|
KINH PHÁP CÚ Thiện Nhựt [01]
-ooOoo- I.- Phẩm Song-yếu (1).- Tích chuyện vị T ăng mù.Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến chuyện một vị tăng mù tên là Cát-Khư. Nguyên, lúc bấy giờ, vị Tăng mù Cát-Khư đến đảnh-lễ Đức Phật. Chiều hôm ấy, ông đi kinh-hành bên ngoài, vô-ý đạp chết nhiều côn-trùng. Sáng hôm sau, nhiều vị tăng trẻ tuổi thấy xác côn-trùng, sanh ra hiểu lầm, cho rằng vị Tăng Cát-Khư phạm giới sát-sanh. Họ liền vào thưa trình với Đức Phật. Phật hỏi: "Các ông có chính mắt trông thấy Cát-Khư giết hại côn-trùng không?" Các vị tăng đáp, không. Phật bảo: "Các ông chẳng thấy ông ta giết, cũng như ông ta đã chẳng thấy các côn-trùng dưới chơn, khi đi kinh-hành. Hơn nữa, Cát-Khư đã chứng được quả-vị A-la-hán rồi, chẳng hề có ý-định sát-sanh, nên chẳng có phạm tội." Các vị tăng lại hỏi, vì sao vị Tăng đã chứng được quả-vị A-la-hán mà hai mắt lại bị mù, Đức Phật mới kể lại câu chuyện xưa như sau: Trong một đời về tiền-kiếp, Cát-Khư là một vị y-sĩ có danh-tiếng. Một người đàn-bà bị đau mắt, đến thưa cùng ông: "Nếu ông chữa lành đôi mắt tôi, tôi nguyện tôi và các con cái của tôi sẽ làm nô-lệ cho ông." Khi người đàn-bà ấy đã lành mắt, lại muốn nuốt lời, bảo rằng đôi mắt còn tệ hơn trước. Cát-Khư biết rõ người ấy nói dối mình, nên căm-thù và đưa cho một thứ thuốc xoa vào mắt. Người đàn-bà bất-hạnh đó bị mù luôn. Vì tội-ác nầy, Cát-Khư phải sanh ra mù-loà trong nhiều đời sống kế-tiếp, cho đến hiện nay. Sau khi kể xong, Đức Phật liền đọc lên bài kệ: Nơi muôn pháp, ý đi
tiền-đạo; TÌM HIỂU: A.- Nghĩa CHỮ: - Phẩm Song-yếu: Bộ Kinh Pháp-Cú có 26 chương, mỗi chương gọi là một Phẩm. Phẩm đầu-tiên nầy tên là Song-yếu (Song = hai; yếu = quan-trọng), gồm có nhiều bài kệ sắp thành từng cặp hai bài. Bài số 1 nầy được học chung với bài kệ số 2, ở phiá sau; cả hai bài cùng có liên-quan đến một ý-nghĩa chung. - Tăng: đàn-ông, con trai, vào chùa tu theo đạo Phật. Nếu là giới phụ-nữ thì gọi là Ni. - Cát-Khư: Thiện Nhựt mạn phép đặt tên Việt cho vị tăng nầy, để dễ đọc; trọn tên vị A-la-hán nầy bằng tiếng Pali là Cakkhupàla. - Kỳ-viên-tự: chùa Kỳ-viên, tên tiếng Pali là Jetavana. Nguyên Thái-tử Kỳ-đà có khu vườn đẹp; ông Cấp-cô-độc muốn mua để cất tịnh-xá cho Đức Phật và Tăng-đoàn ở tu. Thái-tử bảo, lót vàng lên khắp mặt đất, ông sẽ bán cho. Ông Cấp-cô-độc làm theo, còn các hàng cây cao chẳng thể lót vàng lên được. Thái-tử cười, tặng cả khu vườn để xây tịnh-xá. Vì thế, tịnh-xá có tên là Kỳ-viên-tự (Kỳ = tên của Thái-tử Kỳ-đà; viên = vườn; tự = chùa). Trong các kinh, thường gọi nơi nầy là Kỳ-thọ Cấp-cô-độc-viên, nghĩa là ngôi chùa của Ông Cấp-cô-độc xây trong vườn có hàng cây của Thái-tử Kỳ-đà. - Xá-vệ: một nước ở miền Bắc Ấn-độ ngày xưa, quê-hương của Đức Phật Thích-ca. Tên Pali là Sàvathi. - kinh-hành: kinh = kinh; hành = đi. Đi kinh-hành là bước đi chầm-chậm từng bước, trong tâm im-lặng, hoặc vừa đi vừa niệm Phật. Còn gọi là thiền-hành. - giới sát-sanh: giới = điều răn cấm của người tu-hành; sát = giết; sanh = sanh-vật có mạng sống. Sát-sanh là giết hại mạng sống, là điều răn cấm thứ nhứt trong giới-luật của đạo Phật. - quả-vị A-la-hán: quả = kết-quả, khi tu thành-công; vị = ngôi-vị; A-la-hán = tiếng Phạn là Arhat, tiếng Pali là Arahant, người đã chứng được quả-vị thứ tư, cao nhứt trong hàng Thanh-văn. Thanh-văn là những vị đệ-tử sống gần bên Đức Phật, nghe giảng Pháp mà tu-tập, để lần-lượt chứng các quả vị: (1) Tu-đà-huờn, (2) Tư-đà-hàm, (3) A-na-hàm, và (4) A-la-hán. Ba quả-vị trước thuộc bực Hiền; quả-vị A-la-hán là bực Thánh, chẳng còn phiền-não và hết phải sanh trở lại trong vòng Luân-hồi. - tiền-kiếp: tiền = trước; kiếp = các đời sống: trước, sau và hiện-tại, kể chung lại. Tiền-kiếp là kiếp trước, đời sống trước khi sanh thành người vào đời thời nầy. - nô-lệ = đày-tớ ở trọn đời với chủ, chẳng có tự-do cá-nhơn riêng. - muôn pháp: muôn = mười ngàn, ở đây, chỉ số nhiều; pháp = tất cả sự sự, vật vật, có thể đặt tên để gọi. Ví-dụ: cái xe, con trâu, người ta, ý-nghĩ, lời nói, v.v. đều là pháp cả. - tiền-đạo: tiền = trước; đạo = đường; Ý muốn nói, trong mọi việc, ý khởi lên trước nhứt, dẫn đầu mọi việc khác. - kinh, kệ: kinh = lời giảng về pháp-tu của Phật hay Bồ-tát, được ghi chép lại; kệ = bài thơ ngắn tóm tắt lại lời kinh đã giảng. - Pháp-Cú: dịch chữ Pali là Dhammapada. Dhamma = Pháp = ở đây, có nghĩa là pháp-tu, đường lối tu-hành đi tìm Chơn-Lý. Cú = câu văn. Kinh Pháp-Cú nằm trong Tiểu-Bộ-Kinh, thuộc Kinh-Tạng, trong Tam Tạng Kinh-Điển. Kinh nầy ghi chép lại các bài kệ của Phật nói, nhơn một tích chuyện có thật xãy ra. Việc ghi chép nầy được thực-hiện sau khi Đức Phật đã lià đời. B.- Nghĩa Ý: 1.- Ý-nghĩa của Tích chuyện: Tích chuyện mang hai ý-nghĩa: - một, kể lại việc, vì mù chẳng thấy côn-trùng ở dưới chơn, nên vị tăng chẳng phạm tội sát-sanh khi đạp chết chúng, lúc đi kinh-hành. Đức Phật bảo, vì chẳng có ý-định sát-sanh, nên chẳng phạm tội đó. Vậy, điều quan-trọng trong tội-lỗi, chính là ý ác khởi lên trước trong tâm. - hai, kể lại việc báo thù của vị y-sĩ. Tại sao ông bị mù nhiều kiếp? Theo câu chuyện, chính ông có ác-ý, muốn hại người đàn-bà phải mù, để báo thù việc bà đã nói dối với ông. Ác-ý đó là nguyên-nhơn khiến cho ông phải chịu khổ-sở vì mù-loà, qua nhiều đời kế-tiếp. 2.- Ý-nghĩa của bài Kệ: - Ý-nghĩa quan-trọng nhứt của bài Kệ là: trước khi nói-năng hay hành-động, từ trong tâm, ý đã khởi lên trước, khiến cho ta phải nói hay làm theo. Nếu có ý xấu, thì lời nói cùng việc làm, vì đó mà xấu theo. Rồi vì có ác-ý, có lời xấu, có việc làm dữ, nên phải chịu hậu-quả cũng xấu theo, là phải khổ-sở. Hễ có ý chẳng trong-sạch, rồi hành-động, hay nói, sai-lầm, thì sẽ phải khổ, theo sau liền, đâu tránh được. Diễn lại nghĩa nầy, giáo-lý nhà Phật gọi đó là luật Nhơn-quả: gây nhơn ác, chịu quả xấu. - Hình-ảnh quan-trọng do bài Kệ gợi lên: Câu chót của bài Kệ gợi lên hình-ảnh cái bánh xe lăn theo chơn con trâu kéo phiá trước. Bánh xe chẳng thể ngừng, nếu con trâu phiá trước đang bước tới. Đó cũng như, đã có ý ác sẵn rồi, thì lời nói, việc làm chẳng thể tốt đẹp được. Lại nữa, lời nói, việc làm đã xấu thì người nói hay làm sẽ phải chịu sự khổ sở về sau, chẳng có cách nào thoát khỏi. Hình-ảnh bánh xe đang quay tượng-trưng cho vòng Luân-hồi (Luân = bánh xe; hồi = trở lại; quay hết một vòng rồi trở lại quay tiếp, chẳng ngừng.) Còn ở trong vòng Luân-hồi, là còn phải chịu cảnh sanh, già, bịnh, chết để rồi lại sanh trở lại, nối-tiếp khổ mãi. HỌC TẬP: 1.- Học thuộc lòng bài Kệ: đặc-biệt ghi nhớ: ý làm chủ, ý gây nên mọi việc khiến ta phải trôi lăn trong cảnh khổ của Luân-hồi. 2.- Trong ba nghiệp: nghiệp thân, nghiệp miệng và nghiệp ý thì ý-nghiệp là quan-trọng nhứt. Vì có nghiệp, nên con người phải chịu khổ trong cảnh Luân-hồi. Vậy, phải làm sao cho nghiệp được trong-sạch, mới dứt hết khổ. Dứt nghiệp bằng cách thanh lọc ý-nghiệp trước. 