cảm thọ khổ khốc liệt, vì thân tướng của nó luôn bị lửa đốt cháy đỏ rực đau đớn. Đức Phật ghi nhận rằng: - Những hành động ác xấu trong kiếp quá khứ, đã kết tụ những quả dữ trong kiếp hiện tại nầy. Giống như loại sữa tươi không đông đặc ngay liền, hoặc như lửa than được ngún cháy ngầm dưới lớp tro. Cũng dường thế ấy, nghiệp ác đang đe dọa và cháy ngầm theo người cuồng dại. * 32- NẾU THẤY BẬC HIỀN TRÍ Duyên Khởi: Trưởng Lão Sariputta thâu nhận một Bà La Môn nghèo vào Giáo Hội để tỏ lòng biết ơn một muỗng vật thực mà ông đã dâng cúng đến Ngài. Vị Tu sĩ mới xuất gia, luôn luôn tìm cơ hội học hỏi và tận lực tinh tấn hành theo lời dạy của Thầy, không bao lâu đắc Đạo Quả A-La-hán. Đức Phật thuyết kệ ngôn nầy để tán dương tinh thần tu học của vị tân Tỳ khưu luôn sẵn sàng sửa mình theo hạnh Thánh Tăng, và Đức Phật khích lệ các vị khác nên noi theo gương lành trong sạch ấy. Ghi chú: - Chỉ lỗi: Chấp nhận lời chỉ giáo: "giờ nầy không nên ăn; không nên nhai…; không nên ngồi nhịp chân, rung đùi; không nên bói toán hên xui; không nên mua chuộc tình cảm bằng lời nói xảo ngữ, hãy nói Pháp bằng không thì im lặng, v.v…" Những chỗ khuyết phạm trên do vô minh và ái dục tác động, nếu không có bậc Hiền Trí chỉ lỗi, sửa sai thì thiện pháp không phát triển, lậu hoặc ắt tăng trưởng. Thân cận bậc Hiền Trí được bốn điều lợi ích là: 1) Thường làm cho Giới được tăng trưởng cao thượng. 2) Định sẽ được tăng trưởng cao thượng. 3) Tuệ sẽ được tăng trưởng cao thượng. 4) Sẽ được Giải Thoát Tri Kiến. * 33- NHỮNG NGƯỜI HAY KHUYÊN DẠY Duyên Khởi: Câu chuyện xảy ra tại Kītagīri, khi Đức Thế Tôn ngụ tại Jetavana. Có hai vị Tỳ khưu là đệ tử của hai vị Trưởng Lão Sāriputta và Moggallāna. Mặc dù hai vị Đại Trưởng Lão đã nhiều lần khuyên dạy, nhưng hai vị Tỳ khưu kia vẫn không tuân theo luật. Tâm tánh xấu xa, hai vị vi phạm nhiều lỗi lầm. Đức Phật đã lưu ý đến hai vị nầy và trục xuất ra khỏi Giáo Hội để ngăn chận sự truyền lan, tiêm nhiễm đến các vị Tỳ khưu hiền thiện khác. * 34- CHỚ THÂN VỚI BẠN ÁC Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy tại Jetavana khi đề cập đến Tỳ khưu Channa (Sa Nặc). Tỳ khưu Channa tỏ ra khó dạy, mai mỉa hai vị Đại Đệ Tử của Đức Phật, vì ông tự hào trước kia mình là người đánh xe cho Hoàng Tử Siddhatta (Sĩ-Đạt-Ta). Đức Thế Tôn cho gọi Tỳ khưu Channa đến khuyến cáo và thuyết giảng kệ ngôn trên. Có nhiều vị Tỳ khưu sau khi nghe Pháp đắc đạo quả Tu Đà Hườn, riêng Tỳ khưu Channa chỉ lặng tiếng được thời gian, sau đó lại tiếp tục nói mai mỉa hai vị Chí Thượng Thinh Văn. Đức Phật đã ba lần khuyên dạy nhưng không có kết quả, Ngài tuyên ngôn rằng: - Sau khi Như Lai Níp Bàn, hãy để cho Tỳ khưu Channa chịu hình phạt gọi là "Brahmadanda", tức không được nói chuyện với vị ấy. Khi Đức Phật đã Níp Bàn, Đại Đức Ānanda công bố phán quyết giữa hội chúng cách phạt tội Tỳ khưu Channa tuyệt giao, không tiếp xúc. Lúc bấy giờ, Tỳ khưu Channa tràn ngập nỗi buồn rầu và ngất xỉu ba lần, khi tỉnh lại ông gào thét: - Xin đừng hủy diệt tôi. Đại Đức Channa hối lỗi và có sự cố gắng thực hành tròn đủ pham hạnh, cố nỗ lực tu tập, không bao lâu đắc đạo quả A-La-Hán cùng Tuệ Phân Tích. * 35- NHƯ TẢNG ĐÁ KIÊN CỐ Kệ ngôn nầy được thuyết khi Đức Thế Tôn đang ngụ tại Jetavana, đề cập đến vị Đại Đức Lakuntaka Bhaddiya (Người lùn nhỏ). Mỗi khi gặp Đại Đức, một số Sa di trêu ghẹo sờ đầu, kéo tai, bóp mũi: "Nầy chú, chú không mệt mỏi trong việc tu hành sao, không bất mãn trong Giáo Pháp, mà thỏa thích vậy?" Dù bị bóp mũi, kéo tai, Đại Đức vẫn không tỏ vẻ giận hờn hay căm tức với những tư cách ấy. Điều nầy đã gây sự chú ý nơi các vị Tỳ khưu khác. Câu chuyện được đem ra bàn luận. Đức Phật hiểu duyên cớ, Ngài thuyết rằng: - Các "Bậc Lậu Tận" tâm không còn nóng nảy hay giận hờn, giống như những tảng đá đặc ruột, nằm yên không lay động. Cũng vậy, tâm của Bậc A-La-Hán luôn luôn bình thản trước những lời tán dương hay khiển trách. Cuối thời pháp có nhiều vị Tỳ khưu đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn. Ghi chú: - Nindāpasamsāsu: Nghĩa là lời nói khen chê, tức một trong tám Pháp Thế Gian (Lokadhamma). Chữ nầy bao gồm tất cả những tiếng đời thị phi mai mỉa. Tâm của Bậc Trí Giả không hề bị lay động, xê dịch, cũng giống như núi đá trước gió. * 36- NGƯỜI HIỀN BỎ TẤT CẢ Tại Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn trên, đề cập đến 500 vị Tỳ khưu sau mùa an cư ở Verañja. Sau khi đắc Chánh Đẳng Giác, Đức Thế Tôn ngự đến thành Verañja cùng 500 vị Tỳ khưu và An Cư Kiết Hạ đầu tiên tại nơi ấy, do Bà La Mon Verañja thỉnh cầu. Suốt thời gian ba tháng, Bà La Môn Verañja bị ác ma ám ảnh khiến ông lãng quên việc cúng dường, dù thế không một ngày nào ông không đến chất vấn Đức Thế Tôn. Lúc bấy giờ, ở làng Verañja nhằm thời kỳ bị nạn đói kém, nên các vị Tỳ khưu đi khất thực khắp trong và ngoài thành cũng chẳng tìm được thức ăn, bi kiệt sức. Thấy vậy, những người buơn ngựa cúng dường những nắm cơm khô, Chư Tăng dùng đá nghiền nát ra nấu cháo. Trưởng Lão Moggallāna thấy Chư Tăng quá kiệt sức, Ngài có ý muốn dùng thần thông đưa Chư Tăng sang Bắc Cưu Lưu Châu khất thực hoặc xoay ngược quả địa cầu lại để lấy chất dinh dưỡng dưới mặt đất cúng dường Chư Tăng, nhưng Đức Phật không cho phép. Dù thế, Chư Tăng cũng không lo buồn. Đến ngày ra hạ, Đức Phật từ giả Bà La Môn và khuyến giáo ông được vững trú trong năm giới. Xong, Ngài tiến hành đến Sāvatthi, ngự tại Jetavana. Lúc bấy giờ dân cư trong thành đón tiếp cúng dường trọng đại nhưng cũng không vì vậy mà Chư Tỳ khưu tỏ ra thỏa thích quá độ. Đức Phật lưu ý rằng: "Người thiện trí dù gặp hoàn cảnh vui buồn, sướng khổ, các vị ấy vẫn điềm tĩnh an nhiên, không bồng bột, cũng không để tinh thần bị suy sụp". Ghi chú: - Kāmayantā: Không bàn dục, không bàn đến động cơ của dục. - Kāma kāranā: Lý do của dục. - Kāma hetu: Nhân duyên của dục. Bậc Tịnh Giả không nói ướm để người khác cho, cũng không nói lời phù phiếm như chuyện Vua Quan, v.v... * 37- KHÔNG VÌ MÌNH, VÌ NGƯỜI Tại Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết giảng kệ ngôn trên liên quan đến Tỳ khưu Dhammika. Ở thành Sāvatthi, có người nam cư sĩ sống chánh trực, công bằng, đang mong muốn xuất gia. Ngày kia, thanh niên Dhammika ngồi chuyện trò vui vẻ với cô vợ, bày tỏ ý định của mình. Người