|
BuddhaSasana Home Page |
Vietnamese, with Unicode Times font |
Tích truyện Pháp Cú
Thiền viện
Viên Chiếu
Nguyên tác:
"Buddhist Legends", Eugene Watson Burlingame
XXV.
Phẩm Tỳ Kheo
1. Giữ Gìn Ngũ Căn
Lành thay phòng hộ mắt...
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
trú tại Kỳ Viên, liên quan đến năm thầy Tỳ-kheo.
Khi Phật ở tại Kỳ Viên có năm thầy
Tỳ-kheo, mỗi thầy tự điều phục một trong năm giác quan. Một hôm, các thầy gặp
nhau bàn cãi. Thầy thì nói:
- Chỉ có giác quan của tôi khó điều
phục.
Thầy khác cũng nói:
- Chỉ có tôi là người tự chế ngự giác
quan khó nhất.
Rốt cuộc các thầy cùng nhau đến bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn, mỗi người trong chúng
con tự chế ngự một giác quan, và cứ tưởng giác quan mình chế ngự khó hơn hết.
Hôm nay chúng con xin Ngài xác định người nào trong chúng con điều phục giác
quan khó nhất.
Ðức Phật thận trọng tránh không cho
biết thầy Tỳ-kheo nào kém hơn các huynh đệ mình. Ngài dạy:
- Này các Tỳ-kheo, tất cả các căn đều
khó canh phòng. Nhưng không phải đây là lần đầu các ông thất bại trong việc
canh phòng ngũ căn. Trong một kiếp quá khứ, các ông cũng thất bại trong việc
kềm chế ngũ căn. Vì các ông không nghe lời khuyên của bậc thiện tri thức nên đã
bị hại.
Chuyện quá khứ:
1A. Thành Hoa Thị
Theo lời yêu cầu của năm thầy Tỳ-kheo,
đức Phật kể rằng trong một kiếp quá khứ, Ngài là vị lãnh đạo năm ông quan cận
thần đi đến thành Hoa Thị để nhận ngôi báu, sau khi toàn thể hoàng tộc vua bị
quỷ Dạ xoa hại sạch. Trên đường đi, bọn quỷ Dạ xoa quyến rũ họ bằng đủ mọi âm
thanh, hình ảnh, mùi hương, thức ăn ngon và gái đẹp. Bồ tát lúc ấy khôn ngoan
không để bị đắm trước và căn dặn năm ông quan chớ bị để quyến rũ. Nhưng họ đều
bỏ rơi khí giới đầu hàng trước sức cám dỗ của Dạ xoa, và rốt cuộc bị ám hại.
Chỉ riêng Ngài kềm chế được mình, không mềm lòng trước cạm bẫy, không màng đến
con quỷ Dạ xoa với vẻ đẹp sắc nước hương trời đeo theo Ngài bén gót, và thẳng
tiến an toàn đến thành Hoa Thị, trở thành một vị quốc vương.
Khi nhận lễ đăng quang, ngồi trên ngai
vàng dưới chiếc lọng trắng, nhìn lại vẻ uy nghiêm và sự vinh hiển của mình,
Ngài tự mình: "Người ta nên sử dụng sức mạnh của ý chí mình". Ngài
nói kệ:
Kiên
trì tuân phục Hiền Trí,
Lòng can đảm chẳng lung lay,
Khỏi bị Dạ xoa khống chế,
Vì ta không sợ không lo.
Qua cơn hiểm nguy gian khó,
Ðến nơi ta được an toàn.
Phật kết luận: "Năm ông quan thuở
ấy là các ông, người đến được thành Hoa Thị an toàn và làm vua chính là
Ta".
Ngài nói thêm:
- Một Tỳ-kheo cần phải canh phòng cẩn
mật tất cả các căn, vì chủ thu hút căn mới thoát được khổ não.
Ngài nói kệ:
(360) Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai!
Lành thay, phòng hộ mũi!
Lành thay, phòng hộ lưỡi!
(361) Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời!
LÀnh thay, phòng hộ ý!
Lành thay, phòng tất cả!
Tỳ- kheo phòng tất cả,
Thoát được mọi khổ đau.
2. Thầy Tỳ Kheo Giết Ngỗng
Người chế ngự tay chân...