3.- Tập thanh-lọc tâm-ý: thanh-lọc tâm-ý là làm cho lòng mình được trong-sạch. Bằng cách nào? Bằng cách dẹp bỏ những ý-nghĩ xấu; hễ khi biết mình đang nghĩ quấy, phải liền dứt bỏ. Thí-dụ như đang nhớ đến việc xấu của người, đó là tâm mình đang bị "dơ", dơ vì mình để chỗ xấu của người len lọt vào tâm mình. Ai làm xấu mặc ai, mình chỉ nghĩ tốt. (2).- Tích chuyện thanh-niên được sanh lên cõi Trời.Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến Mã-Thà, một chàng thanh-niên dòng Bà-la-môn, được sanh lên cõi Trời. Vào thời ấy, có một người Bà-la-môn giàu-có, nhưng rất rít-róng, chẳng ưa bố-thí cho ai cả. Ông tên là A-Đinh, chỉ có một đứa con trai, tên là Mã-Thà. Ông hà-tiện đến nổi chẳng chịu mua sắm vật trang-sức cho con mà chính tay ông lại làm lấy, để khỏi phải tốn tiền công thợ. Khi Mã-Thà đau nặng, ông chẳng chịu rước thầy thuốc để trị. Mãi cho đến khi bịnh-tình quá trầm-trọng, hết phương cứu chửa, ông liền đem giường con nằm ra để ngoài hàng ba, hướng về bàn thờ thần mưa ngoài sân, vì bụng ông sợ các người đến thăm-viếng, nhìn thấy đến của-cải trong nhà. Sáng sớm hôm ấy, trong cơn thiền-định thâm-sâu, Đức Phật quán thấy cảnh thương-tâm của thanh-niên Mã-Thà đang nằm trước hàng ba ở nhà. Khi cùng với các đệ-tử vào thành Xá-vệ để khất-thực, Đức Phật liền đi đến trước cửa nhà ông A-Đinh và đứng dừng lại đó. Ngài phóng hào-quang chiếu vào nhà, khiến cho Mã-Thà phải chú-ý, quay đầu ra ngoài và nhìn thấy Phật. Vì bịnh quá nặng, Mã-Thà chỉ có thể dùng tâm-tư của mình, hướng về Phật mà đảnh-lễ. Thế cũng đủ! Ngay khi thở hơi cuối cùng, với tấm lòng kính-mộ Đức Phật sẵn trong tâm, Mã-Thà liền được sanh lên cõi Trời Đao-Lợi. Từ trên cung Trời nhìn xuống, Mã-Thà thấy cha mình đang đau buồn ở nghĩa-điạ, chàng liền hiện thân xuống bên cha, như hồi còn sống. Mã-Thà thưa với cha, kể lại vì sao mình đã được sanh lên cõi Trời sung-sướng và thúc-dục cha nên thỉnh Đức Phật về nhà để dâng cơm cúng-dường. Bấy giờ, trong nhà ông A-Đinh mọi người đang bàn-tán về việc, có thật hay chẳng có thật, chỉ cần dùng tâm-ý kính-mộ Đức Phật là đủ để sanh lên Trời. Đoán biết được tâm-trạng còn nghi-ngờ của mọi người, tâm Đức Phật liền triệu-thỉnh Mã-Thà từ cung Trời Đao-Lợi. Mã-Thà liền vâng lịnh, trong y-phục đẹp-đẽ của chư Thiên, hiện xuống nhà cũ, đứng giữa mọi người, kể lại nhờ tâm biết kính-lễ Đức Phật mà được sanh Thiên. Bấy giờ, Đức Phật liền đọc lên bài Kệ: Nơi muôn pháp, ý đi
tiền-đạo, TÌM HIỂU: A.- Nghĩa CHỮ: - Mã-Thà: Thiện Nhựt mạn phép đặt tên Việt cho chàng thanh-niên nầy, tên thật bằng tiếng Pali là Matthakundali. - A-Đinh: cha của Mã-Thà; tên thiệt của ông là Adinnapubbaka. - Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ trong xã-hội xưa ở Ấn-độ. Có bốn giai-cấp, từ trên xuống dưới: (1) Bà-la-môn, tu-sĩ; (2) Sát-đế-lợi, vua, quan; (3) Phệ-xá, buôn bán, (4) Thủ-đà-la, công-nhơn. - Bàn thờ thần mưa: theo tục-lệ bên Ấn-độ, thờ thần mưa gió, đặt bàn thờ ngoài sân, cũng tựa như bình-dân Việt có bàn thờ ông Thiên. - Thiền-định: ngồi Thiền và nhập định, nghĩa là lắng yên tâm-tư trong cảnh vắng-lặng, chẳng theo cảnh bên ngoài, chẳng bị ý bên trong trì-níu. Quán: suy-nghĩ sâu-xa, nhìn thấy bằng tâm-tư. Khất-thực: khất = đi xin; thực = ăn. Đây là giới-hạnh Đức Phật đặt ra, buộc mọi vị tỳ-kheo phải mang bình bát đi ăn xin từng nhà, chớ chẳng được làm nghề khác để sanh-sống. Hạnh khất-thực khiến cho người tu-hành dẹp bỏ được sự kiêu-căng, cúi mình đi ăn xin, và có dịp gặp người thế-tục để giảng-dạy về pháp Phật. Hào-quang: ánh-sáng phát ra từ người tu-hành đã chứng Đạo. Đảnh-lễ: cúi đầu làm lễ, kính lạy. Mã-Thà chỉ đảnh-lễ Phật bằng ý-nghĩ thôi, vì lúc ấy anh đang đau nặng. Cõi Trời Đao-Lợi: cõi Trời nầy, tiếng Pali là Tavatimsa. Còn gọi là Cõi Tam-thập-tam thiên, nghĩa là cõi Trời có 33 cảnh: mỗi phương có 8 cảnh, do một vị Thiên-đế cầm đầu, và ở trung-ương có Vua Đế-Thích ngự-trị. Cúng-dường: dưng phẩm-vật lên để tỏ lòng kính-trọng. Vốn do đọc trại ra chữ Hán-Việt Cung-dưỡng ( = cung-cấp và nuôi dưỡng). Kính-mộ: kính = cung-kính; mộ = ái-mộ; kính-mến. Triệu-thỉnh: triệu = gọi đến; thỉnh = mời đến; cho gọi tới. Sanh Thiên: sanh lên cõi Trời. B.- Nghĩa Ý: 1.- Ý-nghĩa của Tích chuyện: Tích chuyện mang hai ý-nghĩa: - một, vì tỏ lòng kính-lễ Đức Phật, vào lúc sắp lià đời, nên chàng thanh-niên Bà-la-môn được sanh lên cõi Trời hưởng sự sung-sướng. Theo kinh sách, được thác-sanh vào cõi Trời, cuộc đời sẽ kéo dài lâu hơn ở trần-gian, mọi nhu-cầu đều được thoả-mãn đầy-đủ, chẳng phải lo việc ăn-uống, sống trong cung-điện huy-hoàng và muốn đi đâu liền được đến đấy. Nhưng khi hưởng hết phước lành, chư Thiên bị suy-thoái và còn phải chịu cảnh Luân-hồi, trở lại cõi trần hay đoạ vào các nẻo dữ. Người Phật-tử biết chọn mục-tiêu giải-thoát hoàn-toàn, chẳng lấy việc sanh lên Trời làm mục-đích, mà chọn con đường đi đến Niết-Bàn, chấm dứt cuộc tử-sanh, sống tịch-tĩnh trong niềm thường-vui. - hai, thái-độ đáng trách của ông A-Đinh quá keo-kiệt: con đau chẳng rước thầy thuốc; đến lúc con lâm-nguy, lại đem ra bỏ ở hàng ba. Đó chính là vì bụng dạ quá rít-róng hà-tiện. Theo kinh-sách, những người như thế, sẽ thác-sanh vào hàng ngạ-quỉ ( = quỉ đói), luôn luôn bị đói khát. Để trị bịnh xan-tham nầy, kinh-sách dạy phải năng bố-thí. Trong các hình-thức bố-thí, sự dâng cúng lễ-vật đến các bực chơn-tu là hình-thức cao quí, chỉ thua việc pháp-thí ( = giảng-dạy Chánh-pháp cho kẻ khác biết được đường tu giải-thoát) mà thôi. Thanh-niên Mã-Thà, vì thế, đã khuyên cha nên thỉnh Phật đến nhà mà cúng-dường. Đó là việc tạo phước-đức thật to-lớn, khiến cho thí-giả ( = người đem của ra bố-thí) được sanh lên cõi Trời vào đời sau. 2.- Ý-nghĩa của bài Kệ: - Ý-nghĩa quan-trọng nhứt của bài Kệ là: cũng như bài Kệ số 001, ý làm chủ, ý gây ra mọi việc, từ lời nói đến việc làm. Nếu đem tâm-ý thanh-tịnh mà nói lên, hoặc hành-động, thì sẽ được vui hưởng điều lành. - Hình-ảnh do bài Kệ gợi lên: Câu chót của bài Kệ: "Khác nào bóng chẳng lià hình" đã diễn-tả LUÂT NHƠN-QUẢ rất rõ-ràng bằng hình-ảnh: NHƠN là hình, còn QUẢ là bóng, là ảnh. Khi có ánh-sáng, ta chẳng thấy hình của vật nào mà chẳng có bóng của nó cả. Ở đời cũng vậy, chẳng có một sự-việc nào làm nguyên-nhơn gây ra mà chẳng có hậu-quả của nó đi kèm theo. Chẳng có cách nào để tách rời bóng với hình ra, cũng chẳng có cách nào để khiến cho một nguyên-nhơn chẳng gây ra hậu-quả được. Trong bài Kệ số 001, tâm-ý chẳng trong-sạch làm nguyên-nhơn gây ra hậu-quả xấu, còn gọi là ác-báo. Trong bài Kệ số 002, tâm-ý sáng trong làm nguyên-nhơn tạo nên thành-quả tốt, còn gọi là phước-báo. HỌC TẬP: 1.- Học thuộc lòng bài Kệ: bài Kệ số 002 dễ nhớ, nhờ đã thuộc sẵn bài Kệ số 001; chỉ cần đổi: "tâm-ý chẳng trong" ra "tâm-ý sáng trong", và trước thì: "khổ đồng theo sau", còn sau thì đổi ra "vui đồng theo sau". Và học thêm câu chót: "Khác nào bóng chẳng lià hình", vốn là một câu thường nghe nói ở đời. 2.