vợ khuyên: - Hãy chờ đợi đến khi nào đứa bé trong bào thai được sinh ra hãy xuất gia". Khi đứa bé được sinh ra, cô vợ lại trì hoãn nói rằng: - Hãy chờ đợi khi đứa bé biết đi. Nhưng khi đứa bé biết đi, cô vợ liền bảo: - Hãy đợi đứa bé trưởng thành. Lần nầy Dhammika tự nghĩ: - Dù người vợ của ta có cho phép hay không, ta cũng sẽ tự mình ra đi tìm con đường cứu khổ cho chính ta. Thanh niên Dhammika cương quyết xuất gia và nỗ lực tu tập Thiền Quán, không bao lâu đắc Đạo Quả A-La-Hán. Thời gian sau, Tỳ khưu Dhammika trở về thuyết pháp hóa độ người con trai xuất gia, cũng đắc Đạo Quả A-la-Hán. Người thiếu phụ kia tự nghĩ: - Ta chỉ muốn những người nầy sống tại gia với ta, nay họ đã xuất gia trở thành vị Tỳ khưu tất cả, cuộc đời của ta nay có ích gì khi sống ở tại gia. vậy ta hãy từ bỏ thế tục xuất gia Tỳ khưu Ni. Nghĩ vậy, nàng xuất gia và cố gắng tu tập Thiền Định, không bao lâu cũng Đắc Đạo Quả A-la-Hán. Lúc nầy chư Tỳ khưu khác luận bàn: - Quả thật Tỳ khưu Dhammika là bậc thiện trí sống theo Chánh pháp đã thành bậc A-La-Hán, thế mà vị ấy vẫn còn lưu luyến vợ con. Khi nghe vậy, Đức Phật liền xuất hiện đến dạy rằng: "Tỳ khưu Dhammika là bậc có trí tuệ sống đúng Pháp" và thuyết kệ ngôn trên. Ghi chú: Tỳ khưu Dhammika, không vì mình, cũng không vì người làm việc sai quấy, Tỳ khưu đã cương quyết nương tựa vững chắc nơi Chánh Pháp, chỉ làm những việc lợi ích Chánh Trực. * 38- ÍT NGƯỜI GIỮA NHÂN LOẠI 39- NHỮNG AI HÀNH TRÌ PHÁP Tại Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết giảng kệ ngôn liên quan đến nhóm thiện tín nghe Giáo pháp. Có nhóm thiện tín sanh sống tại thành Sāvatthi. họ cùng thỏa thuận với nhau trong việc tạo phước cúng dường và chia thời gian đến Chùa nghe pháp. Tuy vậy, họ không thể làm theo ý định của mình. Có một số người bị lòng tham ức chế, thúc đẩy họ tự động rút lui. Một số người khác bị sân giận chi phối cũng bỏ ra về. Một số nữa ở lại nhưng bị hôn trầm chi phối, họ ngồi ngủ gục cũng không nghe được Pháp. Qua ngày sau, Chư Tỳ khưu họp tại giảng đường đem đề tài nầy ra thảo luận. Đức Phật ngự đến hỏi và giảng rằng: - Nầy Chư Tỳ khưu! những chúng sanh ấy hằng ngày sống trong cõi Dục, dính mắc, đeo níu trong cõi Dục lạc, nên rất ít người vượt lên để đạt đến Níp Bàn. Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn. Ghi chú: - Bờ nầy: Ba cõi gồm Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới. Phần đông nhân loại vì thân kiến, ngã chấp bám chặt vào Danh Sắc, nên mãi chạy xuôi ngược dọc theo bờ nầy. - Bờ kia: Tức Níp Bàn. - Ma lực khó thoát: Ám chỉ cảnh của dục, nơi mà các chúng sanh bị phiền não bao vây. * 40- TỰ SÁCH TẤN CHÁNH NIỆM Tại Veluvana, câu chuyện liên quan đến Trưởng Lão Kassapa. Sau khi ngụ suốt mùa mưa tại thành Rājagaha. Đức Phật thông báo trước nữa tháng để Chư Tăng chuẩn bị y bát cho một cuộc hành trình khất thực. Đây là sự thực hành của Chư Phật đi du hóa. Lúc bấy giờ, Chư Tăng ai ai cũng lo chuẩn bi y bát để tạo cuộc hành trình tốt đẹp, an vui. Trưỡng Lão Kassapa cũng giặt y sửa soạn. Nhưng khi sắp đi, Đức Thế Tôn xét thấy: "Nếu ta và Chư Tăng rời khỏi nơi đây hết không còn vị nào, Phật tử sẽ không có ai để nương tựa". Ngài cũng nhận thấy 180 triệu dân cư ở đây ai cũng điều ái kính, trọng hậu Trưởng Lão Kassapa như quyến thuộc. Do vậy, vì hạnh phúc của quần chúng, Đức Phật chỉ định Trưởng Lão Kassapa nên ở lại. Vài Tăng sĩ hiểu lầm phẩm hạnh của Trưởng Lão nên bàn bạc với nhau: - Trưởng lão Kassapa còn lưu luyến thí chủ, họ hàng. Đức Phật nghe vậy, liền thuyết giảng kệ ngôn trên để xác chứng rằng Trưởng Lão đã cắt đứt mọi luyến ái. * 41- TÀI SẢN KHÔNG CHẤT CHỨA Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy tại Jetavana, liên quan đến Tỳ khưu Belatthisìsa. Sau khi đi vào làng khất thực và ăn xong, Tỳ khưu Belatthisīsa đi vào con đường khác khất thực cơm khô để dành. Vì thấy đi khất thực mỗi ngày khó nhọc, Tỳ khưu muốn nghĩ vài ngày để hành thiền cho được an vui, khi nào cần vật thực sẽ lấy cơm khô ra dùng. Vài vị Tỳ khưu khác biết được việc nầy đến trình lên Đức Phật . Nhân cơ hội ấy, Đức Thế Tôn ban hành học giới: - Chư Tỳ khưu không được cất giữ vật thực quá thời hạn. Đức Thế Tôn cũng giải thích thêm rằng: - Tỳ khưu Belatthisīsa không phạm tội vì theo hạnh thiểu dục, trong khi học giới chưa được ban hành. Đức Thế Tôn cũng giải thích những tác phong cao thượng của vị Tỳ khưu thuần hành. Ghi chú: - Chất Chứa: Có hai loại tích trữ (chất chứa):
- Liễu tri: Có ba loại Liễu Tri:
- Tự Tại trong Hành xứ; Các Bậc đắc đạo Quả lấy Níp Bàn làm cảnh giới, trú tâm trong đối tượng ấy và giải thoát "Không Vô Tướng". Đây là hành xứ của Bậc A-La-Hán. - Không Vô Tướng giải thoát: Có ba cảnh giải thoát:
- Như Chim Giữa Hư Không: Lộ trình của vị ấy không để lại nghiệp, cũng như đàn chim bay giữa hư không, không để lại dấu vết. Cũng vậy, trạng thái Níp Bàn không ai có thể vẽ hay diễn tả hết được. * 42- AI NHIẾP PHỤC CÁC CĂN Tại Pubbārāma, Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn liên quan đến Trưởng Lão Kaccāyana. Nhân ngày lễ Tự Tứ, Đức Thiên Nhân Sư ngự tọa đến Đông Phương Tự của Bà Visākhā cùng đại chúng Thinh Văn. Trong thời gian nầy, Đại Đức Kaccāyana đang ở xứ Avanti, dù cách trở xa xôi nhưng Đại Đức cũng đến để góp mặt khích lệ tinh thần nghe Pháp. Do đó, các vị Tỳ khưu cao hạ khi vào chỗ ngồi thứ tự có chừa trống một chỗ để dành cho Đại Đức Kaccāyana. Lúc bấy giờ, Đức Vua Trời Sakka cùng các Chư Thiên ở hai cõi theo hộ giá, mang theo các lễ vật hương hoa để cúng dường Đức Phật. Khi đến không thấy Đại Đức Kaccāyana, Đức Vua Trời Sakka tự hỏi: - Sao Đại Đức của ta không có mặt ở đây? Phải chi Ngài đến thời hoan hỷ lắm. Ngay khi ấy Đại Đức cũng vừa đến và ngồi vào chỗ của mình. Đức Vua Trời trông thấy, liền vội đến đảnh lễ và xoa bóp hai chân cho Đại Đức, xong đứng qua một bên. Chư Tỳ khưu Khác trông thấy luận bàn: - Đức Vua Trời Sakka còn cá nhân. Đức Thế Tôn nghe được sự việc, Ngài chỉnh đốn rằng: - Tỳ khưu Kaccāyana tự chế ngự và luôn canh phòng 6 căn giống như tuấn mã được rèn luyện thuần thục. Người như vậy được nhân loại và cả Chư Thiên hằng quý mến. Ghi chú: - Mạn Trừ, Lậu Hoặc dứt: Dứt bỏ 9 cách Ngã Mạn:
- Bốn Pháp Lậu Hoặc là: Dục Lậu, Hữu Lậu, Tà Kiến Lậu và Vô Minh Lậu. * 43- NHƯ ĐẤT, KHÔNG HIỀM HẬN Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy tại Jetavana, Đề cập đến Trưởng Lão Sāriputta. Ngày kia, Trưởng Lão Sāriputta vô tình để chéo y chạm vào thân một vị Tỳ khưu. Vị nầy từ lâu đã có tâm ganh ghét Ngài, nên khi Trưởng Lão vừa đi khỏi ranh Chùa, Tỳ khưu nầy liền đến Đức Phật cáo gian rằng: - Trưởng Lão Sāriputta xúc phạm đến con, đã bỏ đi không xin lỗi. Đức Phật bèn cho gọi Trưởng Lão trở lại để phân xử. Khi ấy, hai vị Trưởng Lão Moggallāna và Ngài Ānanda đi thông báo tập hợp chúng Tăng lại. Trưởng Lão Sāriputta bước vào hội chúng, đảnh lễ bậc Đạo Sư rồi ngồi xuống một bên đầy kính trọng. Đức Phật hỏi câu chuyện đã xảy ra. Trưởng Lão không tự bào chữa mà chỉ mô tả đời sống Phạm hạnh khiêm tốn của mình từ lúc mới xuất gia và mãi cho đến bây giờ. Đại Đức thưa rằng: - Bạch Đức Thế Tôn! Thật vậy, đối với vị Tỳ khưu nào chưa thuần thục đề mục Niệm Thân, thời vị ấy có thể xúc phạm đến vị đồng phạm hạnh rồi bỏ đi không xin lỗi. Bạch Thế Tôn! Ví như đất, Người ta có thể quăng bỏ các nhơ nhớp, v.v… nó vẫn im lìm, trầm lặng không xao động. Cũng vậy con đã tu hạnh như đất. Ví như nước, lửa, gió… Trưởng Lão tự ví mình theo thứ lớp của bốn đại, rồi ngồi xổm chấp tay xin sám hối vị Tỳ khưu cáo gian kia. Khi ấy vị Tỳ khưu cáo gian, nghe trong mình toàn thân nóng như lửa đốt, liền quỳ dưới chân Đức Thiện Thệ tự thú nhận rằng mình cáo gian. Chư Tỳ khưu tán dương phẩm hạnh thanh cao của Đại Đức Sāriputta. Đức Phật thêm rằng: - Nầy Chư Tỳ khưu! Không có gì làm cho tâm của Sāriputta sân giận hay chao đảo, cũng ví như trụ đồng Indakhīla của Vua Trời Đế Thích. * 44- NGƯỜI TÂM Ý AN TỊNH Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn nầy khi ngụ tại Jetavana, liên quan đến Sa di đệ tử của Tỳ khưu Tissa. Trưởng Lão Tissa nhập hạ ở Kosambi. Cuối mùa an cư, thiện tín mang vật dụng đến dâng cúng Trưởng Lão. Ngài từ chối, thiện tín hỏi lý do, Ngài bảo: - Vì tôi không có Sa di hầu cận để cất giữ vật dụng theo luật. Một người gia chủ bèn đem đứa con trai bảy tuổi cúng dường đến Ngài. Trong khi đang làm lễ xuất gia, vị Sa di lấy đề mục "Tóc, Lông, Móng, Răng, Da" quán tưởng, liền đắc Đạo Quả A-La-Hán cùng Tuệ Phân Tích. Sau khi xuất gia xong, hai thầy trò trở về yết kiến Đức Phật. Trên đường đi, Trưởng Lão ghé vào một ngôi Chùa nghỉ tạm qua đêm. Sa di có bổn phận sửa soạn chỗ ngụ cho Thầy. Khi làm xong trời đã chiều tối, không kịp dọn chỗ riêng mình, do vậy vị Thầy cho Phép Sa di nghỉ chung cốc. Sau ba ngày trôi qua, Sa di tự nghỉ: - Ta và Thầy ta đã nghỉ chung chỗ trong ba đêm rồi. Nếu nay ta nằm lại, e bị ngủ quên thì Thầy ta sẽ bị phạm luật. Do vậy, nay ta hãy ngồi đây cho hết đêm nay. Khi Trưởng Lão thức giấc tự nghỉ: - Nay đã đến ngày thứ ba, ta hãy đánh thức Sa di dậy. Rồi Đại Đức lấy cây quạt gõ xuống giường gọi: - Thức dậy Sa di. Khi giở cán quạt lên, không may đầu quạt xỉa trúng mắt Sa di bể tròng. Sa di tay bụm mắt bước ra không hề than rằng: "Mắt con bị bể tròng" Tới giờ lo phục vụ Thầy, Sa di một tay bụm mắt, một tay dâng cây đánh răng. Đại Đức quở trách Sa di vô lễ khi cầm một tay. Sa di nói lý do, Đại Đức vô cùng hối hận. - Bạch Ngài con không có lỗi với Ngài và Ngài cũng không có lỗi với con. Hai Thầy trò đến đảnh lễ Đức Phật và thuật lại câu chuyện, Đức Phật ghi nhận rằng: - Bậc Lậu Tận không còn hờn giận. Các Ngài luôn có một trạng thái trầm tỉnh, hành động trầm tỉnh, lục căn an tịnh, trọn vẹn siêu thoát. Thời Pháp kết thúc, Tỳ khưu Tissa đắc Đạo Quả A-La-Hán. * 45- LÀNG MẠC HAY RỪNG NÚI Duyên khởi: Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy, khi Ngài đang ngụ tại Jetavana, đề cập đến Tỳ khưu Revata ở rừng keo. Tỳ khưu Revata, là em út của Trưởng Lão Sāriputta, từ bỏ gia đình xuất gia đắc Thánh Quả A-La-Hán. Ngài thích sống đơn độc trong rừng sâu. Ngày kia, nhân dịp bà Visākhā hỏi thăm về khu rừng keo mà Đại Đức Revata đang trú ngụ có đẹp không? Nhân cơ hội nầy, Đức Phật đề cập đến: "Làng mạc hay rừng núi… cũng trở thành khả ái khi có vị A-La-hán đang trú ngụ. * 46- KHẢ ÁI THAY NÚI RỪNG Vị Tỳ khưu đang hành thiền trong rừng vắng, một cô kỹ nữ cùng hẹn với tình nhân trong khu rừng nầy, nhưng người tình của cô không đến. Cô đi qua, đi lại chờ mãi cũng không thấy. Cô đi sâu vào rừng thấy vị Tỳ khưu đang ngồi thiền, đưa mắt nhìn quanh không thấy ai khác, Cô nghĩ: - Đây là người nam, vậy ta hãy cám dỗ người nầy. Lúc bấy giờ, vị Tỳ khưu bị cảm kích qua cử chỉ không đoan chính của cô. Đức Phật ngồi nơi Tu Viện, dùng tuệ nhãn quán xét biết rõ sự việc trên. Ngài phóng hào quang phản chiếu trước mặt Tỳ khưu và nói: - Nầy Tỳ khưu! Hạnh phúc không tìm thấy trong dục lạc, chỉ tìm thấy ở sự thoát ly khước từ. Rồi với tia hào quang, Ngài tạo ra hình ảnh của chính Ngài và thuyết kệ ngôn trên để khích lệ sách tấn. Câu kệ chấm dứt, vị Tỳ khưu đắc Đạo Quả A-La-Hán. * 47- DẦU NÓI NGÀN CÂU KỆ Tại Veluvana, Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn trên đề cập đến người đao thủ Tambadathika. Vào thời ấy, có 500 tên cướp, chúng hay cướp đoạt trong làng và thường làm các việc bạo lực khác. Thanh niên Tambadathika gia nhập vào đảng cướp ấy. Về sau tên cướp Tambadathika trở thành viên đao phủ của Vua. Khi về hưu, nhờ Trưởng Lão Sāriputta cảm hóa, từ tánh hung hăng bạo ngược trở nên hiền lành và sau khi chết ông tái sanh vào thiên giới, nhờ những lời khuyên hữu ích của bậc cao thượng vừa mới xuất hiện thiền diệt. Chư Tỳ khưu thắc mắc: - Bạch Thế Tôn, có một sức mạnh to lớn nào trong khi người đàn ông ấy đã làm quá nhiều điều ác, lại gặt hái quả lành? - Nầy Chư Tỳ khưu! Không nên đo lường Giáo Pháp mà ta đã thuyết. Dù ít hay nhiều, khi người đức hạnh nói một câu có ý nghĩa, làm cho người khác nghe xong đươc tịnh lạc. Rồi Đức Phật liên hệ câu kệ ngôn trên. Cuối thời Pháp nhiều Tỳ khưu đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn. Ghi chú: - Dù cả ngàn lời nói ra: ước tính với số nhiều, nhưng chỉ là những lời nói vô ích, như giải về thiên văn, tử vi… Gọi là "vô ích" vì những câu nói đó không phải là những ngọn đuốc soi đường đến Níp Bàn. Dù có nói nhiều bao nhiêu chỉ dẫn dắt đến nghiệp bất thiện, làm tâm giao động. - Một câu nghĩa: Tức câu nói hữu ích như nói về những tánh chất Vô thường, Khổ Não, Vô Ngã, về những