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
đang ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến một thầy Tỳ-kheo giết ngỗng.
Thuở ấy, tại Xá-vệ có hai thanh niên
xuất gia, cùng ở trong tăng đoàn và trở thành bạn thân, thường đi chung với
nhau. Một ngày nọ, hai thầy ra bờ sông Aciravati
tắm, và lên bờ đứng phơi nắng nói chuyện chơi. Lúc ấy có hai con
ngỗng bay ngang. Thầy Tỳ-kheo trẻ bèn nhặt hòn đá cuội nói:
- Tôi sẽ chọi trúng mắt một con ngỗng.
Thầy Tỳ-kheo kia nói:
- Huynh chọi không trúng đâu.
- Rồi huynh coi, tôi sẽ chọi trúng cả hai
mắt nó.
- Huynh chẳng làm được.
- Vậy thì huynh coi đây.
Thầy thứ nhất lượm hòn đá ném theo con
ngỗng. Nghe tiếng viên đá bay rít trên không trung, con ngỗng quay đầu lại
nhìn. Thầy thứ hai nhặt tiếp hòn đá và ném ngay mắt con ngỗng. Hòn đá chọi nhằm
mắt bên này, xuyên qua mắt bên kia của ngỗng. Nó kêu lên đau đớn, lộn nhào
xuống đất và rơi dưới chân hai thầy Tỳ-kheo.
Một số thầy Tỳ-kheo khác đứng gần đấy
thấy vậy bèn nói:
- Này các huynh, sau khi từ bỏ thế gian
vào cửa Phật, các huynh đã làm việc không đúng khi sát hại sinh vật như thế.
Các Tỳ-kheo bèn đem hai thầy đến chỗ
đức Phật. Phật hỏi thầy Tỳ-kheo giết ngỗng:
- Có phải ông đã sát sanh?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
Phật quở:
- Này Tỳ-kheo, sao đã xuất gia từ bỏ
gia đình theo Ta để cầu đạo giải thoát mà ông lại làm như thế? Người trí thời
Phật chưa ra đời, dù sống ở thế gian, cũng còn e dè thận trọng từng việc nhỏ
nhặt. Các ông đã xuất gia theo Phật, lại không lo dè dặt chút nào vậy.
Rồi Ngài kể chuyện tiền thân.
Chuyện quá khứ:
2A. Chuyện Tiền Thân Kuradhamma.
Vào thuở lâu xa, dưới triều vua Dhananjaya của vương quốc Kuru, Ngài là thái tử con vua. Ðến tuổi
trưởng thành, thái học tử học nghề bắn tên tại thành Hoa Thị. Khi thành nghề,
thái tử trở về vương quốc, được vua cha phong làm phó vương. Khi vua cha băng
hà, thái tử lên nối ngôi. Nhà vua nghiêm trì năm giới cấm và tuân theo mười đức
của một vị vua. Ngay cả những người trong hoàng cung như hoàng thái hậu, hoàng
hậu, hoàng đệ, phó vương, thầy tử tế, quan cận thần, người đánh xe, quan chưởng
khố, quan coi kho, người canh cổng và cả thứ phi nữa, mười một người đều giữ
ngũ giới nghiêm túc.
Lúc ấy, tại thành Dantapura của vương quốc Kalinga, trời hạn hán nhiều năm không một
giọt mưa. Dân chúng ở vương quốc này biết nhà vua xứ Kuru có một thớt tượng tên Anjanasannibha
thật đầy đủ ân đức. Họ tin rằng xin được Anjanasannibha về nước, chắc sẽ mưa. Vì thế, vua Kalinga cho gởi các vị Bà-la-môn sang Kuru để xin thớt tượng ấy. Họ sang yết
kiến vua xứ Kuru và trình bày lời
yêu cầu, xưng tụng đức hạnh của nhà vua. Nhưng dù có tượng Anjanasannibha, trong xứ kalinga vẫn không có mưa. Vua kalinga thầm nghĩ: Vua Kuru đã giữ năm giới nên trong nước thường
được mưa. Vua bèn ra lệnh cho các thầy Bà-la-môn và các quan cận thần sang Kuru khắc năm giới cấm lên một dĩa vàng về
nước.
Khi những người này sang Kuru một lần nữa, cả triều đình từ vua trở
xuống đều tự do, chối rằng:
- Chúng tôi không giữ được năm giới cấm
toàn vẹn.