- Một cách thanh-lọc tâm-ý: Mô Phật! Ta thường thấy các cụ già mô Phật, mỗi khi nghe một câu nói chẳng vừa ý mình: đó là cách làm cho mình chẳng nổi lên tức-giận. Tiếng Mô Phật nầy chẳng nên thốt lên ngoài đầu môi chót lưỡi, mà khi nói, phải quay vào bên trong tâm mình, xem coi cơn giận nổi lên có còn đó hay không, hay đã bớt tức chút nào chưa. Người nào biết Mô Phật như thế là biết làm cho lòng mình trở nên trong-sáng hơn. Thường người ta cũng mô Phật khi nghe một câu nói thiện-lành. Đó là làm cho tâm mình đang trong-sáng, lại càng trong-sáng hơn. (3) Tích chuyện Trưởng-lão Thi-Sa. Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, ở nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến vị Tăng ngoan-cố là Tôn-giả Thi-Sa. Tôn-giả Thi-Sa vốn là con nguời dì của Đức Phật, từng sống chung với Đức Phật khi Ngài còn là Thái-tử. Đến khi trộng tuổi, tôn-giả mới xuất-gia, thường tự coi mình là một vị Tăng Trưởng-lão. Thế nhưng đối với những nghĩa-vụ của một tăng-nhơn mới nhập-đạo, Tôn-giả thường hay xao-lãng; lại luôn cãi-vã náo-loạn lên với các vị tăng trẻ tuổi. Nếu có ai khiển-trách, thì Tôn-giả khóc lên, chạy đi mét với Đức Phật. Một ngày kia, Thế-tôn hỏi ông: "Nầy Thi-Sa, cớ làm sao mà ông ưu-phiền đến nổi nước mắt chảy quanh mi như thế?" Thi-Sa vừa cãi-vã với một nhóm tăng-nhơn xong, liền thưa với Phật rằng: "Nếu họ đến đây để gặp Thế-tôn, thì chắc con chẳng phải ưu-phiền như vầy!" Vừa lúc ấy, các tăng-nhơn ấy đến lễ-bái Phật. Thi-Sa liền thưa: "Bạch đức Đạo-sư, các vị tăng nầy mới vừa khiển-trách con đây." Thế-tôn hỏi: - Hiện-tại, ông đang ở chỗ nào? - Con đang ở tại Đại-sảnh-đường, Thế-tôn. - Ông có thấy chúng tăng đi đến đây không? - Con có thấy, Thế-tôn. - Ông có đứng dậy nghinh-tiếp họ không? - Chẳng có, Thế-tôn. - Ông có đưa tay ra mời, dắt họ vào trong hay không? - Chẳng có, Thế-tôn. - Nầy Thi-Sa, ông chẳng nên có thái-độ như thế, đối với những người đã vào Đạo trước ông. Ông nên hướng về họ mà ngỏ lời xin lỗi đi. - Thế-tôn, con chẳng chịu xin lỗi họ đâu! Chúng tăng liền thưa với Đức Phật: - Thế-tôn, vị tăng nầy rất là ngoan-cố. Thế-tôn đáp: - Nầy chư tăng, ông ta ngoan-cố như thế chẳng phải là lần thứ nhứt. Tại tiền-kiếp, ông ta cũng đã tỏ ra rất ngoan-cố rồi. Chư tăng thỉnh-cầu Phật cho biết về tiền-kiếp, tôn-giả Thi-Sa đã ngoan-cố như thế nào. Do đó, Đức Phật mới kể lại câu chuyện xưa như sau đây: Thuở xưa, có một vị tăng tu khổ-hạnh tên là Đề-va-la ngụ trên dãy núi Hi-mã-lạp-sơn. Vào đầu mùa mưa, ông quay về thành Ba-la-nại để mua muối, dấm và định lưu lại đây hết bốn tháng mưa dầm. Tại cửa thành, ông gặp hai vị tăng-nhơn trẻ tuổi, liền hỏi: "Các du-tăng đến thành nầy, thường trú-ngụ tại đâu?" Họ đáp, tại lò gốm. Đề-va-la liền đi đến lò gốm, xin ngủ qua đêm tại đó, và được chủ lò gốm chấp-thuận. Độ một lúc sau, lại có một vị du-tăng khác, tên là Na-ra-đa, cũng đến xin tá-túc. Hai người thi lễ với nhau rồi cùng tạm trú trong lò gốm bỏ trống về đêm. Đến giờ đi ngủ, Na-ra-đa cẩn-thận xem Đề-va-la nằm ở đâu và cửa ra vào ở phía nào, rồi mới đi nghỉ. Thế nhưng một chập sau, Đề-va-la lại đổi chỗ, đến nằm gần bên cửa cái. Về khuya, Na-ra-đa cần đi ra ngoài, chẳng để-ý, đạp nhằm đầu của Đề-va-la. Đề-va-la hét lên: - Ai đạp lên đầu ta vậy? - Chính con là Na-ra-đa, con xin Sư-phụ tha lỗi. - Mi là một tên ác-tăng, sống ở rừng-rú, cứ nhè đầu ta mà đạp lên. - Con chẳng biết Sư-phụ đã đổi chỗ nằm, xin Sư-phụ tha tội. Na-ra-đa liền đi ra ngoài. Trong lúc đó, Đề-va-la sợ bị đạp lần nữa, quay sang nằm chỗ khác. Lúc vào, Na-ra-đa cẩn-thận tránh chỗ cũ, đi chầm-chậm từng bước sờ-soạng, nhưng lại rủi thay lần nầy lại đạp trúng ngay cổ của Đề-va-la. - Ai vậy? - Chính con! Thật con chẳng biết Sư-phụ lại dời qua bên nầy, xin Sư-phụ từ-bi tha tội cho con. - Mi quả thật là tên ác-tăng. Lúc đi ra, đạp đầu ta, lúc trở vào lại đạp cổ ta. Ta phải niệm chú nguyền-rủa mi mới được. - Muôn vàn xin Sư-phụ từ-bi hỉ-xả mà tha tội cho con, xin đừng niệm chú. Nhưng Đề-va-la chẳng tha, cứ niệm chú: - Nguyện đầu mi sẽ bể thành bảy mảnh vụn vào lúc mặt trời mọc. Na-ra-đa trong cơn thiền-định, nhận thấy chú-ngữ lại có phãn-ứng quay ngược lại hại người đang trù-rủa. Na-ra-đa liền vận thần-thông khiến cho mặt trời chẳng mọc lên được. Lúc bấy giờ, Quốc-vương thành Ba-la-nại biết được chuyện tại sao mặt trời chẳng mọc, lền giận-dữ và buộc Đề-va-la phải xin lỗi, để cho mặt trời mọc. Nhưng Đề-va-la nhứt-định chẳng tuân lịnh, cứ tiếp-tục niệm chú. Bấy giờ, Na-ra-đa mới thưa: - Bạch Sư-phụ, con sắp làm phép cho mặt trời mọc trở lại; nhưng đầu của Sư-phụ sẽ bị bể. Sư-phụ mau mau lấy đất sét trét lên đầu, rồi lặn xuống sông ngay, đến chỗ cạn mới trồi lên. Đề-va-la biết cơn nguy-khốn sẽ xãy ra cho mình, liền vội lấy đất sét trét lên đầu và lặn xuống sông. Đến khi trồi lên, mặt trời chiếu rọi, lớp đất sét trên đầu liền bể tan thành bảy mảnh vụn, nhờ đó mà thoát chết. Đức Phật kết-thúc câu chuyện: "Đề-va-la chính là Thi-Sa ngày nay, vị Quốc-vương là A-nan-đà, còn Na-ra-đa chính là Ta đây." Rồi Đức Phật mới đọc lên hai bài Kệ như sau: "Nó mắng tôi, nó đánh đập
tôi, "Nó mắng tôi, nó đánh đập
tôi, TÌM HIỂU: A.- Nghĩa CHỮ: - Trưởng-lão: trưởng = lớn; lão = già. Trưởng-Lão =vị Tăng có nhiều tuổi Đạo ( = dự một kỳ an-cư kiết-hạ vào mùa hè là thêm một tuổi Đạo) - Tôn-giả: tôn = tôn-trọng; giả = người; bực đáng tôn-kính. - Thi-Sa: tên thật bằng tiếng Pali là Tissa. - Đề-va-la: tên thật bằng tiếng Pali là Devala. - Na-ra-đa: tên thật bằng tiếng Pali là Narada. - A-nan-đà: tên thật bằng tiếng Pali là Ananda. - Thái-tử: thái = lớn; tử = con; người con trai lớn của Vua, sau sẽ nối ngôi. - Trộng tuổi: đã lớn tuổi; vào khoảng trên bốn, năm mươi trở lên. - Xuất-gia: xuất = đi ra; gia = nhà; rời nhà đi tu; trái nghĩa với chữ tại-gia là còn ở nhà, tu tại-gia. - Ưu-phiền: ưu = lo-lắng; phiền = buồn lòng; buồn rầu. - Khiển-trách: quở trách, trách móc. - Đại-sảnh-đường: đại = lớn; sảnh =phòng; đường = nhà; căn phòng lớn trong nhà, tức là phòng khách. - Chúng tăng: chúng = số đông; tăng = tu-sĩ theo đạo Phật. - Nghinh-tiếp: nghinh = chào đón; tiếp = tiếp đón. - Thế-tôn: thế = thế-gian; tôn = tôn trọng; bực được cả thế-gian tôn-trọng, tức là Đức Phật. Các tỳ-kheo gọi Phật là Thế-tôn; Phật tự xưng là Như-Lai. - Ngoan-cố: cứng đầu, chẳng chịu vâng lời. - Thỉnh-cầu: cầu xin; tiếng để thưa với các vị đáng tôn-trọng. - Khổ-hạnh: khổ = cực khổ; hạnh = hành-động, hạnh-kiễm; đây là lối tu-hành ép-xác chịu cực-khổ nhiều. - Ba-la-nại: thành-thị lớn ở Ấn-độ, còn có tên gọi là Vanarasi, hay là Bénarès. Chính ở một ngôi vườn gần thành nầy (vườn Lộc-uyển) Đức Phật đã giảng bài pháp đầu-tiên (Kinh Chuyển Pháp-Luân) cho