Bất Tịnh của thân… Khi nghe một câu hữu ích, có thể làm lắng dịu các pháp bất thiện, nhất là tình dục. Lời nói hữu ích làm sáng tỏ Diệu Pháp liên hệ đến Níp Bàn, như nói về: Năm Uẩn, Bốn Đại. Mười Hai Xứ, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi, Bốn Niệm Xứ. Chỉ một lời nói như vậy, nghe xong sẽ được tịnh lạc. * 48- THÁNG THÁNG BỎ NGÀN VÀNG Tại Veluvana (Trúc Lâm), Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn trên liên quan đến Cậu của Trưởng Lão Sāriputta. Người Cậu của Trưởng Lão Sāriputta, mỗi tháng tiêu nhiều tiền để cúng dường cho ngoại đạo Nigantha với ước nguyện được sanh về cõi Phạm Thiên. Trưởng Lão Sāriputta hướng dẫn ông đến yết kiến Đức Phật, Đức Thế Tôn giảng rằng: - Dù Bà La Môn có làm như vậy liên tục cả 100 năm, cũng không bằng chỉ trong giây lát cúng dường bậc chân tu tự hóa. Cuối thời Pháp, Bà La Môn đắc đạo quả Tu Đà Hườn. Ghi chú: - Tháng tháng bỏ ngàn vàng: Hằng tháng xuất ra hằng 1.000 đồng để bố thí cho quần chúng, cho hội hè ở thế gian suốt cả 100 năm. - "Hutam": Dự bị cung cấp cho khách qua đường hay làm việc cúng tế dựa theo một tín ngưỡng mà ta đang sùng tín. Sự cúng dường như vậy, dù liên tục cả 100 năm, không bằng cúng dường cho bậc chân tu, bậc tự điều phục như bậc Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-hàm hoặc A-La-Hán. Dù chỉ cúng dường cho các vị ấy một muỗng cơm, phước nhiều hơn cả trăm năm cúng dường cho tà sư ngoại đạo. * 49- SUỐT NĂM CÚNG TẾ VẬT Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn trên tại Veluvana liên quan đến bạn của Trưởng Lão Sāriputta. Trưởng Lão Sāriputta đến viếng ngưởi bạn cũ, thăm hỏi xã giao và đàm luận về các việc làm phước cao thượng. Ông Bà La Môn nói rằng trong hằng năm, ông đã hy sinh bỏ ra một số tiền to lớn giết nhiều thú vật để tế thần, chỉ có phước nầy là đệ nhất. Nghe những quan kiến sai lầm của ông, Trưởng Lão Sāriputta thuyết phục và hướng dẫn ông đến Đức Thế Tôn. Đức Phật thuyết kệ ngôn trên để chỉ rõ việc phước và cách cúng tế chơn chánh. Sau khi nghe xong, ông đắc Sơ Quả Tu Đà Hườn. * 50- THƯỜNG TÔN TRỌNG KÍNH LỄ Kệ ngôn nầy, Bậc Đạo Sư thuyết tại rừng Arannakutikā, đề cập đến Dīghayu (Trường thọ). Dīghayu là con trai của Bà La Môn ngoại đạo, được Cha Mẹ đưa đến viếng thăm một du sĩ bạn. Sau khi hai ông bà đảnh lễ, vị du sĩ cầu chúc cho hai ông bà được trường thọ, đến lượt đứa bé lễ ông, du sĩ im lặng không nói gì, Bà La Môn thắc mắc: - Bạch Ngài, sao Ngài không phúc chúc cho cháu bé nầy? - Đứa bé nầy sắp lâm đại nạn. - Bạch Ngài, trong bao lâu? - Bảy ngày nữa. - Ngài có phép nào ngăn cản giúp cho con chúng tôi không - Tôi chẳng biết, ông bà hãy đến Sa Môn Gotama, chắc vị ấy sẽ biết. Vì Ngoại Đạo Sư không có Trí Tuệ Toàn Giác, sự biết của ông chỉ dựa theo chú thuật của Bà La Môn mà thôi. - Thưa Ngài, nếu chúng tôi đi đến chỗ Sa Môn Gotama, e rằng giới hạnh của đạo Bà La Môn của chúng tôi sẽ bị đứt. - Nầy bạn, nếu vì con, bạn không nên chấp thủ. Rồi ông Bà La Môn đi với vợ con đến gặp Đức Phật. Sau khi ông bà đảnh lễ Đức Phật, Ngài cũng phúc chúc ông bà trường thọ. Riêng đứa bé đảnh lễ, Thế Tôn lặng im. Ông Bà La Môn hỏi câu tương tự như trên. Sau khi nghe Đức Phật trả lời, ông van xin Đức Phật giúp đở con mình. Với lòng từ ái Ngài nói: - Nầy Bà La Môn! Ông phải làm theo cách nầy: "Trước cửa nhà, ông cho che rạp và cho kê một chiếc ghế dài. Chung quanh ghế ấy, ông cho đặt sẵn 8 hay 16 chỗ ngồi và thỉnh Chư Thinh Văn đệ tử của ta ngồi tại đó tụng Kinh Pāritta liên tục 7 ngày đêm, như vậy đứa bé sẽ thoát tai nạn. Hai ông bà vâng lời Đức Thế Tôn . Chư Tỳ khưu đến tụng Kinh suốt bảy ngày đêm không gián đoạn. Vào ngày cuối, Đức Thế Tôn tự thân ngự đến. Chư Thiên khắp thế giới cũng tụ hợp đông đảo trước cổng nhà của ông bà Bà La Môn. Lúc bấy giờ, có một Dạ Xoa, sau một thời gian 12 năm hầu hạ Thiên Vương Vessavana để xin một ân huệ, được phép bắt đứa bé nầy. Vì lý do đó, nó cũng đến đứng nơi cổng chờ đợi. Khi ấy Đức Thế Tôn vừa ngự đến, Ngài đã tuyên bố: - Những Thiên Nhân nào có đầy đủ năng lực của 5 Giới hãy tụ hội lại đây, riêng Thiên Nhân nào kém đức hạnh hãy lui ra. Có những Vị Chư Thiên đến sau, không tìm đươc chỗ trống, lui ra xa 12 do tuần, Dạ Xoa ấy cũng lui ra xa. Đức Phật đọc được những bài Kinh Pāritta (An lành) suốt cả đêm. Kết quả buộc Dạ Xoa phải trả tự do cho đứa bé vào lúc rạng đông của ngày thứ 8. Mặt trời vừa mọc, Đức Phật chúc lành cho đứa bé "Trường Thọ". Cha của đứa bé hỏi: - Bạch Thế Tôn! Đứa bé trường thọ đến bao lâu? - Nầy Bà La Môn! Đứa bé trường thọ được 120 năm. Rồi qua một ngày khác, Chư Tỳ khưu luận bàn: - Thật lạ! Đúng ra đứa bé phải chết trong ngày thứ bảy, nhưng bây giờ hóa ra nó sống được 120 tuổi. Đức Phật biết được, Ngài giảng rằng: - Nầy Chư Tỳ khưu! Không phải duy nhất về tuổi thọ, nếu tất cả chúng sanh trong đời đều biết tôn kính những người có Giới Đức sẽ được tăng trưởng cả bốn Pháp: "Tuổi thọ, Dung sắc, Hạnh Phúc và Sức Khỏe". Bậc Đạo Sư giải thích về phước báu lớn của người tôn kính "Bậc đáng Tôn Kính". Cuối bài Pháp, Cậu bé và 500 cận sự nam đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn. * 51- DÙ SỐNG MỘT TRĂM NĂM Tại thành Sāvatthi có 30 nam cư sĩ, là những người quý phái, cùng rủ nhau xuất gia, sau khi đã nghe, học và hiểu được Giáo Pháp. Những vị nầy tu lên Tỳ khưu đã được 5 hạ. Một hôm, các vị đến xin với Đức Phật học hỏi thêm. Đức Phật hỏi: - Chư Tỳ khưu! Các ngươi muốn học thêm Pháp nào, Pháp Học hay Pháp Hành? Các vị Tỳ khưu xin Thế Tôn dạy cho Pháp Hành Minh Sát, chớ không thể học Pháp vì đã lớn tuổi. Sau khi thọ giáo xong, các vị xin phép Thế Tôn để đi vào rừng hành thiền. Đức Phật hỏi: - Khu rừng nào các ông hướng đến? Chư Tỳ khưu nói tên của khu rừng. Đức Phật biết rằng, khi vào đó Chư Tỳ khưu không sao tránh khỏi kinh sợ hiểm nguy, nếu có Sadi Sañkicca cùng đi sẽ được an toàn. Và sau khi các sự việc được an bài thì các vị Tỳ khưu này sẽ thực hành Phạm Hạnh của người Sa Môn. Sau khi quán xét, Đức Thế Tôn bảo các vị nên đến viếng thăm Trưởng Lão Sāriputta rồi sẽ đi, các vị y lời. Sau khi thăm hỏi xã giao, Trưởng Lão Sāriputta quán xét rằng: "Thế Tôn chư Tỳ khưu nầy đến viếng ta chắc phải có duyên cớ gì?" Trưởng Lão hiểu biết lý do, Ngài hỏi: - Các hiền giả đi vào rừng có Sa