- Các vị đã không làm điều gì xâm phạm
đến năm giới cấm đâu.
Họ năn nỉ mãi, cuối cùng nhà vua Kuru dạy họ năm giới. Khi mang về vương
quốc Kalinga cũng tuân giữ thành
kính năm điều cấm, và lập tức trời mưa. Trong nước lại thịnh vượng, ấm no.
Ðức Phật kết luận: "Lúc ấy thứ phi
là Liên Hoa Sắc, người canh cổng là Punna,
người giữ ngựa là Kaccàna, quan
giữ kho là Kolita, quan chưởng
khố là Xá-lợi-phất, người đánh xe là A-na-luật, thầy Bà-la-môn là Trưởng Lão
Ca-diếp, hoàng đệ phó vương là Nan Ðà, hoàng hậu là mẹ của La-hầu-la, hoàng
thái hậu là bà Ma-da và vua Kuru
là Ta".
Ðức Phật nói tiếp:
- Này các Tỳ-kheo, người trí thời xưa,
dù một lỗi nhỏ họ cũng cảm thấy ái ngại. Còn các ông, đã xuất gia vào đạo của
Phật đà lại chấp nhận một lỗi lơn là sát hại sanh vật. Một Tỳ-kheo phải hằng
kiểm soát được tay chân, và ngôn ngữ của mình.
Ngài nói kệ:
(363) Người chế ngự tay chân,
Chế ngự lời và đầu,
Vui thích nội thiền định,
Ðộc thân, biết vừa đủ,
Thật xứng gọi Tỳ-kheo.
3. Thầy Tỳ Kheo Không Giữ Gìn Mồm Miệng
Tỳ-kheo chế ngự miệng...
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
đang trú tại Kỳ Viên, liên quan đến Kokàlika.
Trong bài kinh Kokàlika, câu
chuyện bắt đầu với dòng chữ: "Lúc bấy giờ thầy Tỳ-kheo Kokãlika đến gần
đức Ðạo Sư", ý nghĩa câu chuyện được giải thích trong tập chú giải liên
quan đến bài kinh.
Thuở Phật còn ở Kỳ Viên, có thầy
Tỳ-kheo tên Kokàlika vì đã phỉ
báng hai đại đệ tử Phật là Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên nên bị
đọa địa ngục. Câu chuyện bắt đầu khi các vị Tỳ-kheo tụ họp ở Pháp đường, bàn
tán:
- Trời ơi! Thầy Tỳ-kheo Kokàlika bị trầm luân vĩnh kiếp vì đã
không giữ gìn miệng mồm. Ngay khi thầy chửi rủa hai vị Tôn giả lãnh chúng, đã
bị đất chôn xuống địa ngục.
Lúc ấy đức Phật đến và hỏi:
- Các ông tụ họp ở đây bàn tán chuyện
gì?
Khi các thầy thuật lại, Phật bảo:
Không phải lần đầu Kokàlika bị đọa vì không giữ gìn khẩu
nghiệp. Trong quá khứ cũng đã xảy ra chuyện ấy.
Các Tỳ-kheo muốn nghe Phật thuật lại
câu chuyện. Phật kể:
Chuyện quá khứ:
3A. Con Rùa Ham Nói
Hồi xưa, có con rùa kia ở tại cái hồ
nước trên vùng núi Hy Mã. Một ngày nọ có đôi ngỗng đi lang thang tìm thức ăn,
gặp rùa ta và vài ngày sau chúng kết tình thân hữu. Có lần ngỗng khoe với rùa:
- Bác ạ, chúng tôi ở trên ngọn Cittakuta, trong một động vàng. Thật là
một nơi ở thích thú. Bác có muốn đi với chúng tôi không?
- Làm sao tôi có thể đi đến đó?
- Nếu bác chịu ngậm miệng trong lúc
chúng tôi đưa đi, thì bác sẽ đến nơi.
- Ðược rồi, tôi sẽ ngậm chắc miệng mồm.
Hãy mang tôi đi với.
- Tốt lắm.
Ðôi ngỗng bảo bác rùa ngậm một cây gậy,
và hai con tha hai đầu gậy, bay lên không trung.