năm anh em ông Kiều-trần-như nghe. - Du-tăng: du = đi đó đi đây; tăng = tu-sĩ Phật-giáo; các vị du-tăng đi khắp nơi để tìm thầy học đạo, chẳng ở một nơi nhứt-định nào. Còn gọi là vị tăng hành-cước. - Tá-túc: tá = nhờ vào, ở nhờ; túc = đêm; ở nhờ qua đêm. - Thi lễ: thi = thi-hành, làm; lễ = chào; làm lễ chào hỏi nhau. -Sư-phụ: thầy; thầy dạy Đạo (sư = thầy; phụ = cha). - Ác-tăng: ác = dữ; tăng = tu-sĩ; tiếng để mạt-sát nhà tu-hành. - Từ-bi hỉ-xả: theo nghĩa thông-thường là hãy mở lòng thương mà tha tội cho. Theo nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, Từ là đem sự vui đến cho kẻ khác; Bi là cứu giúp kẻ khác khỏi khổ-đau; Hỉ là vui mừng khi thấy kẻ khác thành-công; Xả là buông-bỏ chẳng cố-chấp. Trong Phật-học, từ, bi, hỉ, xả, được gọi là Tứ vô-lượng Tâm, nghĩa là bốn tấm lòng rộng-rãi thương người (từ), cứu giúp người (bi), vui mừng khi thấy người sung-sướng (hỉ ), chẳng cố-chấp lỗi của người (xả ). Đây là đường-lối tu-hành của bực Bồ-tát. - Niệm chú: niệm = đọc ra tiếng hay đọc thầm; chú = còn gọi là chơn-ngôn, chú-ngữ, lời nói bí-mật được tin-tưởng là có hiệu-lực thần-bí. - Nguyền-rủa: trù ẻo; mong cho kẻ khác bị hại. - Thần-thông: phép-lực siêu-nhiên, trhí dụ như bay trên không. - Quốc-vương: quốc = nước; vương = vua. - Tâm-niệm: tâm = lòng; niệm = ở đây, là ý-nghĩ, tư-tưởng. - Oán-hận: oán = oán-thù; hận = hờn-giận. B.- Nghĩa Ý: 1.- Ý-nghĩa của Tích chuyện: Tích chuyện có các ý-nghĩa sau đây: (1).- Bổn-phận của người mới vào tu đối với người đã tu lâu: Để tỏ lòng kính-trọng đối với người đã đi trước mình, người mới vào đạo phải kính-nhường, đón chào, kính-lễ và vâng lời. Vị Tăng Thi-Sa đã thiếu sót trong bổn-phận nầy, mặc dầu đã được Phật nhắc nhở. (2).- Sự ngoan-cố chỉ đem hại lại cho người ngoan-cố: - Thi-Sa chẳng chịu xin lỗi với chúng tăng và chẳng đứng dậy chào đón, mời họ vào Đại-sảnh-đường, nên mới bị Phật quở-trách. - Đề-va-la cứ niệm chú để nguyền rủa Na-ra-đa, mặc dầu đã được xin lỗi, phải chịu hậu-quả tai-hại của lời chú quay ngược lại hại mình - Người ngoan-cố phải chịu đau buồn vì trong lòng bị ý-tưởng xấu trì-níu, khuấy rối, xúi-dục làm điều quấy. (3).- Thái-độ từ bi của vị Tăng Na-ra-đa: Nhờ thiền-định quán thấy ảnh-hưởng tai-hại của chú-ngữ sẽ xảy đến cho Đề-va-la, Na-ra-đa đã vận-dụng thần-thông cho mặt trời chẳng mọc. Lại chỉ cách cho Đề-va-la trét đất sét lên đầu, lặn xuống sông, để khỏi bị bể đầu. Đây là Na-ra-đa đã biết đem ơn mà trả oán. 2.- Ý-nghĩa của hai bài Kệ: Ý-nghĩa quan-trọng của cả hai bài Kệ nầy là chỉ cách cho ta dẹp được niềm oán-hận đang nung-nấu trong tâm. (1).- Tại sao sanh ra oán-giận? Hai câu đầu của cả hai bài Kệ nêu rõ nguyên-nhơn sanh ra oán-giận: - "Nó mắng tôi": tôi sanh ra oán-giận nó, vì lời nói của nó làm chạm tự-ái của tôi. -’‘Nó đánh-đập tôi": tôi sanh ra oán-giận nó, vì hành-động của nó xâm-phạm đến thân của tôi. - "Nó thắng tôi": tôi sanh ra oán-giận nó, vì nó hơn tôi. - "Nó cướp đoạt tôi": tôi sanh ra oán-giận nó, vì nó đã giựt lấy tài-sản của tôi. Tóm lại, chỉ vì nó đã xâm-phạm đến tôi và những gì của tôi, mà tôi sanh ra oán-giận. Tôi giận vì tôi thấy những gì tôi quí đang bị xâm-phạm. (2).- Khi mình sanh ra giận-hờn, thì lòng mình như thế nào? So-sánh hai câu thứ ba và thứ tư ở cả hai bài Kệ, ta thấy: (a).- Thái-độ khác nhau giữa người giận và người chẳng giận: - "Ai ôm-ấp mãi tâm-niệm ấy": người giận cứ ghim chặt trong bụng mình lời nói và hành-động của người đã xâm-phạm mình; -’‘Ai sớm vứt đi tâm-niệm ấy": người chẳng giận biết gạt khỏi bụng mình lời nói và hành-động của người đã xâm-phạm mình. (b).- Kết-quả về phía người bị chọc giận: - "Oán-hận chẳng nguôi, nặng cõi lòng": cơn giận khởi lên, chẳng những làm cho người giận tức-tối lên, nó còn đè nặng cõi lòng nữa, nghĩa là, nó nung-nấu, sôi sùng-sục, kéo dài sự khó chịu cho đến chừng nào quên giận đi thì mới thôi. - "Oán-hận liền nguôi, nhẹ cõi lòng": cơn giận chẳng kịp nổi lên, lòng người bị chọc giận cảm thấy nhẹ-nhàng và vui hơn, vì đã "thắng" được mình, khi biết người gây oán-hận dầu có nói hay làm gì cũng chẳng "thấm" vào trong mình mình được. HỌC TẬP: 1.- Học thuộc lòng hai bài Kệ nầy. Học xong bài Kệ số 003, là thuộc luôn cả bài Kệ số 004. Tại sao? - Vì chỉ cần đổi có mấy chữ rất quan-trong nầy: đổi chữ ôm-ấp ra thành chữ vứt đi; đổi chữ chẳng nguôi ra thành chữ liền nguôi; đổi chữ nặng cõi lòng ra thành chữ nhẹ cõi lòng. 2.- Làm sao mà "Vứt Đi" được để cho "Nhẹ Cõi Lòng"? Học thuộc lòng hai bài Kệ thì chẳng quá khó; đổi mấy chữ ở bài Kệ số 003 ra mấy chữ ở bài Kệ số 004 cũng chẳng phải quá khó, nhưng từ "Nặng cõi lòng" mà trở nên "Nhẹ cõi lòng" thì chẳng phải dễ. Phải tu cả đời mới khiến cho lòng mình được thanh-tịnh, nhẹ-nhàng. Tôi xin đề-nghị vài cách "Vứt Đi cái Giận-Hờn" như sau: - Cách thứ nhứt: hãy tìm ngay một ly nước lạnh, chẫm rãi uống từng ngụm và tự nói với mình: "Đừng có giận làm gì cho mệt!" - Cách thứ hai: nếu chẳng có sẵn ly với nước, thì xin ngẩng đầu lên, nhắm mắt lại và chẫm-rãi hít vào một hơi dài, nghe luồng không-khí đi sâu vào, rồi thở từ từ ra, cũng nghe hơi xuyên qua lỗ mũi; thở như thế đến năm, mười hơi thì có lẽ người đang nói nặng kia cũng phải ... nín. - Cách thứ ba: đừng nhìn vào người đang nói nặng, hãy nhìn vào bên trong lòng mình và thành-tâm niệm nho-nhỏ: Mô Phật! Chớ nên niệm ở đầu môi chót lưỡi, mà phải niệm chơn-thành, nếu tưởng thấy được tượng Phật đang ngồi trên toà sen thì rất quí. Tôi chắc niệm chừng năm sáu tiếng như thế, người nói nặng kia cũng ... bực mà nói: "Tao nói mầy có nghe không?" Ấy, đó là hiệu-lực của câu niệm đấy! Cứ niệm tiếp-tục, đừng trả lời, rồi thì chỉ còn tiếng Mô Phật, mà tiếng chửi bới im! Trong ba cách nầy, tôi thấy cách thứ ba hiệu-nghiệm nhứt. Không tin, xin mời bạn gặp dịp làm thử xem! Nhưng mà, khi bạn đang giận, bạn đâu biết bạn giận để đi tìm nước uống, để thở dài hơi, để Mô Phật. Vậy chỗ khó là chính mình phải biết mình đang giận, để tìm cách khắc-phục cơn giận. Làm sao biết? 3.- Câu hỏi: "Mình đang giận, làm sao biết mình đang giận?", nghe có vẻ lẩm-cẩm, nhưng câu hỏi đó chứa một sự-thật rất quan-trọng, và câu trả lời chẳng phải dễ tìm thấy. Sự-thật quan-trọng đó là, khi giận người ta như điên lên, chỉ biết hướng về đối-tượng mà trả thù cho hả cơn giận, chớ đâu có thời-giờ quay vào bên trong lòng mình mà nhìn xem tâm mình đang sôi sùng-sục như nồi cơm đang nấu trên bếp. Câu trả lời cho xác-đáng chẳng dễ tìm là vì rất khó cho mình nhìn biết tâm mình một cách vô-tư. 4.