di đi cùng không? - Thưa không. - Nếu không có Sa di thì chư hiền giả, nên cho vị Sa di nầy cùng đi. Chư Tỳ khưu ấy từ chối, và nói rằng: - Không được đâu, vì e rằng mang Sa di nhỏ theo chỉ thêm vướng bận, vì tu ở rừng không cần Trưởng Lão giải thích: - Vị Sa di nầy không làm trở ngại cho chư hiền giả, mà chính chư hiền giả sẽ làm trở ngại cho Sa di. Đức Phật dạy các hành giả đến gặp tôi là ý Thế Tôn muốn cho vị Sa di cùng đi. Chư Tỳ khưu ưng thuận và hợp thành 31 người cùng đi. Nói về mẹ của Sa di, bà là con của một gia đình phú hào. Khi mang thai gần đến ngày sinh nở, bà khởi bệnh nặng rồi chết ngay, khi người ta thiêu xác đều cháy cả, ngoại trừ vùng thịt ở bụng không cháy. Họ lấy cây nhọn đâm thủng 2-3 lỗ cho nước chảy ra. Mũi nhọn của cây đòn xóc, chạm nhằm đôi mắt của thai nhi. Sau khi đâm thủng, họ để tử thi trên đống than rồi bỏ ra về. Nhưng sáng hôm sau khi họ trở lại, thì thịt ở bụng đã cháy, chỉ còn lại hài nhi nằm yên trong lòng như đóa hoa sen. Tương truyền rằng, đối với kiếp chót của người trước khi thành đạt Đạo Quả Níp Bàn, dù người ấy có rơi từ núi Tu Di xuống, nếu người ấy chưa đắc quả A-La-Hán cũng không thể hủy diệt mạng sống. Do cái thẹo ở đuôi mắt, nên người ta thường gọi đứa bé là Sañkicca (Đòn Xóc). Khi lên 7 tuổi cậu được xuất gia với Trưởng Lão Sāriputta. Trong khi xuống tóc, vị nầy niệm tưởng đề mục ô trược của thân liền đắc Đạo Quả A-La-Hán cùng Tuệ phân tích. Trên cuộc hành trình xuyên qua một khu làng gồm có 100 người đang cư ngụ. Khi thấy các vị Tỳ khưu đi đến, họ rất vui mừng, đến chăm sóc và dâng cúng những vật dụng cần thiết với lòng tín thành. - Thưa các Ngài định đi đâu? - Chúng tôi đang đi đến chỗ thích hợp để hành thiền. Dân chúng cuối lạy dưới chân các vị Tỳ khưu và thỉnh cầu quý Ngài ở lại nơi làng nầy trong mùa hạ để họ được cúng dường và thọ trì 5 Giới, 8 Giới. Chư Tỳ khưu nhận lời. Rồi họ cho cất Tu Viện và mỗi ngày họ chia nhau sớt bát cúng dường. Một hôm có bọn cướp, với uy lực của chúng, đến buộc các vị Tỳ khưu phải chọn một người để chúng dẫn đi tế thần. Từ vị cao hạ đến vị thấp hạ, tất cả đều tình nguyện hy sinh để cứu mạng cho những vị Tỳ khưu khác. Sa di Sañkicca cũng ứng tiếng xin đi, Chư Tỳ khưu không đồng ý, Sa di phải phân tích lý do: - Trưởng Lão Sāriputta cho tôi theo hầu quý Ngài là để giúp quý Ngài trong khi hữu sự. Sau cùng Chư Tăng ưng thuận. Tên đảng cướp dẫn Sa di về sào huyệt, 30 vị Tỳ khưu nhìn theo ngậm ngùi không cầm được nước mắt. Khi bọn cướp đem Sa di ra hành quyết, Sa di vẫn ngồi nhập định. Tên chúa đảng rút gươm chém hai lần đều bị cong lưỡi kiếm, chúng khiếp sợ và nghĩ: - Việc nầy là gì? Những ai gặp ta cũng đều run sợ, còn vị Sa di nhỏ nầy vẫn ngồi điềm tỉnh không khóc than sợ hãi khi bị ta chém đầu. Chúng sợ hãi quăng bỏ đao kiếm và quỳ lạy Sa di Sañkicca. Sa di xuất Đại Định thuyết Pháp: - Bậc đã thoát ly khỏi khát vọng không còn khổ đau tinh thần, vì đã dứt bỏ sự luyến ái ngũ trần, vị ấy vượt ra ngoài mọi sợ hãi. Chúa đảng, sau khi nghe Pháp xong, xin xuất gia, cả bọn cũng xin xuất gia theo. Sa di thâu nhận đệ tử xong đưa về Tu Viện và thuật chuyện cho 30 vị Tỳ khưu nghe. Các Ngài vô cùng hoan hỷ. Sa di khuyên các vị Tỳ khưu ở lại hành thiền, còn Sa di dẫn 500 đệ tử trở về hầu Đức Phật. Nhân cơ hội nầy, Đức Thế Tôn giải thích về giá trị của đời sống Phạm Hạnh. Ghi chú: - Nirodha Samāpatti (Đại Định): Một trạng thái khi luồng tâm tạm thời ngưng, không trôi chảy nữa. Trong trạng thái ấy, hành giả là bậc Thánh Nhân không bị lâm nguy. - Dussīlo đồng nghĩa với Nissīlo: Không có phạm hạnh, phá giới. - Sīlavantassa: Người phá giới. Dầu người nầy sống đến 100 năm, cũng không bằng người Trì Giới và tu tập hai pháp "Thiền Chỉ hay Thiền Quán" chỉ trong một ngày hoặc giây lát vẫn quý báu cao thượng hơn. * 52- AI SỐNG MỘT TRĂM NĂM Tại Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn trên liên quan đến Tỳ khưu Khāṇu Koṇḍañña. Sau khi nhận được đề mục thiền nơi Đức Phật, Tỳ khưu an cư trong rừng hành đạo đắc Đạo Quả A-La-Hán. Trên đường trở về hầu Phật, Tỳ khưu dừng chân nghĩ mệt trên một tảng đá bằng phẳng, ngồi nhập Đại Định. Cùng đêm ấy, có 500 tên cướp vào làng đánh cướp xong, cũng leo lên tảng đá ấy để chia của cho mỗi người. Trong đêm tối, thấy vị Tỳ khưu ngồi thiền, chúng ngỡ là gốc cây khô, nên treo tất cả đồ đạc cướp được lên đầu vị Tỳ khưu thành một vòng tròn, rồi nằm lăn ra ngủ. Khi trời sáng, chúng thức dậy đến lấy lại từng gói đồ, thấy vi Tỳ khưu chúng kinh ngạc bỏ chạy, vì nghĩ "đây là một vị thần núi". Tỳ khưu Khāṇu Koṇḍañña gọi lại trấn an bọn chúng: - Nầy các ngươi! Ta là người xuất gia đừng sợ hãi. Bọn cướp nghe gọi liền quay trở lại cúi đầu đảnh lễ Ngài và xin xuất gia. Tỳ khưu Khāṇu koṇḍañña đưa tất cả tân Tỳ khưu về diện kiến Đức Phật. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, các vị Tỳ khưu thưa với Ngài rằng: - Chúng con chưa từng thấy ai có năng lực siêu phàm như Trưởng Lão Khāṇu koṇḍañña. Bậc Đạo Sư dạy: - Nầy các Tỳ khưu! Đời trước các ngươi đã tạo nghiệp vô trí như vậy, dù các ngươi có sống cả trăm năm cũng vô ích, không bằng chỉ sống một ngày thôi các ngươi có trí tuệ đầy đủ và tu tập thiền định. * 53- AI SỐNG MỘT TRĂM NĂM Khi ngụ tại Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn trên, liên quan đến Tỳ khưu Sappadāsa. Tại thành Sāvatthi, có một thanh niên danh giá đã xuất gia Tỳ khưu, về sau sanh tâm bất mãn trong Giáo Pháp định hoàn tục. Tỳ khưu tự nghĩ: - Đời sống thế tục làm cư sĩ không phù hợp đối với người ở vị trí như ta, chỉ có cái chết là phù hợp. Nghĩ vậy, Tỳ khưu bắt rắn độc cho cắn, nhưng rắn không cắn, vì đã 3 kiếp nối liền Tỳ khưu là chủ của nó. Về sau, Tỳ khưu lấy dao cạo cắt cuống họng. Khi dao kề sát cuống họng, cũng là lúc Tỳ khưu quán xét lại tưng chi phần trong giới hạnh của bậc Tỳ khưu. vị ấy nhận thấy giới của mình hoàn toàn trong sạch không một tỳ vết nhiễm ô, như trăng rằm trong thời sáng, hoàn toàn tinh khiết như ngọc Mani. Quán trạch Pháp như vậy, vị Tỳ khưu khởi tâm hỷ lạc, toàn thân phát khởi khinh an. Sau khi Ngài xã bỏ hỷ lạc, phát triển tuệ đạo và đắc Đạo Quả A-La-Hán cùng Tuệ Phân Tích. Ý nghĩ tự sát không còn trong tâm trí. Ngài cầm dao trở về Chùa, Chư Tăng nghi ngờ hỏi gạn, Ngài nói lên chánh trí giải