Vài đứa bé ở thôn xóm dưới đất thấy rùa
bay qua với ngỗng, bèn la lên:
- Bay ơi, ra xem hai con ngỗng mang con
rùa trên cây gậy.
Rùa nghĩ thầm: Tụi nhóc con du đãng
này, bạn ta tha ta đi đâu thì có dính dánh gì tới tụi bây mà phải la lối!
Ngay khi nó vừa mở miệng định nói ra ý
nghĩ ấy, vì cặp ngỗng bay mau, nó liền
rơi xuống đất và bể làm hai mảnh ngay trong sân của một hoàng cung ở Ba-la-nại.
Rùa
tự hại vì ham nói chuyện,
Gậy ngậm rồi miệng vẫn thày lay,
Rớt liền xuống đất tan thây,
Người khôn ngoan thấy gương đây giữ mình.
Lựa lời nói đúng lúc đúng chỗ,
Xem gương rùa chịu khổ thiệt thân.
Ðức Phật kết luận:
- Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo phải
kiểm soát lời nói, sống lặng thinh, không tự kiêu và thoát khỏi phiền não.
Phật nói kệ:
(363) Tỳ-kheo chế ngự miệng,
Vừa lời, không cống cao.
Khi trình bày pháp nghĩa,
Lời lẽ dịu ngọt ngào.
4. Bằng Sự Tinh Tấn Làm Vinh Dự Cho Phật
Vị Tỳ-kheo thích pháp....
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
trú tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Dhammarama.
Khi đức Phật tuyên bố "Còn bốn
tháng nữa, Ta sẽ vào Niết-bàn", hằng ngàn vị Tỳ-kheo bỏ hết thì giờ để hầu
cận Ngài. Những vị chưa chứng Sơ quả thì khóc lóc, những vị chứng A-la-hán cũng
cảm động sâu xa, tất cả đều tụ năm họp ba, bàn tán: "Chúng tan nên làm
gì?"
Riêng có một vị Tỳ-kheo tên Dhammarama (Trú Pháp Hỷ) thì không như
vậy. Thầy tự nghĩ: "Ðức Thế Tôn đã tuyên bố bốn tháng nữa nhập Niết-bàn,
mà ta chưa thoát khỏi ràng buộc của tham ái. Ngày nào Ngài còn tại thế, ta sẽ
cố gắng chứng A-la-hán". Và thầy tự sống một mình, tư duy, quán tưởng, ôn
lại những lời dạy của Phật, chẳng màng trả lời những câu hỏi tò mò của các
Tỳ-kheo khác, mà cũng chẳng lui tới hầu hạ Phật.
Các Tỳ-kheo mách đức Như Lai:
- Bạch Thế Tôn, thầy Dhammarama không có lòng thương kính Thế
Tôn. Khi nghe chúng con báo tin "Phật sắp nhập Niết-bàn, chúng ta sẽ làm
gì?", thầy chẳng nói, chẳng hoạt động chung với chúng con.
Ðức Phật gọi Tỳ-kheo Dhammarama đến hỏi. Thầy thưa thật ý định
của mình muốn cố gắng chứng quả A-la-hán. Nghe xong, Phật ngợi khen thầy:
- Lành thay! Lành thay!
Và Ngài bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, mỗi vị nên bày tỏ sự
kính mến Ta như Dhammarama đã
làm. Chẳng phải dùng hương hoa, hoặc những thứ cúng dường mà tôn kính ta. Chỉ
cò người thực hành theo giáo lý mới thật sự tôn kính Ta.
Ngài nói kệ:
(364) Vị Tỳ-kheo thích pháp,
Mến pháp, suy tư pháp,
Tâm tư niệm chánh pháp,
Không rời bỏ chánh pháp.
Nghe xong, thầy Trú Pháp Hỷ liền chứng
quả A-la-hán, hội chúng cũng được lợi lạc.
5. Thầy Tỳ Kheo Lạc Bầy
Không khinh điều mình được ...
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
trú tại Trúc Lâm, liên quan đến một thầy Tỳ-kheo lạc bầy.
Khi đức Phật ở tại Trúc Lâm, có một
thầy Tỳ-kheo kết bạn thân với một thầy Tỳ-kheo ly khai Tăng đoàn, thuộc nhóm
Ðề-bà-đạt-đa. Một ngày kia, đi khất thực về, gặp thầy Tỳ-kheo bạn, thầy nọ hỏi
thăm:
- Huynh đi đâu thế?