- Tại sao rất khó cho mình nhìn biết tâm mình một cách vô-tư? - - Vì mình hay hướng ra bên ngoài, ít khi chịu quay vào bên trong để tự quán-sát và tự phán-xét mình. Nếu biết quay vào bên trong tâm mình, kinh sách gọi đó là phản quang tự-kỷ, nghĩa là dùng ánh-sáng của tâm-trí mình quay về chiếu rọi lấy tâm-trí của chính mình. - Vì mình hay binh-vực mình, ít khi chịu thẳng-thắn nhìn lấy lỗi của mình, lại hay tìm cớ để bào-chửa cho cái Ta của mình. Nếu biết quên được cái Ta đó, hay cao hơn nữa biết vứt bỏ luôn cái Ta đó, kinh-sách gọi là thông-đạt được lẽ Vô-ngã của nhà Phật (vô = chẳng có; ngã = cái Ta). Và nếu chẳng những tâm-trí biết được lẽ Vô-ngã mà cả ý-tưởng, lời nói và việc làm đều theo đúng lẽ Vô-ngã, thì đang chứng-đắc được điều quan-trọng nhứt trong công việc tu-hành: tu là tu tâm mình. 5.- Thế nào là "Tu là tu tâm mình"? - Tu chẳng phải là chỉ ăn chay, đi chùa, lạy Phật, tụng kinh, niệm Phật mà đủ. Các việc vừa kể rất cần-thiết, nhưng chỉ là những hình-thức giúp cho mình biết hướng về bên trong mình, tập sao cho tâm-trí mình trở nên nhẹ-nhàng, trong-sáng hơn. Đến được mức tâm thamh-tịnh là được GIÁC-NGÔ và GIẢI-THOÁT. 6.- Bốn bài Kệ đầu-tiên trong Kinh Pháp-Cú vạch ra rõ con đường TU TÂM cho ta. Hai bài Kệ số 1 và số 2 chỉ rõ Tâm-Ý là nơi ta phải làm sao cho trong-sáng lên. Hai bài số 3 và số 4 dạy cách vứt đi sự Sân-Hận, để cho Tâm được nhẹ-nhàng hơn. Có ba món độc làm cho Tâm nặng-nề chẳng giải-thoát được: Tham, Sân và Si. Con đường tu tâm là dẹp sạch ba món độc-hại đó để được GIÁC-NGÔ và GIẢI-THOÁT. Chỉ có thế! (4).- Tích chuyện về nữ-quái Kha-Ly. Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ. Trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc hai người phụ-nữ có mối thù truyền-kiếp. Vào thời xa xưa, một gia-chủ kia có một người vợ hiếm-hoi, chẳng sanh con cái. Bà sợ bị chồng phụ-bạc, nên dàn-xếp để cưới thêm một người vợ thứ cho chồng. Khi người vợ thứ có thai, người vợ lớn lén để thức-ăn kỵ-thai cho người vợ thứ ăn, thành ra bị hư-thai. Đến khi thụ-thai lần sau, người vợ lớn cũng ghen-tức và dùng mưu-kế cũ, khiến cho người vợ thứ phải chết. Trước khi lâm-chung, người đàn-bà bất-hạnh đó phát lời thề là sẽ báo thù người vợ chánh và con cái của bà ta. Do đó, mối oan-cừu nhiều đời khởi lên từ đấy. Trong hai kiếp sống Luân-hồi tiếp theo, cả hai người tái-sanh, một đời, làm gà mẹ và mèo cái; một đời, làm nai cái với beo gấm. Đến đời sau nữa, một người được sanh vào một nhà quí-tộc ở nước Xá-vệ; còn một người hiện thân làm nữ-quái tên là Kha-Ly. Một ngày kia, nữ-quái Kha-Ly rượt đuổi theo người phụ-nữ quí-tộc đang bồng con trên tay. Bà mẹ sợ con bị hại, nghe nói có Đức Phật đang giảng pháp tại Kỳ-viên-tự, mới ôm con chạy vào, đặt đứa con dưới chơn Phật để xin bảo-hộ. Nữ-quái Kha-Ly đuổi theo đến cổng chuà, bị vị giữ cửa ngăn lại, chẳng cho vào. Đức Phật quán thấy thế, liền bảo người canh cổng cứ cho vào, để Ngài chỉ-dạy cho cả hai người phụ-nữ. Sau khi hỏi đầu-đuôi câu chuyện, Đức Phật liền kể lại ngọn ngành mối thù truyền-kiếp từ các đời trước của họ: hai người vợ, cùng có chung một chồng, ghen-tức nhau; mèo cái giết hại gà con của mẹ gà; beo gấm ăn thịt nai tơ của nai cái, và cho đến nay, một người có con còn một người chạy theo bắt. Đức Phật liền giải-thích cho họ biết, tâm sân-hận làm cho oán-thù càng ngày càng tăng-gia; chỉ có thiện-ý hoà-giải và tình hữu-nghị mới có thể chấm dứt hận-thù. Cả hai cảm-động nghe lời Phật dạy và nhờ đó mà vui-vẻ với nhau, quên mối thù xưa. Đức Phật liền bảo người mẹ bồng đứa con trao cho nữ-quái. Bà mẹ ngần-ngại một lát, rồi vâng lời. Nữ-quái ôm lấy đứa con, hôn-hít nó như con mình đẻ, rồi trả nó lại cho mẹ nó. Đến đây, mới thật chấm dứt hẳn mối thù giữa hai người. Bấy giờ, Đức Phật mới đọc lên bài Kệ: Chuyện thù-oán ở thế-gian TÌM HIỂU: A.- Nghĩa CHỮ: - Nữ-quái: nữ = đàn-bà, cô gái; quái = kỳ-dị . Theo trong kinh, đó là một hạng chúng-sanh, gọi là ngạ-quỉ, nghĩa là quỉ đói. - Gia-chủ: gia = nhà; chủ = chủ; chủ nhà. - Hiếm-hoi: nói về người đàn-bà chẳng sanh con được. - Phụ-bạc: phụ = làm trái ngược; bạc = lạt-lẽo; phụ-ơn và bạc-tình, nghĩa là chẳng thương mến, ghét bỏ. -Vợ chánh, vợ thứ: theo chế-độ đa-thê ( = có nhiều vợ), người chồng, ngoài người vợ chánh-thức, còn có thể cưới thêm nhiều người vợ thứ khác nữa. Vợ chánh có quyền làm bà chủ nhà; trong khi đó, vợ thứ đóng vai phụ-thuộc như người ở trong nhà. - Thụ-thai: mang thai trong bụng. - Kỵ-thai: chất gây nguy-hiểm đến tánh-mạng của cái thai. - Hư-thai: cái thai chết trước khi được sanh ra khỏi bụng mẹ. - Lâm chung: lâm = vào lúc; chung = hết; vào lúc sắp chết. - Bất-hạnh: bất = chẳng có; hạnh = hạnh-phước; xấu số, vô-phước.; gặp chuyển rủi-ro, nguy-hiểm. - oan-cừu = thù-oán. - Tái-sanh: tái = một lần nữa; sanh = sanh đẻ; sanh lại lần nữa. - Quí-tộc: quí = cao-sang; tộc = dòng họ; nhà giàu-sang. - Kha-Ly: tên thật bằng tiếng Pali là Kàlayakkhini. - Bảo-hộ: che chở cho. - Truyền-kiếp: truyền = chuyển tới; kiếp = đời sống; nhiều đời. - Thiện-ý: thiện = lành; ý = tư-tưởng; ý-tưởng lành, tốt. - Hoà-giải: hoà = yên lành; giải = mở ra; vui hoà với nhau, chẳng tranh-chống nhau nữa. - Hữu-nghị: hữu = bằng-hữu, bè-bạn thân; nghị = tình giao-kết; tình bạn thân-thiết với nhau. - Thiên-thu: thiên = một ngàn; thu = mùa thu; ngàn thu, ngàn xưa B.- Nghĩa Ý: 1.- Ý-nghĩa của Tích chuyện: Tích chuyện kể lại mối thù nhiều đời giữa hai người đàn-bà ghen-tức nhau: một đời làm vợ chung một chồng, một đời làm mẹ gà và mèo cái, một đời làm nai cái và beo gấm, đến thời Đức Phật, trở lại làm người. Nguyên-nhơn chỉ vì một người có con, một người chẳng có, nên ganh-tức hại mẹ con người kia. Nhờ Đức Phật hoà-giải, chỉ cho họ thấy, chẳng thể lấy oán mà báo oán, phải đem lòng thân-hữu mà đối xữ với nhau thì thù-hận mới tiêu-tan. 2.- Ý-nghĩa của bài Kệ: Lấy oán mà báo oán, oán oán kéo dài mãi mãi. Bỏ lòng oán-giận thì mọi mối thù-hận sẽ tiêu-tan. Đó là định-luật từ ngàn xưa và vẫn còn đúng đến ngàn sau. HỌC TẬP: 1.- Hãy cắt đứt dây oan-trái: người hại mình, mình hại lại, người lại trả thù, như thế, cả hai bị ràng buộc trong mối dây oan-trái ( = nợ oán). Muốn thoát khỏi sự ràng-buộc nầy, chỉ có cách là chẳng nên thù-oán ai, nên nhẫn-nhục chịu đựng và có lòng tha-thứ rộng-rãi. 2.- Vài đề-nghị: - bị người lấn, chớ xô lại; hãy tránh ra xa, cả hai đều vui cả. - bị người nói xấu, chớ tìm cách vạch lỗi người để bêu-riếu vì người cũng sẽ làm như thế đối với mình. Kết-quả cả hai đều xấu và lại chẳng chịu nhìn mặt nhau trong niềm vui, hoá ra cả hai cùng khổ cả. - đem lòng thù ai khiến mình nặng lòng như mang một hòn đá. (5).- Tích chuyện chư T ăng ở Cô-sâm-bi.Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có nhắc việc chư Tăng ở Cô-sâm-bi tranh-cãi nhau. Lúc bấy giờ, chư Tăng ở Cô-sâm-bi chia rẽ nhau ra thành hai nhóm: một nhóm theo vị Giáo-thọ chuyên-giảng về Luật-Tạng và một nhóm theo vị Giáo-thọ chuyên-giảng về Kinh-Tạng. Họ tranh-cãi với nhau luôn. Ngay cả Đức Phật cũng chẳng thể khiến cho họ thôi cãi-vã, do đó Đức Phật mới rời bỏ họ, đi đến rừng Pali-lai, ngụ trong khu vườn Ra-khi-ta, sống qua mùa An-cư kiết-hạ một mình, được voi Pali-lai theo hầu-cận. Các thiện-nam, tín-nữ ở Cô-sâm-bi, nghe tin Đức Phật đã rời Kỳ-viên-tự và khi biết được lý-do tại sao Ngài lại ra đi, họ liền từ-chối chẳng tiếp-tục cúng dường, dưng thực-phẩm cho các vị tỳ-kheo còn ở lại nữa. Điều nầy khiến cho chư Tăng phải lâm vào cảnh khổ-sở, vì lúc bấy giờ là mùa An-cư kiết-hạ, chư Tăng chẳng được phép đi ra ngoài khất-thực. Bấy giờ, họ mới tỉnh-ngộ và ý-thức được lỗi-lầm đã tranh-cãi nhau. Họ bắt đầu hoà-giải với nhau và chấm dứt sự chia-rẽ. Nhưng các thiện-nam, tín-nữ vẫn chưa chịu kính-nễ, cúng-dường họ như xưa, cho đến khi nào họ đến sám-hối tội-lỗi trước Đức Phật. Nhưng vì Đức Phật ở xa và đang mùa an-cư, nên chư Tăng phải sống qua ba tháng hè trong sự thiếu-thốn. Khi mùa an-cư chấm dứt, Đại-đức A-nan-đà mới hướng-dẫn chư Tăng đến lễ Phật và trình lời thỉnh-cầu của ông Cấp-cô-độc và tín-chúng, khẩn-khoản mời Phật quay về tịnh-xá Kỳ-viên. Bấy giờ, Đức Phật mới trở về, theo sau có cả các vị tỳ-kheo. Khi về đến chùa Kỳ-viên, chúng Tăng đồng quì dưới chơn Phật, sám-hối tội-lỗi. Đức Phật mới quở-trách họ đã cãi lời Ngài và dạy rằng, mọi người ai cũng sẽ chết, tranh-cãi nhau ích-lợi gì đâu. Rồi Đức Phật liền nói lên bài Kệ sau đây: Đời lắm kẻ chẳng ngờ sự chết TÌM HIỂU: A.- Nghĩa CHỮ: - Cô-sâm-bi: tên điạ-danh nầy theo tiếng Pali là Kosambi. - Rừng Pali-lai: tên khu rừng nầy bằng tiếng Pali là Pàlileyyaka. Con voi theo hầu Phật ở rừng nầy có tên là Pàlileyya. - Vườn Ra-khi-ta: tên khu vườn nầy bằng tiếng Pali là Rakkhita. - Giáo-thọ: vị Tỳ-kheo thông-thạo Kinh-điển, chuyên giảng dạy giáo-lý cho các tỳ-kheo khác. - Luật-Tạng: Luật = giới-luật của Phật đặt ra cho các tín-đồ tuân theo trong khi tu-hành; Tạng = cái giỏ hay cái đảy đựng các quyển kinh-sách. Luật-Tạng là Tạng thứ nhứt của Tam Tạng Kinh-điển trong Giáo-pháp của Đức Phật. Hai Tạng kia là: Kinh-Tạng, gồm các quyển Kinh và Luận-Tạng, gồm các bài luận giải-thích rõ thêm về Kinh-điển. - An-cư kiết-hạ: An-cư = ở yên; kiết hạ = qua mùa hạ. Vào ba tháng mùa hè ở Ấn-độ mưa nhiều, côn-trùng sinh-sản, nên Đức Phật đặt ra khoá An-cư Kiết-hạ, để chư Tăng quay về chùa, ở yên trong ba tháng, chẳng đi ra ngoài, sợ đạp chết côn-trùng. Trong thời-kỳ nầy, chư Tăng lo tu-tập, trao đổi kinh-nghiệm. Cứ mỗi năm có dự một khoá an-cư như thế, tỳ-kheo được tăng thêm một tuổi-đạo. - Thiện-nam, tín-nữ: thiện = lành, nam = đàn ông; tín = tin-tưởng; nữ = đàn-bà; chỉ đến những người tin theo đạo Phật, tu tại nhà và đến chùa giúp đỡ chư Tăng cùng cúng-dường thực-phẩm, thuốc, men, lễ-vật. - Tỉnh-ngộ: tỉnh = thức-tỉnh, biết ra; ngộ = hiểu ra được. - Ý-thức: ý = ý-nghĩ, tư-tưởng; thức = biết; bắt đầu thấy và hiểu rõ trong lòng. Biết mà chẳng để-ý, thì chẳng gọi là ý-thức được. - hoà-giải: hoà = hoà-thuận với nhau; giải = cởi mở ra, bỏ đìều chống-đối; làm lành lại với nhau, hết thù-oán. - Cấp-cô-độc: tên một vị trưởng-giả giàu lòng từ-thiện, thường cứu-giúp những người cô-đơn. Tên thật là Anàthapindika. Chính ông nầy đã mua đất và cất tịnh-xá Kỳ-viên để Phật và chư Tăng trú-ngụ. - Khẩn-khoản: thành-tâm nài-nỉ. - Sám-hối: nhìn nhận lỗi đã làm và hứa chẳng tái-phạm nữa. B.-Nghĩa Ý: (1) Ý-nghĩa của Tích chuyện: Tích chuyện mang hai ý-nghĩa sau đây: 1.- Vì cố-chấp, các vị Tỳ-kheo ở Cô-sam-bi đã phạm lỗi tranh-cãi nhau và chia rẽ: Vì cho rằng nhóm của mình theo Luật-Tạng, hay theo Kinh-Tạng, giỏi hơn nhóm kia, nên các vị Tỳ-kheo mới sanh ra cãi-vã để rồi khiến cho Tăng-đoàn bị chia rẽ. Theo giới-luật nhà Phật, kẻ gây sự chia rẽ trong Tăng-đoàn, sẽ bị trục-xuất; và khi mất đi, sẽ sa vào điạ-ngục. 2.- Phản-ứng của thiện-nam, tín-nữ đã thức-tỉnh các vị Tỳ-kheo ở Cô-sâm-bi: Khi các vị Tỳ-kheo chia rẽ và tranh-cãi nhau ồn-ào, Đức Phật đã khuyên-can, nhưng họ vẫn cố-chấp nên chẳng biết nghe theo. Đến khi các thiện-nam, tín-nữ thấy lỗi của họ, chẳng chịu tiếp-tục cung-dưỡng họ nữa, họ mới sáng mắt ra. Tỳ-kheo là gương-mẫu tu-hành để cho dân-chúng noi theo, nay lại bị dân-chúng "dạy cho bài học về nhẫn-nhục", nên các vị Tăng đành phải chịu khổ-cực, thiếu-thốn, trong suốt ba tháng mùa hè. (2) Ý-nghĩa của bài Kệ: Bài Kệ rất rõ-ràng, chẳng có chữ nào khó, chứa đựng một sự-thật vô-cùng quan-trọng: Cái chết đang rình sẵn, chờ đợi mọi người, chẳng sót một ai. Ai cũng biết là mình thế nào rồi cũng phải chết, thế mà lúc còn sống, cứ mãi lo tranh hơn thua nhau. Hơn nhau nơi lời nói nào có ích-lợi chi lớn. Có biết đâu, đùng một cái Thần Chết đến, mọi việc đều buông xuôi! Lúc bấy giờ, nghiệp còn chưa dứt, phải chịu tái-sanh trong vòng Luân-hồi mãi mãi khổ-sở triền-miên. Thế nên, phải ngưng tranh-cãi nhau ngay và lo đến việc tu-hành cho thân-tâm dứt nghiệp mà được giác-ngộ và giải-thoát. HỌC TẬP: 1.- Học thuộc lòng bài Kệ nầy, và ôn lại bài Kệ số 005. 2.- Mỗi khi sắp cãi nhau với ai, nên nhớ lại: đừng tranh hơn thua nhau từ lời nói, mà phải biết Thần Chết đang chực sẵn kia, mình và người đang cãi với mình, chưa biết ai bị mời đi trước, thế thì còn mất thời giờ cãi-vã nhau làm chi! Có ai cãi được với Thần Chết? (6).- Tích chuyện Trưởng-Lão Khả-La. Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại thành-phố Sê-ta, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến chuyện hai anh em người buôn-bán tên là Đại-Khả-La và Tiểu-Khả-La. Hai anh em Khả-La có dịp được nghe Đức Phật giảng-pháp ở thành-phố Sê-ta, nơi họ trú-ngụ. Đại-Khả-La hiểu được lời-lẽ thâm-sâu của Đức Phật, nên mới thỉnh-cầu Đức Phật cho gia-nhập Tăng-đoàn. Người em là Tiểu-Khả-La cũng bắt-chước anh, nhưng trong bụng lại nghĩ, hãy tạm tu trong một thời-gian, rồi sẽ rủ anh trở về nhà mà hoàn-tục. Đại-Khả-La tu-hành rất tinh-tấn, thường đến nghĩa-trang để quán-tưởng về lẽ vô-thường. Không bao lâu, Đại-Khả-La chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán. Bấy giờ, Đức Phật và chư Tăng đang trú-ngụ trong rừng Sim-sa-ba, gần thành-phố Sê-ta. Các người vợ của Tiểu-Khả-La hay tin, mới chuẩn-bị rước Phật và chư Tăng về nhà để dưng cơm cúng-dường. Tiểu-Khả-La xin phép được về nhà trước để giúp lo sắp đặt chỗ ngồi cho Đức Phật và chúng Tăng. Khi thấy chồng trở về, các bà vợ liền xin chồng cổi áo cà-sa và mặc thường-phục vào. Sau buổi lễ cúng-dường, Tiểu-Khả-La ở lại nhà luôn. Qua ngày hôm sau, các bà vợ cũ của Đại-Khả-La cũng muốn bắt chước mưu-kế của các cô em bạn dâu là vợ của Tiểu-Khả-La, đến thỉnh Đức Phật và chư Tăng về nhà cúng-dường. Đại-Khả-La cũng theo chơn Đức Phật về nhà cũ. Sau buổi lễ, Đại-Khả-La cũng lưu lại nhà, khi Đức Phật và chư Tăng trở về tịnh-xá. Bấy giờ, có một số tăng-nhơn thắc-mắc, tại sao Đại-Khả-La lại được phép ở lại nhà, và họ lo-lắng rồi đây Đại-Khả-La cũng hoàn-tục như người em. Lúc ấy, Đức Phật mới bảo họ, hai anh em Khả-La chẳng giống tánh nhau. Người em thì lười-biếng, ham-mê dục-lạc, thường mong-muốn có cơ-hội để trở lại đời sống gia-đình, còn người anh tu-hành rất tinh-tấn, dứt khoát với mọi ràng-buộc ở thế-gian. Khi ấy ở nhà các bà vợ cũ muốn thay thường-phục cho Đại-Khả-La, nhưng chẳng được, vì Đại-Khả-La, đã chứng-đắc đạo-quả, vận-dụng thần-thông, bay lên trên không và đáp xuống bên cạnh Phật khi Ngài vừa nói chuyện xong với các tăng-nhơn còn thắc-mắc về Đại-Khả-La. Bấy giờ, Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ, như sau đây: Ai chạy theo thú-vui vật-chất, Ai khéo quán tấm thân bất-tịnh, TÌM HIỂU: A.