thoát của mình: - Tôi đã cắt đứt phiền não bằng lưỡi dao trí tuệ. Chư Tỳ khưu không tin đến hỏi Đức Phật. Đức Thế Tôn giải thích và tán dương đức hạnh chuyên cần tinh tấn của vị Tỳ khưu. Dù chỉ trong giây lát còn hơn người ấy sống cả 100 tuổi, nhưng lười nhác dễ duôi. Ghi chú: Tỳ khưu Sappadāsa trong kiếp trước cũng đã bất mãn trong thiện Pháp như vậy rồi. Duyên lành mà Tỳ khưu đắc Đạo Quả A-La-Hán trong sát na, là do vị ấy đã từng công phu hành Sa Môn Pháp trong 2000 năm trong quá khứ. Đức Phật tuyên bố: "Một vị A-La-Hán không bao giờ tự sát. Khi vị Tỳ khưu tự sát là phạm tác ác, sẽ bị đoạ địa ngục ngắn nhất là trong bảy ngày. Nhưng có trường hợp tự sát nhưng đắc Đạo Quả trong giờ phút chót, như Tỳ khưu Godhika hoặc Tỳ khưu Sappadāsa thì khác, vì các vị nầy chưa cắt cổ thì đã đắc Đạo Quả A-La-Hán". * 54- AI SỐNG MỘT TRĂM NĂM Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn trên, khi Ngài ngụ tại Jetavana, đề cập đến Tỳ khưu Ni Patācārā. Bà Patācārā mất chồng và hai con cùng Cha Mẹ và người em, một trường hợp đau thương bi đát. Nhờ Đức Phật thuyết giảng, bà bớt sầu não và xin xuất gia Tỳ khưu Ni. Ngày kia, trong khi lấy nước rửa chân, bà ghi nhận những giọt nước từ chân rơi xuống, giao điểm trên đường nhỏ giọt, nước chảy rồi tan đi. Điểm tan gần, điểm tan xa, có điểm khác chảy đi xa hơn nữa rồi mới tan. Cảnh tượng nầy gợi cho bà suy niệm về bản chất vô thường của đời sống mà chính bản thân bà kinh nghiệm. Đức Phật dùng tuệ nhãn thấy và biết, Ngài phóng hào quang xuất hiện trước mặt bà và dạy kệ ngôn trên. Cuối bài kệ bà đắc Đạo Quả A-La-Hán. * 55- AI SỐNG MỘT TRĂM NĂM Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn trên khi Ngài đang ngụ tại Jetavana, liên quan đến thiếu phụ Kisā Gotāmī. Thiếu phụ mất đứa con trai duy nhất của bà, vì trong đời chưa bao giờ gặp trường hợp có đứa trẻ bị chết như vậy, nên bà ôm con vào lòng , chạy khắp nơi tìm thuốc cứu chữa. Gặp bậc hiền trí chỉ dẫn, khuyên bà nên đến gặp Đức Phật, Ngài sẽ giúp cho. Bà đưa con đến Đức Phật cầu cứu, Ngài bảo nên tìm cho Ngài ít hột cải trong nhà nào chưa từng có người chết. Hột cải đã có, nhưng bà không gặp gia tộc nào chưa từng có người chết. Bà băn khoăn suy nghĩ: - Khắp cả xóm làng số nhà có người sống thì ít ỏi, nhưng số người chết lại nhiều hơn. Suy niệm như vậy, tự nhiên ánh sáng chân lý bừng vỡ phát sanh đến bà. Bà trở về an táng xác con sau đó đến diện kiến Đức Phật. Đức Thế Tôn thuyết giảng Giáo Pháp: "TAṂ PUTTAPPASUSAMMATTAM "TÂM CÒN BỊ ĐẮM SAY Nghe xong bà đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn, sau đó bà xin xuất gia Tỳ khưu Ni. Ngày kia, khi đang nhìn một ngọn đèn đang cháy chập chờn, bà suy niệm về Pháp "Vô Thường", cứ sanh rồi diệt, diệt rồi sanh như thế mãi. Đức Phật phóng hào quang thị hiện trước mặt bà thuyết kệ ngôn sau: * "AI SỐNG MỘT TRĂM NĂM Cuối bài kệ, Tỳ khưu Ni Kisā Gotāmi đắc Đạo Quả A-La-Hán. 56- AI SỐNG MỘT TRĂM NĂM Pháp thoại nầy được Đức Thế Tôn thuyết giảng khi đề cập đến thiếu phụ Bahuputtikā. Một thiếu phụ đông con, nhiều tài sản. Theo lời yêu cầu của các con muốn phân chia gia sản và chúng hứa sẽ bảo dưỡng bà đầy đủ. Bà xét thấy hữu lý, nên phân chia tài sản cho các con. Nhưng về sau, những đứa con bất hiếu ấy quên lãng, không cung phụng bà. Bà đau buồn tuyệt vọng và xin xuất gia Tỳ khưu Ni. Bà chuyên cần tư duy chánh niệm về Giáo Pháp cao siêu, vì nghĩ rằng: - Ta đã già mới xuất gia, vậy ta hãy nỗ lực hành Sa Môn Pháp. Do nghĩ vậy, ban đêm bà phải nương vào những cây cột để đi kinh hành. Cả ngày lẫn đêm bà tu chỉnh thân tâm, ngồi thiền quán Pháp. Bậc Đạo Sư phóng hào quang xuất hiện trước mặt bà và dạy rằng: - Giáo Pháp ta đã khéo thuyết giảng, người nào không tham cứu, không nhìn thấy. Người ấy dù có sống 100 năm cũng không bằng người thấy Pháp, hiểu Pháp, chỉ sống trong một ngày. Đức Thế Tôn giải thích cho bà hiểu rõ tầm quan trọng của Giáo Pháp. Cuối kệ ngôn, bà đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn. * 57- NẾU NGƯỜI LÀM ĐIỀU ÁC Kệ ngôn nầy được thuyết giảng, khi Đức Thế Tôn ngụ tai Jetavana, đề cập đến Tỳ khưu Seyyasaka. Tỳ khưu Seyyasaka, là bạn đồng tu với Tỳ khưu Laludāyi. Vị ấy bất mãn vì không chiến thắng nỗi tình dục và đã thú thật với Tỳ khưu Laludāyi. Khi ấy, Tỳ khưu Laludāyi khuyến khích ông nên tà dâm và nói: - Mỗi khi có tâm buồn bực khởi lên, thì ông hãy như tôi đây… Tỳ khưu Seyyasaka vẫn rơi vào buồn bực, bất mãn và tiếp tục phá giới trầm trọng, gọi là phạm tội "Tăng Tàng" (Saṅghādisesa: vị Tỳ khưu phạm vào giới luật Tà Dâm.). Đức Phật biết được sự việc, cho gọi Tỳ khưu đến quở trách và khuyến cáo kệ ngôn trên. Ngài kết luận rằng: - Một việc làm như thế, không thể nào tránh thoát sự khổ đau… Ghi chú: - Nếu người mới làm ác lần đầu, mà biết suy xét ngay rằng: "Việc nầy không tốt đẹp, đưa đến kết quả khổ đau…", rồi đi đến quyết định không tái phạm, thì sau đó nếu dục tương có sanh khởi lên, người ấy cũng ngăn trừ không dám hành động quấy nữa, vì sự chất chứa, tích trữ làm cho điều ác mỗi ngày càng tăng trưởng, khiến cho người thọ khổ lâu dài. * 58- NẾU NGƯỜI LÀM ĐIỀU THIỆN Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn nầy tại Chùa Jetavana liên quan đến Cô Tiên nữ Lājā. Trưởng Lão Kassapa nhập thiền diệt tại hang động Pipphali. Sau 7 ngày xuất thiền, trước khi tiến hành đi khất thực, Ngài quán xét các nơi xem ai có đủ duyên lành để tế độ. Với thiên nhãn siêu nhân, Ngài trông thấy một thiếu nữ đang trông coi đồng lúa, đang nhặt các loại lúa khô ra. Nhận thấy người thiếu nữ ấy hữu duyên, lại có đức tin, có lễ giáo. Trưởng Lão liền lâm y mang bát đến ruộng lúa của nàng. Khi trông thấy Ngài, dù nghèo, nhưng giàu lòng nhân đạo, nàng vội cúng dường đến Ngài một ít nếp rang. Sau khi cúng dường xong, trên đường về, nàng bị rắn cắn chết. Liền ngay khi ấy, do quả phước của sự bố thí nàng tái sanh vào cõi Trời 33, trong một tòa lâu đài bằng vàng. Trên thân mang đủ thứ nữ trang, nàng đứng trước một tòa nhà kim ốc, giống như một giấc mơ. Nàng suy xét: "Do nhân duyên gì, ta lại có mặt ở nơi đây?" Ngay lập tức hiểu biết lý do, nàng khởi tâm hỷ lạc, trở xuống nhân loại, lau dọn cốc liêu cho Đại Đức Kassapa, để bồi đắp thêm công đức. Khi Trưởng Lão biết được, Ngài ngăn cãn. Bị cấm chế, vị Tiên Nữ buồn lòng, bay bổng lên hư không và đứng khóc. Với Phật nhĩ, Đức Thế Tôn nghe được, Ngài liền phóng hào quan đến và khuyên bảo cô Tiên nữ rằng: Nầy Tiên nhân! Đệ tử của ta nghiêm trì giới luật, thu thúc sáu căn, nên không cần người nữ gánh vát. Tuy nhiên, việc làm phước của nàng sẽ được an lạc trong hai đời. Sau đó Đức Phật thuyết kệ ngôn trên, khi nghe xong, vị Tiên nữ đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn. * 59- NGƯỜI ÁC THẤY LÀ HIỀN 60- NGƯỜI HIỀN THẤY LÀ ÁC Pháp thoại nầy được thuyết giảng khi Đức Thế Tôn đang ngụ tại Jetavana, đề cập đến gia chủ Anāthapindika (Cấp Cô Độc). Ông Cấp Cô Độc, phát tâm cúng dường 540 trệu tiền vàng trong việc xây dựng Chùa Jetavana. Ông thường xuyên đến chăm sóc Đức Phật và Chư Tăng ngày 3 lần, suốt thời gian Đức Phật ngụ tại Tu Viện ấy. Bất cứ lúc nào khi ông đến thăm viếng Đức Phật và Chư Tăng, ông điều có mang theo trên tay những thực phẩm thích hợp. Ông đã tiêu xài phần lớn gia sản, do đó, vị Chư Thiên ngụ tai trong nhà ông ngăn cản ông bớt tạo phước. Ông không màng đến, cứ tiếp tục cúng dường để phát triển đạo tâm. Đức Phật khen ngợi hạnh bố thí của ông và khuyến dạy hai bài kệ trên nói đến hậu quả hành động tốt của ông Cấp Cô Độc và hành động xấu của vị tiên nữ ngụ trong nhà ông. Ghi chú: - Người ác thấy là hiền: Người có hành động bỏn sẽn, ác xấu, lại luôn sống dồi dào phong phú. Những nguời nầy do nhờ tiềm năng của những nghiệp thiện trong quá khứ, nên họ được an vui vì thiện nghiệp đang thắng thế và đàn áp nghiệp bất thiện trong hiện tại, dù bỏn sẽn vẫn thấy giàu. Chỉ khi nào ác nghiệp chín muồi, chừng ấy mới thấy nhiều sự việc xảy đến rất khốn cùng. Cũng vậy, có nhiều người đạo đức hiền lương, lại gặp hoạn nạn khốn cùng. Vì tiềm năng của nghiệp xấu trong quá khứ mạnh hơn và áp chế nghiệp lành trong hiện tại. Khi nào các hành động thiện đúng lúc trổ quả, nó sẽ đem lại hạnh phúc dồi dào. * 61- CHỚ CHÊ KHINH ĐIỀU ÁC Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy, khi đề cập đến một vị Tỳ khưu xài phung phí đồ vật của Chùa. Mặc dù đã được các vị đồng tu chung nhiều lần khuyên giải, nhưng vị Tỳ khưu ấy vẫn một mực bỏ qua không để ý và mãi phạm phải lỗi lầm, vì cho rằng chuyện nhỏ không đáng lưu tâm. Khi câu chuyện đến tai Đức Phật, Ngài bèn cho gọi vị Tỳ khưu ấy đến trước mặt. Đức Phật, vị ấy cũng nói rằng: - Chúng ta không nên quá quan tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhen như thế. Đức Phật dạy rằng: - Không nên xem thường lỗi nhỏ, dù là lỗi nhỏ nhen chút ít. Một vật vô tri, ví như bình nước, từng giọt mưa rơi xuống, lâu ngày rồi bình cũng đầy tràn. Cũng vậy, những việc ác xấu, dù nhỏ, nhưng nếu mãi tái phạm nhiều lần, cũng trở thành tai hại to lớn. Cuối bài Pháp, vị Tỳ khưu ấy đắc Sơ Quả. Nhân dịp nầy, Đức Phật ban hành học giới: - Tỳ khưu nào sử dụng đồ vật của Chùa như giường ghế, v.v…khi ra đi không xếp cất hay nhờ người dọn dẹp, phạm "Ưng Đối Trị". * 62- CHỚ CHÊ KHINH ĐIỀU THIỆN Người thiện trí, sau khi nghe Đức Phật giảng về 3 đặc tính của người làm phước: 1) Tự mình làm phước và kêu gọi người khác cùng làm: Tương lai ta được giàu sang và có đông quyến thuộc cũng giàu như ta. 2) Tự mình không làm phước, nhưng kêu gọi người khác làm: Tương lai ta có quyến thuộc đông và giàu sang, nhưng riêng ta nghèo. 3) Tự mình làm phước, không muốn rủ ai: Tương lai ta giàu, nhưng cô thế. Người thiện trí hoan hỷ, thỏa thích với chân lý kỳ diệu mà Đức Phật đã giảng. Qua ngày sau, ông liền thực hiện việc kêu gọi, cổ động mọi người nhiều ít tùy thích. Khi ấy có ông Bá Hộ, thấy và nghe kêu gọi hùn phước như vậy, ông khởi tâm sân hận và nói rằng: - Các ngươi tự dưng thỉnh mời Sư sải trai tăng, rồi lại đi kêu gọi nơi nầy, nơi kia hùn phước cúng dường. Do sự bục bội, khi bị hùn phước, ông chỉ lấy ba ngón tay chụm lại, nắm một chút gạo, một chút đậu… để cúng dường. Kể từ đó ông có biệt danh "Bá Hộ chân mèo" (Bilālapadava). Tuy vậy, người thiện trí vẫn nhận vật thí của ông một cách cẩn trọng. Đến ngày dâng cúng trai tăng, ông Bá Hộ sợ người ta sẽ đem tên tuổi của mình ra bôi nhọ, ông suy nghĩ: - Nếu họ bôi lọ ta, do ta hùn phước ít thì với con dao nầy ta sẽ giết họ. Tuy nhiên, trong buổi lễ trai tăng, người thiện trí vẫn cám ơn đồng đều tất cả mọi người, dù họ tạo phước ít hay nhiều. Nghe lời cảm tạ của người thiện trí, ông Bá Hộ suy nghĩ: - Đây là người tốt, nếu ta không sám hối với người thiện trí ấy, thì các vị Thiên Thần sẽ đánh ta bể đầu. Nghĩ vậy, nên ông cúi mặt úp xuống chân của người thiện trí để thú nhận lỗi lầm: - Xin bạn hãy tha lỗi cho tôi… Nhân cơ hội nầy, Đức Phật giảng về giá trị của việc làm thiện. Ghi chú: Người thiện trí khi tạo phước, không nên coi thường việc phước đã làm, dù việc phước ấy nhỏ nhoi. Cũng như những giọt mưa cứ rơi liên tục vào bình, đến một lúc nào đó bình sẽ đầy tràn. Cũng vậy, những việc thiện tuy nhỏ, nhưng ta cứ tiếp tục tích lũy nhiều ngày, một lúc nào đó sẽ trở thành phước báu to lớn. * 63- HẠI NGƯỜI KHÔNG ÁC TÂM Kệ ngôn nầy được thuyết giảng, khi Đức Thế Tôn đang ngụ tại Jetavana, đề cập đến người thợ săn Koka. Người thợ săn, một hôm vào rừng với bầy chó. Trên đường đi, ông gặp một vị Tỳ khưu. Trọn buổi hôm ấy, ông không săn được gì. Lúc trở về, ông cũng gặp vị Tỳ khưu ấy nữa. Những ý nghĩ tà vạy khởi lên trong tâm ông rằng: - Tại vị Sư trọc đầu nầy, nên hôm nay ta xui xẻo không săn được thịt. Ông nỗi giận, xua đàn chó vồ vị Tỳ khưu vô tội. Vì hoảng sợ vị Tỳ khưu ấy trèo lên cây thoát nạn. Người thợ săn chưa hết giận, liền bắn theo một mũi tên vào vị ấy. Bị tên trúng cào gót chân, do đau và lúng túng, vị Tỳ khưu làm rơi cái y xuống phủ trùm lên người thợ săn. Đàn chó dữ ngỡ là địch thủ trên cây rơi xuống, liền bu lại cắn người thợ săn đến chết, sau đó đàn chó biết mình lầm nên bỏ chạy vào rừng. Vị Tỳ khưu thoát nạn trở về hầu Phật, vì tâm hoang mang không biết mình có tạo nghiệp ác hay không? Đức Phật khai sáng chân lý và thuyết về hậu quả xấu sẽ càng tăng trưởng đối với kẻ nhẫn tâm gây tổn hại cho người vô tội, ví như người tung bụi ngược chiều gió thổi. Nghe xong, nhiều vị Tỳ khưu đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn. * 64- KHÔNG TRÊN TRỜI DƯỚI BIỂN Kệ ngôn nầy, được Bậc Đạo Sư thuyết giảng khi Ngài ngụ tại Jetavana đề