- Tôi đi thất thực về.
- Có được ai cúng dường không?
- Có.
- Nơi chỗ tôi ở, có nhiều vật thực và
tặng phẩm giá trị, Hãy đến chỗ tôi vài hôm.
Thầy Tỳ-kheo nhận lời, lưu lại nhóm của
Ðề-bà-đạt-đa vài ngày, và sau đó trở về với Tăng đoàn. Các vị Tỳ-kheo trong
Tăng đoàn đến mách Phật:
- Bạch Thế Tôn, thầy Tỳ-kheo kia đã thọ
lãnh vật thực, tặng phẩm của nhóm Ðề-bà-đạt-đa, thầy ấy đã theo Ðề-bà-đạt-đa
rồi:
Ðức Phật cho gọi ông thầy nọ đến và
hỏi:
- Có phải họ mách thầy như vậy là đúng?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn, con ở trong
nhóm Tỳ-kheo của Ðề-bà-đạt-đa vài ngày, nhưng con không hợp với quan điểm của
Ðề-bà-đạt-đa.
- Ta thừa nhận rằng ông không theo tà
kiến, nhưng ông không có lập trường nhất định nên hay bị lung lạc bởi ý kiến
người khác. Trong thuở quá khứ ông cũng đã làm như vậy.
Theo lời các vị Tỳ-kheo yêu cầu, Phật
bèn kể chuyện con Voi Damsel-face:
Voi Damsel-face rất ngoan, nhưng khi đi
đường nghe một nhóm trộm cướp du đãng nói chuyện thô lỗ với nhau, nó cũng đâm
ra hung hăng, bất trị và chạy bậy, giết người. Rồi sau đo, nghe các vị
Bà-la-môn luận đạo, nó trở lại ngoan ngoãn. Voi Damsel-face thuở ấy là thầy
Tỳ-kheo dễ tin hôm nay.
Ðức Phật kết luận:
- Là một Tỳ-kheo, nên hài lòng với
những gì mình nhận được, và không ham muốn những gì người khác có. Nếu ham muốn
như vậy chẳng bao giờ đắc Thiền định, Trí tuệ, hoặc Thánh quả. Nếu hài lòng với
những gì đang có, ông sẽ có tất cả.
Ngài nói kệ:
(365) Không khinh điều mình được,
Không ganh người khác được,
Tỳ-kheo ganh tỵ người
Không sao chứng thiền định.
(366) Tỳ-kheo dầu được ít,
Không khinh điều mình được,
Sống thanh tịnh không nhác,
Chư thiên khen vị này.
6. Người Bà La Môn Cúng Dường Năm Lần Thành Quả
Ðầu Tiên
Hoàn toàn, đối danh sắc ...
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến người Bà-la-môn cúng dường năm lần thành quả
đầu tiên.
Khi Phật ở Kỳ Viên, có một người
Bà-la-môn làm ruộng. Lúc lúa chín, ông cúng dường những bông lúa cắt đầu tiên
ngoài đồng. Lúa đem về đập, ông cúng dường những hạt lúa đập xong trước tiên.
Khi cất lúa vào bồ, ông lại cúng dường phần lúa đổ trong bồ đầu tiên. Khi dược
nấu thành cơm, ông cúng dường bát cơm đầ tiên bới trong nồi. Khi dọn ra dĩa,
ông lại cúng dường những hạt cơm đầu tiên múc ra dĩa. Cúng dường năm lần như
vậy cho người nào hiện diện lúc ấy, ông không hề nếm một miếng cho đến lúc cúng
xong, do đó được gọi là"người cúng năm ần thành quả đầu tiên".
Ðức Phật quan sát căn cơ biết hai vợ
chồng ông có thể chứng A-na-hàm bèn đi đến nhà ông khất thực. Lúc ấy, ông
Bà-la-môn ngồi ăn cơm trong nhà, xây lưng ra ngoài cửa, do đó không thấy đức
Thế Tôn. Bà vợ ông ta đang dọn ăn cho chồng, thấy đức Phật bèn nghĩ thầm:
- Chồng ta sau khi cúng dường năm
lần, bây giờ đang ăn cơm. Nếu thấy
Sa-môn Cồ-đàm, ông sẽ cúng hết phần cơm của mình, mà ta thì không thể nấu cơm
cho ông được nữa.