- Nghĩa CHỮ: - Các tên được Việt-hoá cho dễ đọc: Tiếng Việt: Tiếng Pali: Đại-Khả-La = Mahakàla Tiểu-Khả-La = Cùlakàla Sê-ta = Setabya Sim-sa-ba = Simsapa. - Hoàn-tục: hoàn = trở lại; tục = thế-tục; đã đi tu rồi mà nay trở lại đời sống gia-đình như trước. - Vô-thường: vô = chẳng có; thường = thường-hằng, luôn luôn như vậy hoài, chẳng bị hư-hoại. Theo Lẽ Vô-thường, thì chẳng có một sự-vật nào trên thế-gian nầy mà chẳng bị biến-đổi, rồi suy-hoại đi. - Đạo-quả: Đạo = con đường tu-tập, đường lối tu-hành; quả = quả-vị, ngôi-vị, khi tu-hành đã thành-công. Hai chữ đạo-quả dịch từ chữ Pali là Magga (Đạo, con đường) và Phala (Quả, trái cây). - Thường-phục: thường = thường ngày; phục = y-phục, quần-áo; thường-phục ở đây là quần-áo mặc lúc chưa đi tu. - Chị em bạn dâu: các người đàn-bà làm vợ cho hai anh em ruột. - Dục-lạc: dục = ham muốn; lạc = vui; thú vui. Dục-lạc ở đây chỉ vào thú vui vật-chất, do các giác-quan mang lại, như ăn ngon, nghe hát... - Giác-quan: giác = biết; quan = cơ-quan, bộ-phận. Ta có năm giác-quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và da trên thân. - Điều-độ: giữ đúng chừng mực, không đi quá mức. - Ma-quân: Ma = loài Ma; quân = quân lính, quyến-thuộc. Ở đây, chữ Ma-quân có nghĩa là sự cám-dỗ. - Quán tấm thân bất-tịnh: quán = suy-tưởng sâu-xa về một vấn-đề gì; thân bất-tịnh = thân là tấm thân thể-xác nầy; bất = chẳng; tịnh = trong-sạch. Quán thân bất-tịnh là suy-tưởng về tấm thân vật-chất nầy bên ngoài xem đẹp-đẽ mà bên trong chứa nhiều chất dơ, như mủ, máu, đờm, dãi, nước tiểu, phẩn, v.v. Biết quán thân bất-tịnh sẽ sanh ra nhàm-chán, chẳng chạy theo thú-vui vật-chất của các giác-quan trên thân nữa. - các căn: căn = nơi phát-sanh ra các cảm-thọ và tư-tưởng. Ta có năm giác-quan, nhưng trong Phật-học phân-biệt đến sáu căn: nhãn-căn (mắt), nhĩ-căn (tai), tị-căn (mũi), thiệt-căn (lưỡi), thân-căn (da trên thân) và ý-căn (bên trong tâm). - Tam-Bảo: tam = ba; bảo = vật quí-báu. Tam-Bảo là ba ngôi quí-báu mà ta tìm về nương-tựa: (1) Phật-bảo tức là Đức Phật; (2) Pháp-bảo tức là Giáo-pháp của Đức Phật đã giảng-dạy và (3) Tăng-bảo tức là Tăng-đoàn gồm các vị tu-hành noi theo con đường của Đức Phật. B.- Nghĩa Ý: (1) Ý-nghĩa của Tích chuyện: Tích chuyện liên quan đến người đã xuất-gia, nghĩa là những bực tu-hành đã dứt bỏ mọi liên-hệ với gia-đình và ngoài xã-hội. Tuy nhiên, đứng về phương-diện của người Phật-tử tại-gia, chúng ta có thể tìm thấy các ý-nghĩa sau đây: 1.- Đi tu là việc khó, phải có đủ phước-duyên mới xuất-gia được.: Hai anh em ông Khả-La, một người đi tu luôn được, còn một người thì không, đó là vì quyết-tâm của mỗi người khác nhau, một người đã dứt-khoát cắt đứt sợi dây thân-ái gia-đình, một người còn ham-mê các thú-vui vật-chất trong nhà. Người Phật-tử trước khi quyết-định xuất-gia, phải xét cho cẩn-thận xem lòng mình và hoàn-cảnh mình có thuận-tiện chưa. 2.- Thắng được sự quyến-rũ là do quyết-tâm: Trưởng Lão Khả-La đã thắng được sự quyến-rũ của các bà vợ cũ là do quyết-tâm của Ngài chọn con đường giác-ngộ và giải-thoát. Còn ông Tiểu-Khả-La hoàn-tục là vì ngã theo sự quyến-rũ của các bà vợ; vả lại, khi đi tu, ông ta chỉ tính tu tạm một thời-gian mà thôi, chưa dứt khoát hẳn với đời sống thế-tục. Vào chùa tu trong một thời-gian, rồi trở lại đời sống gia-đình, với mục-đích đền ơn cha-mẹ và tạo cơ-duyên tu-hành cho kiếp sau, là việc đáng tán-thưởng; ở các nước theo Phật-Giáo nguyên-thuỷ đều có tập-tục nầy. 3.- Đức Phật biết chắc là Trưởng-Lão Khả-La sẽ trở lại chùa tu: Ngài biết chắc như thế, vì Ngài đã thấy rõ tánh-tình và đạo-hạnh của Trưởng-Lão Khả-La, người đã chứng-đắc đạo-quả A-la-hán, mọi ham-muốn đều đã dứt sạch. (2).- Ý-nghĩa của hai bài Kệ: Bài Kệ số 007 ứng-dụng cho Tiểu-Khả-La, bài sau chiếu vào Trưởng-Lão Đại-Khả-La. 1.- Những tật xấu khiến cho ta bị Ma quật ngã: (1) ham thú-vui vật-chất ( = ham mê dục-lạc), (2)chẳng kềm-chế các giác-quan, nhứt là mắt và tai (ham sắc đẹp, ham nghe lời khen, dụ-dỗ), (3) chẳng ăn-uống điều-độ (ham ăn ngon), (4) lười-biếng (thiếu sự cố-gắng), (5)chẳng năng-lực gì ( = sống buông-lung, chẳng tinh-tấn tu-hành). Bị Ma cám-dỗ, có nghĩa là mình hèn-yếu, chẳng chống-cự nổi với sự ham-muốn. 2.- Những tánh tốt khiến cho ta khuất-phục được Ma: (1) quán thân bất-tịnh (rồi nhàm-chán thân dơ-dáy, hết ham thú vui xác-thịt), (2) khéo diều-phục các căn (chẳng chạy theo cảnh-vật bên ngoài để bị quyến-rũ), (3) ăn-uống điều-độ (giữ gìn sức khoẻ, đủ sức chống lại mọi cám-dỗ), (4) vững tin ngôi Tam-Bảo (tạo thêm sức mạnh tinh-thần) và (5) siêng-năng tinh-cần (khiến cho sự lười-biếng, ham vui bị khuất-phục). Ma-quân đến phá, bị thất-bại, có nghĩa là chiến-thắng được sự cám-dỗ bên trong lòng mình. 3.- Hình-ảnh do hai bài Kệ gợi lên: - người ham dục-lạc như cây mềm, bị ngọn gió to (sự cám-dỗ như Ma đến phá) nhổ đứt cả gốc ngọn. - người biết dứt bỏ dục-lạc như vách đá kiên-cố, gió to (của Ma-quân đến khuấy) cũng chẳng làm gì nổi. HỌC TẬP: 1.- Học thuộc lòng hai bài Kệ số 007 và số 008. 2.- Tập dứt bỏ từ-từ năm tật xấu nói trong bài Kệ số 007: bắt đầu bằng việc ăn uống có điều-độ, như sau bữa cơm chiều, trước khi đi ngủ, chẳng ăn quà bánh, nếu có đói thì uống ly sữa nóng cũng đủ. Kế đó, đến việc kiểm-soát các giác-quan, bắt đầu bằng hai con mắt, như nghe nói có cái gì lạ, đẹp, đừng cố chạy đi tìm xem. Còn các tật khác, xin hãy tự tìm thấy và tự mình bỏ lấy từ-từ. 3.- Tập-luyện thêm những đức tánh tốt nói trong bài Kệ số 008: nếu tập dứt bỏ được các thói xấu kể trong bài Kệ số 007, thì đương-nhiên được các tánh tốt nói trong bài Kệ số 008. Riêng về vững tin ở Ngôi Tam-Bảo, thì phải siêng đi chùa, đọc kinh và niệm Phật. Thông thường, người ta chờ xem lời cầu xin, khi lạy Phật, có linh-nghiệm không rồi mới tin ở Phật, ở Pháp và ở Tăng. Đó là niềm tin chưa trọn-vẹn, tin mà còn đòi cho có được phần thưởng! Một niềm tin trong-sạch chẳng trông đợi ơn-huệ nào của ai.Tin ở Phật, vì Phật là bực Đại-giác-ngộ. Tin ở Pháp, vì Pháp dạy ta đường hay nẻo phải. Tin ở Tăng, vì Tăng đang đi theo con đường chơn-chánh của Phật. Thế thôi! Đừng chờ mong được gì rồi mới tin! 4.