cập đến 3 nhóm Tỳ khưu vào hầu Phật. Ba nhóm Tỳ khưu, mỗi đoàn đi hành đạo ở một trú xứ khác nhau. Sau 3 tháng các vị trở về diện kiến Đức Phật. Trên đường về, nhóm thứ nhất, ghé vào làng khất thực, thấy người thiếu phụ nấu cơm bị bốc lửa cháy nhà tranh. Cùng lúc đó con quạ bay ngang qua, tự chui đầu vào lửa chết thiêu. Chư Tỳ khưu luận bàn: - Chuyện nầy ngoài Đức Phật ra, không ai có thể giải thích được. Rồi một đoàn Tỳ khưu khác có giang thuyền của những người thương buôn. Thuyền ra ra giữa biển khơi bỗng nhiên khựng lại. Họ kiểm tra toàn bộ máy móc điều tốt, họ bàn với nhau: "Chắc có người nào xui xẻo ở trong thuyền", rồi họ bài cách bắt thăm. Cả 3 lần bắt thăm, vợ của người thuyền trưởng đều trúng thăm xấu, họ đề nghị: - Không vì phụ nữ mà để cho đại chúng bị hại. Thuyền trưởng đành chấp nhận thả người vợ của mình xuống biển, nhưng vì không muốn thấy xác nàng nổi trôi trên biển, nên bảo người cột nàng vào bao cát rồi hãy thả xuống biển. Một nhóm Tỳ khưu khác nữa, gồm có bảy vị sống ở miền biên địa. Trên đường trở về, tá túc trong một hang động. Đến nửa đêm, một tảng đá to rơi xuống chấn bít cửa hang. Mọi người bên ngoài bảo nhau: - Các vị Tỳ khưu khách đang ngụ trong hang đã bị đá lấp cửa . Dân chúng tập hợp nhau đẩy ra, nhưng không nỗi. Chư Tỳ khưu bên trong dùng sức đẩy ra cũng không được đành chịu đói khát trong bảy ngày. Đến ngày thứ bảy, bổng nhiên tảng đá bật ra. Khi về đến Chùa, Chư Tỳ khưu trình lên sự việc, Đức Phật giảng rằng: - Con quạ bị chết cháy, tiền kiếp nó là người nông dân do sân hận đã thiêu sống con bò. - Người vợ thuyền trưởng bị thả xuống biển. Tiền kiếp nàng là một thiếu phụ đã trấn nước một con chó trong một bao cát. - Các vị Tỳ khưu bị đá lấp miệng hang trong bảy ngày, tiền kiếp của bảy vị là những chú mục đồng đã nhốt con Kỳ Đà trong ổ mối 7 ngày đói khát. Đức Phật khuyến cáo thêm rằng: "Không ai có thể tránh thoát được hậu quả của những ác nghiệp đã gieo." Cuối bài Pháp, Ba nhóm Tỳ khưu đắc Sơ Quả, và những người nghe Pháp khác cũng hưởng ứng nhiều lợi ích. Ghi chú: Theo chân lý nghiệp báo , không ai có thể van lơn cầu cạnh, hay hối lộ, gian lận, tránh né mà có thể thay đổi được định luật. Dù có lẫn trốn tận cung trăng, hoặc giữa đại dương sâu thẳm, hay chui vào rừng sâu, động núi cũng không tránh được hậu quả của ác nghiệp. Không có vị nào, dù là Đức Phật cũng không có thể can thiệp vào sự báo ứng của nghiệp. * 65- NGƯỜI NGU LÀM ĐIỀU ÁC Kệ ngôn nầy được thuyết giảng, khi hai vị trưởng Lão Moggallāna và Lakkhaa từ núi đi xuống trông thấy con Ngạ quỷ dài 25 do tuần, trong hình dạng con trăn co rút, lửa bốc cháy toàn thân. Khi câu chuyện được trình lên Đức Phật, Ngài giải thích, đó là do những hành vi ác xấu của nó trong quá khứ. Vì tức giận nó đốt ruộng rẫy, đốt nhà, đốt tư thất, cắt chân bò... Đây là sự báo ứng của nghiệp, do tính ngông cuồng, độc ác trong quá khứ. Tương truyền: Trong thời Đức Phật Chánh Đẳng Giác Kassapa, có ông Bá Hộ Sumaṅgala cúng dường một khu đất rộng và xuất ra một số tiền lớn để cất Chùa. Sáng sớm ông đến viếng Đức Phật, thấy một tên trộm nằm co trong trại lá, đầu trùm tấm vải vàng, hai chân dính đầy bùn. Thấy vậy, ông nói: - Chắc người nầy đã đi rong trong đêm, nên về nằm đây. Tên trộm giở tấm vải trùm đầu ra, thấy ông Bá Hộ liền cột oan trái. Rồi từ đó trở đi, nó lén đốt ruộng rẫy của ông bảy lần, lén vào chuồng bò cắt nhượng chân của bò. Cũng chưa hết giận, tên trộm tìm hiểu ông thường thích cái gì thì hủy hoại cái đó. Được biết ông thích đi Chùa, tên trộm thừa lúc Đức Phật Kassapa đi khất thực, lén vào đập bể những bình đựng nước uống, nước xài, rồi châm lửa đốt Chùa. Ông Bá Hộ vội chạy đến Chùa, với đôi tay đưa lên reo to: - Do hỏa hoạn nầy, ta sẽ có cơ hội tạo phước xây cất Tu Viện thêm một lần nữa. Nhân lúc khánh thành Chánh Điện mới, ông Bá Hộ nói lên sự chia phước- đồng đều cho tất cả, nhất là những ai cố tình hủy phá Chánh Điện cũ. Nghe được diệu âm của ông Bá Hộ, tên trộm vô cùng hối hận "thật sự ta đã vi phạm một trọng tội". Như có một từ trường thúc đẩy tên trộm bước ra ngoài lộ diện và cúi đầu xuống đất đảnh lễ ông Bá Hộ để xin tội và mong ông chấp nhận đem cả vợ con đến làm tôi tớ trong nhà ông đến trọn đời. Ông Bá Hộ nói: - Tha lỗi, thì tôi thật lòng tha thứ cho ông, nhưng cho vợ con của ông về giúp trong nhà, thì việc nầy chưa cần. Sau kiếp sống ấy, tên trộm chết đọa địa ngục Avīci. Hậu quả của những hành động ác chưa hết, nên nay nó phải chịu khổ trong kiếp sống làm Ngạ Quỷ ở núi Kênh Kênh. - Nầy chư Tỳ khưu, những người có hành vi ác xấu, vì nông cạn, không biết được hậu quả của ác nghiệp ra sao. Chính do nghiệp ác ấy là của riêng họ. * 66- THẬT KHÓ TÌM Ở ĐỜI 67- NHƯ NGỰA HIỀN TRÁNH ROI Kệ ngôn nầy được Bậc Đạo Sư thuyết giảng khi Ngài đề cập đến Tỳ khưu Pilotika. Đại Đức Ānanda cảm hóa một thanh niên hành khất xuất gia. Thanh niên treo tất cả đồ hành khất của mình trên cành cây rồi đi đến Chùa. Sau đó nhiều lần chán nãn trong Giáo Pháp, vị ấy muốn hoàn tục, và đi đến cành cây để lấy lại đồ hành khất, nhưng rồi thấy hổ thẹn nên trở lui về Chùa. Vài ngày sau, Tỳ khưu nầy cũng buồn chán nữa và cứ thế đi đi lại lại nơi cành cây ấy, rồi tự giác lui về. Tình trạng ấy cứ diễn ra như vậy mãi, tâm vị Tỳ khưu đang bị áp chế bởi hoàn cảnh, đã gây sự chú ý đến Chư Tăng, khi được mọi người hỏi: - Đại Đức đi đâu? - Tôi đến viếng Thầy tôi. Một ngày kia, nhìn vào các đồ hành khất rách vá làm đối tượng quán tưởng, tâm vị Tỳ khưu trở nên vắng lặng. Và cũng tại nơi đây vị Tỳ khưu trẻ đắc Đạo Quả A-La-Hán, khi ấy không còn đi đến cành cây nữa. Một hôm Chư Tăng hỏi: - Sao lúc nầy Đại Đức không đến viếng Thầy? - Bây giờ tôi đã tuyệt giao rồi. Chư Tăng không toại ý, trình lên Đức Phật sự việc, Đức Phật dạy: - Thật vậy, con trai ta lúc cần tiếp xúc để nhắc nhở thì đến, bây giờ đã tự chế ngự được và đắc Đạo Quả A-La-Hán nên tuyệt giao. Đức Phật thuyết kệ ngôn trên để giảng về tâm bất mãn của vị Tỳ khưu trước kia và kệ ngôn sau nói đến đức chuyên cần cao quý sau nầy. Ghi chú: - Người biết thẹn tự chế: Khi tâm bị dòng ý nghĩ xấu xâm nhập, vị Tỳ khưu hay cư sĩ phải tự mình biết hỗ thẹn, phải nỗ lực diệt trừ dòng ý tưởng ấy ngay tức khắc. Con người như thế thật hiếm hoi. * 68- HÃY XEM BONG BÓNG ĐẸP |