Nghĩ vậy bà bèn đứng sau lưng chồng,
muốn che hình ảnh đức Phật không cho chồng thấy, tưởng như lấy tay che được mặt
trăng tròn. Bà đứng vậy rồi liếc mắt trông chừng Thế Tôn, tự nói thầm:
"Ông đã đi hay chưa?" Ðức Thế Tôn vẫn đứng yên một chỗ. Bà vợ ráng
không thốt thành tiếng: "Ông đi đi chứ", sợ chồng mình nghe được.
Nhưng một lát sau, bà bước lui và nói thật khẽ: "Ông đi đi".
- Ta không đi.
Ðức Phật khởi nghĩ như thế và lắc đầu.
Khi đức Phật, bậc Ðạo sư của trời người, nghĩ thầm: "Ta không đi" và
lắc đầu, bà vợ ông Bà-la-môn không nén nổi, bật cười lớn. Ðức Phật liền phóng
một đạo hào quang, hiện hình Ngài trong nhà. Người Bà-la-môn đang ngồi quay
lưng về phía Phật, vừa nghe tiếng cười của vợ, thì cũng thấy cả đạo hào quang
sáu sắc và hình ảnh Phật. Bởi vì chư Phật, dù ở làng mạc hay rừng sâu, không
bao giờ đi khỏi khi chưa hiện thân trước những người có cơ duyên đắc đạo. Người
Bà-la-môn trông thấy Phật rồi, ông lật đật rầy vợ:
- Bà này hại tôi! Khi Thái tử đứng
trước nhà ta, sao bà không báo trước cho tôi biết? Bà có lỗi lớn đa nghe!
Và ông mang đĩa cơm đang ăn dở, đem ra
trước Phật nói:
- Thưa Sa-môn Cù-đàm, sau khi cúng
dường năm thành quả đầu tiên, tôi dùng bữa trưa. Ðây là phần cơm của tôi, tôi
chia làm hai, và ăn một nửa, Ngài có thể nhận phần cơm này không?
Thay vì trả lời:
- Ta không nhận cơm ông ăn dư.
Ðức Phật nói:
- Này Bà-la-môn, dù là phần còn lại hay
đầu tiên cũng được, chúng ta cũng giống như quỷ thần, sống bằng những thức ăn
bố thí.
Ngài nói kệ:
Dù
phần đầu, phần giữa, phần dư,
Người khất thực đều vui lòng nhận,
Không phiền hà, trách móc dư thừa,
Người khôn ấy chính bậc chánh trí.
Ông Bà-la-môn nghe Phật nói như vậy
trong lòng rất vui mừng, liền xưng tụng:
- Thái tử thật kỳ diệu, Ngài ở địa vị
vua của thế gian, thay vì nói "Ta không ăn cơm thừa của ông", lại nói
như trên.
Và vẫn đứng ở cửa, ông hỏi tiếp:
- Thưa Ngài, Ngài gọi các đệ tử là
"Tỳ-kheo". Vậy những điều gì làm nên một Tỳ-kheo?
Ðức Phật nghĩ thầm: "Ta sẽ giảng
cho người này bằng cách nào đây để được lợi ích nhất? Vào thời Phật Ca-diếp,
Ngài giảng cho hai ông bà này nghe về Thân và Tâm, nay ta cũng sẽ giảng cho ông
như vậy".
Ngài bảo:
- Này Bà-la-môn, một vị Tỳ-kheo là
người không bị ràng buộc, cột trói bởi những gì thuộc về Danh (Tâm) hay Sắc
(Thân).
Ngài nói kệ:
(367) Hoàn toàn, đối danh sắc,
Không chấp ta, của ta,
Không chấp, không sầu não,
Thật xứng danh Tỳ-kheo.
7.
Ðảng Cướp Ði Tu
Tỳ-kheo trú từ bi ...
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một nhóm lớn Tỳ-kheo.
Khi Thượng tọa Kaccana ở trên một ngọn núi gần thành phố Kuraraghara trong nước Avanti, có một Phật tử tên Sona Kutikanna sau khi thấm nhuần chân lý
do Ngài giảng dạy, bèn xin xuất gia. Ngài hai lần từ chối.
- Sona,
thật là một điều khó khăn khi sống đời tịnh hạnh, phải cư trú đơn độc, ẩm thực
đơn độc.
Nhưng Sona
quyết chí xuất gia nên xin đến lần thứ ba, và được phép gia nhập
Tăng đoàn. Vì chư Tăng ở miền nam rất hiếm, thầy ở lại đó ba năm làm tròn bổn
phận của một tăng sĩ. Và sau đó thầy xin phép sư phụ lên đường về Kỳ Viên, với
ước mong được gặp đức Thế Tôn. Ðược sư phụ cho phép và kèm theo lời dặn dò,
thầy đến Kỳ Viên, đảnh lễ Phật, được đức Phật đón tiếp thân mật và cho phép vào
hương thất của Ngài một mình.
Thầy Sona
đi kinh hành ngoài trời hầu như suốt đêm, gần sáng mới vào hương thất nằm nghỉ
một chút. Khi bình minh đến, đức Phật bảo thầy hãy tụng bài kinh "Mười sáu
đoạn".
Thầy đọc xong, đức Phật cám ơn và ngợi
khen "Hay thay! Hay thay!" Chư thiên, trời, rồng, Dạ xoa cho tới cõi
trời Phạm thiên đều ca ngợi thầy vang rền. Lúc ấy, tại nhà mẹ thầy ở Avanti cách đấy một trăm hai mươi dặm, vị
thần cư ngụ trong nhà cũng ngợi khen nhiệt liệt. Bà mẹ thầy hỏi:
- Ai đang ca tụng vậy?
- Dạ tôi đây, thưa chị.
- Ông là ai?
- Tôi là vị thần cư ngụ tại nhà chị
đây.
- Từ trước tôi chẳng được nghe ông ca
ngợi, sao hôm nay ông làm thế?
- Không phải tôi ca ngợi bà chị đâu?
- Vậy ông ca ngợi ai?
- Trưởng lão Kutikanna Sona, con trai chị đấy.
- Con tôi đã làm được gì?
- Hôm nay Tôn giả ở trong hương thất
đức Như Lai, tụng kinh cho Ngài, và được Ngài hài lòng ngợi khen, do đó tôi
cũng ngợi khen. Chư thiên các tầng trời từ cõi Ta-bà đến cõi Phạm thiên nghe
lời ngợi khen của đức Tối Thắng, cũng ca ngợi Tôn giả.
- Này, có thật ông nói rằng con tôi đọc
kinh cho đức Thế Tôn? Hay đức Thế Tôn đọc cho con tôi nghe?
- Con chị đọc cho đức Thế Tôn nghe đó
chứ.
Vị thần nói thế làm bà cảm thấy thâm
tâm hoan hỷ, nghĩ thầm:
- Nếu con ta đã đọc kinh cho đức Thế
Tôn tại hương thất của Ngài, chắc cũng sẽ đọc kinh cho ta nghe được. Khi nào
con ta trở về, ta sẽ yêu cầu được nghe giáo lý.
Khi được đức Thế Tôn khen ngợi, Trưởng
lão Sona nghĩ thầm, "Ðây
chính là lúc mình bạch lên đức Phật lời thầy mình đã đặn dò". Tôn giả bèn
thỉnh cầu đức Phật ban cho năm ân huệ, điều đầu tiên là xin gia nhập nhóm năm
thầy Tỳ-kheo đang ẩn cư trong rừng, trong nhóm này có một thầy rành thông Luật
tạng. Tôn giả lưu lại bên đức Thế Tôn ít ngày nữa rồi bái biệt, rời Kỳ Viên trở
về với thầy Tế độ. Ngày hôm sau, Tôn giả theo thầy đi khất thực, đến trước cửa
nhà thân mẫu. Thấy con, bà hết sức vui mừng, hỏi han, săn sóc chu đáo, và nói:
- Này con, nghe đâu con được vào hương
thất đức Thế Tôn một mình và đọc kinh cho Ngài nghe phải không?
- Thưa tín nữ, ai nói việc ấy?