- Có Ma hay chẳng có Ma? Theo kinh sách thì có Ma: (1)tử-ma, là thần-thức người chết vất-vưởng, lang-thang, (2) ngũ-ấm-ma là những khổ-não do năm ấm trong thân tạo nên; (3) phiền-não-ma là những phiền-não do tham, sân, si gây ra và (4) thiên-ma tức là Ma Ba-tuần ở trên cung Trời Tha-hoá Tự-tại thường hiện xuống cám-dỗ. Nhưng nếu ta tin rằng mình đủ sức chống lại sự cám-dỗ của lòng mình, thì việc có Ma hay không, có hề gì đâu? (7).- Tích chuyện về Đề-bà-đạt-đa.Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến chuyện Đề-bà-đạt-đa mặc áo cà-sa. Vào độ ấy, hai vị đại-đệ-tử của Đức Phật là các Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên, từ Xá-vệ đến thành Vương-xá, để giảng đạo. Dân-chúng ở thành Vương-xá tổ-chức một lễ cúng-dường, dưng thực-phẩm lên hai vị Tôn-giả và chư Tăng tháp-tùng. Có một người tín-chủ, nhơn dịp nầy, đem một khúc vải quí, giá đáng ngàn vàng, trao cho ban tổ-chức, với lời dặn: đem bán đi để lấy tiền sung vào quỹ, nếu quỹ còn thiếu, bằng không thì đem vải dưng cho vị tỳ-kheo nào mà ban tổ-chức nhận thấy xứng đáng mặc vải ấy. Vì quỹ còn dư tiền, nên ban tổ-chức đem dưng cho một vị tỳ-kheo. Hai tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên sau đó rời Vương-xá trở về Xá-vệ, nên ban tổ-chức mới đem trao cho Tôn-giả Đề-ba-đạt-đa là người thường-trú ở thành Vương-xá. Tôn-giả Đề-bà-đạt-đa liền đem cắt may thành áo cà-sa, và khoác lên đi đó đây với niềm hãnh-diện. Có một vị Tăng ở Vương-xá nhìn thấy Tôn-giả Đề-bà-đạt-đa có vẻ khoe-khoang về chiếc áo quí, khi đến đảnh-lễ Phật, mới bạch cùng Đức Phật. Đức Phật bảo, đấy chẳng phải là lần thứ nhứt Đề-bà-đạt-đa mặc chiếc áo cà-sa mà mình chẳng xứng đáng mặc. Rồi Đức Phật mới kể lại câu chuyện xưa về Đề-bà-đạt-đa như sau: Vào một thời xa xưa, Đề-bà-đạt-đa là một người thợ săn voi trong rừng. Trong khu rừng ấy có một đàn voi đông-đảo, mỗi khi thấy một vị Bích-chi Phật đi ngang qua, chúng liền qùi xuống đảnh-lễ. Đề-bà-đạt-đa núp trong lùm cây, thấy thế, liền nghĩ ra một mưu-kế để săn voi. Nhơn lúc vị Bích-chi-Phật cổi áo ra tắm bên bờ suối, Đề-bà-đạt-đa liền lấy trộm chiếc áo cà-sa. Hôm sau, y lấy áo cà-sa khoác lên mình, dấu mũi chiã nhọn bên trong, đi vào rừng. Đàn voi ngỡ là vị Bích-chi-Phật đi đến, liền qùi xuống. Đề-bà-đạt-đa dễ-dàng phóng chĩa ra giết thú. Ngày qua ngày, đàn voi càng thưa lần vì số voi bị giết, khiến cho con voi đầu-đàn ngạc-nhiên, và theo trông chừng mỗi khi có người vào rừng. Khi thấy voi cùng đàn bị phóng chĩa, voi đầu-đàn vượt lên trước, dùng vòi quật ngã... người thợ săn gian-trá. Nhìn thấy chiếc áo cà-sa trên mình người thợ săn, voi đầu-đàn ngừng lại, tha chết cho y. Kể đến đây, Đức Phật cho biết, vào thời ấy, con voi đầu-đàn đó chính là tiền-thân của Đức Phật, và ngày nay Đề-bà-đạt-đa khoe-khoang chiếc áo cà-sa, đó chẳng phải là lần thứ nhứt mà một người chưa xứng đáng lại lạm-dụng y-phục của nhà tu-hành chơn-chánh. Rồi Đức Phật mới đọc lên hai bài Kệ sau đây: Kẻ nào tâm vướng điều
phiền-não, Kẻ nào tâm sạch điều
phiền-não, TÌM HIỂU: A.- Nghĩa CHỮ: - Các tên được Việt-hoá cho dễ đọc: Tiếng Việt Tiếng Pali - Vương-xá Ràjagaha - Xá-lợi-phất Sariputta - Đại Mục-kiền-liên Maha Moggallàna - Đề-bà-đạt-đa Devadatta - Đại-đệ-tử: đại = lớn; đệ = em; tử = con; ngưòi học-trò lớn, người đệ-tử lớn và giỏi. Đức Phật Thích Ca có mười người đại-đệ-tử, tôn-giả Xá-lợi-phất là người trí-huệ bực nhứt, tôn-giả Mục-kiền-liên, thần-thông đệ nhứt. - Tôn-giả: tôn = tôn-trọng; giả = người; người đáng tôn-kính. - Tháp-tùng: tháp = đi theo, gắn vào; tùng = theo; đi theo ai. - Tín-chủ: tín = tin-tưởng; chủ = chủ; người tin Đạo, thường dưng cúng lễ vật vào chùa. - Quỹ: tiền trong hội, để chi-phí chung cho hội. - Thường-trú: thường = luôn luôn ở đấy; trú = ở, ngụ. Vị Tăng thường-trú tại môt chùa là vị Tăng ở luôn tại đó, chẳng đi chỗ khác. - Bích-chi-Phật = tiếng Pali là Paccekabuddha, bực tu-hành đã giác-ngộ và giải-thoát như Phật, nhờ tu Tứ-Diệu-Đế, vào thời chẳng có Phật ra đời. Bích-chi-Phật chỉ tự mình giác-ngộ mà chẳng đi giác-tha, nghĩa là chẳng thuyết-pháp, giảng-dạy cho kẻ khác để họ cùng tu theo. - Tiền-thân: tiền = trước kia; thân = thân-hình; thân trước kia vào một đời xa-xưa, trong cảnh Luân-hồi. - Lạm-dụng: lạm = dùng quá mức, chẳng phải của mình mà lại lấy dùng; dụng = dùng; lấy dùng quá mức, chẳng xứng đáng. - Chơn-chánh: chơn = đúng như sự-thật; chánh = ngay thẳng. Nhà tu-hành chơn-chánh là người tu-hành đàng-hoàng, giữ đúng giới-luật - Phiền-não: phiền = buồn-phiền; não = áo-não, đau buồn. Trong bài Kệ, chữ phiền-não nói đến ba món độc tham, sân, si làm cho tâm chẳng trong-sạch mà sanh ra phiền-não. - Cà-sa: tiếng Pali là Kàsàya, áo màu vàng của các tu-sĩ Phật-giáo - Thật-thà: tánh ngay-thẳng, chẳng có gian-trá. - Đạo-hạnh: Đạo = đường-lối tu-hành; hạnh = tánh-hạnh. B.- Nghĩa Ý: (1) Ý-nghĩa của Tích chuyện: Tích chuyện mang các ý-nghĩa sau đây: 1.- Khi được biếu, chẳng nên nhận ngay nếu thấy mình còn chưa xứng-đáng: Khúc vải được đem dâng-cúng nhơn dịp hai vị đại-đệ-tử của Phật đến Vương-xá thuyết-pháp. Nếu tôn-giả Đề-bà-đạt-đa là người biết tự-trọng thì phải hỏi rõ lý-do và khước-từ tặng-phẩm. Đằng nầy, tôn-giả đã nhận lấy, lại đem may áo cà-sa quí để khoe-khoang với mọi người, đó là điều đáng trách. Vì thế, Đức Phật mới bảo là chẳng xứng đáng mặc. 2.- Khoác áo cà-sa, đội lốt nhà tu để gạt đàn voi, mắc hai tội: (1) lạm-dụng y-trang của nhà tu; (2)lập mưu gian để hại kẻ khác. Xét theo giới-luật của người tu tại-gia, hai tội-trạng ấy tương-đương với tội trộm: mình chẳng phải nhà tu mà lạm-dụng mặc áo nhà tu; dùng áo nhà tu để gạt-gẫm kẻ khác nhẹ dạ tin mình là nhà tu. Người thợ săn Đề-bà-đạt-đa đã vướng hai tội ác đó. Trong lịch-sử Phật-học, Đề-ba-đạt-đa còn phạm nhiều tội khác nữa. Vào lúc Đức Phật còn tại thế, Đề-bà-đạt-đa tái-sanh vào dòng quí-tộc, vốn là anh ruột của Tôn-giả A-nan, và là em chú-bác với Thái-tử Tất-đạt-ta. Khi đi tu, Đề-bà-đạt-đa gây chia rẽ trong Tăng-đoàn, đòi Đức Phật nhường quyền cho y cai-quản Tăng-đoàn và đã ba lần mưu-sát Đức Phật. Theo Kinh-sách, vì phạm các tội-ác đó, Đề-bà-đạt-đa phải sa vào điạ-ngục. 3.- Lòng nhơn-từ của con voi đầu-đàn: Khi sắp quật chết người thợ săn, để cho bầy voi khỏi bị sát-hại nữa, con voi đầu-đàn nhìn thấy chiếc áo cà-sa, nên tha mạng cho Đề-bà-đạt-đa. Điều nầy cho thấy tấm lòng từ-bi của Đức Phật đã có từ trước khi sanh ra làm người. (2).- Ý-nghĩa của hai bài Kệ: 1.- Ba điều xấu chẳng xứng đáng mặc áo cà-sa: (1) tâm còn các phiền-não tham, sân, si; (2) thiếu kềm-chế, tức là chẳng tuân-hành giới-luật; (3) chẳng thật-thà, tức là gian-dối, thiếu sự ngay-thẳng. 2.- Năm điều tốt khiến cho xứng-đáng mặc áo cà-sa: (1) tâm sạch phiền-não, chẳng còn khoe-khoang; (2)thân vững-vàng đặt mình trong giới-luật; (3) đạo-hạnh cao-xa, tức là chơn-chánh tu-hành; (4) biết kềm-chế thân-tâm; (5) thật-thà, ngay thẳng chẳng hề gian-dối. HỌC TẬP: 1.- Hai bài Kệ liên-quan đến người xuất-gia, Phật-tử tại-gia học thuộc lòng cũng tốt. |