- Con à, vị thần cư ngụ tại nhà ta lớn
tiếng khen ngợi, mẹ bèn hỏi "Ai khen ngợi đó". Thần trả lời "Tôi
đây", rồi thần bảo mẹ như vầy như vầy. Sau khi nghe thần nói, mẹ nghĩ:
"Nếu con ta đã đọc kinh cho đức Thế Tôn thì nó sẽ đọc cho ta nghe
được". Con à, con đã đọc kinh cho đức Thế Tôn thì con đọc cho mẹ nghe được
chứ! Vào ngày ấy tháng ấy mẹ sẽ chuẩn bị mọi thứ để nghe con thuyết giảng pháp
nhé!
Thầy nhận lời. Sau đó bà cúng dường chư
Tăng trọng thể, cho xây cất một Pháp đường rộng lớn, đem tất cả gia quyến đi
nghe Tôn giả Sona thuyết pháp,
chỉ chừa lại một người tớ gái trông nhà.
Lúc ấy, một đảng cướp chín trăm tên
luôn luôn tìm cách lẻn vào nhà bà. Nhưng thật khó mà vào được vì toàn thể ngôi
nhà có bảy lớp tường bao bọc, mỗi cửa thảy đều có chó dữ canh chừng. Những
đường mương dẫn nước đều đổ đầy chì. Ban ngày chúng nóng chảy thành chất nước
sền sệt, ban đêm thì đông cứng lại. Gần các mương ấy người ta đóng từng hàng
cọc sắt kiên cố. Do đó trộm cướp khó có thể vào nhà.
Nhưng vào ngày đặc biệt đó, biết rằng
bà đi nghe giảng pháp, chúng đào một địa đạo xuyên qua đường mương bằng chì và
hàng cọc sắt, vào tận trong nhà. Chúng để tên đầu đảng canh chừng nữ chủ, bàn
bạc rằng nếu thấy bà chủ trở về khi biết có cướp vào nhà thì tên đầu đảng phải
giết bà lập tức.
Hắn bèn đi đến nhà giảng pháp, đứng kế
bên bà chủ nhà. Còn bọn cướp vào nhà được rồi thắp đèn sáng lên và mở cưa kho
tiền đồng. Người tớ gái trông thấy chúng bèn chạy tìm nữ chủ báo tin:
- Thưa phu nhân, bọn cướp vào nhà và
đang mở kho tiền đồng.
- Thây kệ chúng! Muốn lấy bao nhiêu thì
lấy. Ta đang nghe thuyết pháp, đừng làm rộn ta. Hãy về đi.
Khi bọn cướp hốt sạch kho tiền đồng,
chúng bèn ăn sang kho tiền bạc. Cô tớ gái lại chạy báo tin cho chủ nhân. Bà
cũng trả lời như trên và tiếp tục nghe giảng pháp. Bọn cướp lại hốt hết kho
tiền bạc, sang mở kho tiền vàng. Cô tới gái nóng ruột chạy đến báo tin lần thứ
ba, bà cũng nói:
- Con đã làm rộn ta hai lần rồi. Ta đã
bảo cứ để bọn cướp mang đi những gì chúng muốn, ta đang nghe pháp, đừng làm ồn,
vậy mà con không nghe. Nếu còn nói nữa ta sẽ phạt con đích đáng đó. Hãy về nhà
đi!
Tên đầu đảng nãy giờ ở cạnh bà canh
chừng, nghe thấy vậy bèn nghĩ thầm: "Nếu chúng ta lấy tài sản của một
người như bà này, trời Ðế Thích sẽ đánh vỡ đầu chúng ta". Hắn trở về ra
lệnh cho đồng bọn trả tất cả tài sản cho bà. Bọn cướp lại để tiền đồng, tiền bạc,
tiền vàng đầy vào kho như cũ. Người ta nói rằng kẻ nào sống chân thật thì được
chính sự chân thật ấy bảo vệ, thật chí lý thay! Bậc Tối Thắng từng nói:
Chân
thật che chở người ngay,
Người chân thật sống ngày ngày đều vui.
Người ngay sẽ được lợi thôi,
Khổ đau phiền não chẳng lôi bao giờ.
Bọn cướp kéo đến giảng đường nghe pháp.
Ðến sáng, Tôn giả mới chấm dứt thời thuyết pháp và bước xuống tòa. Lúc đó, tên
đầu đảng quỳ dưới chân bà Phật tử mẹ Tôn giả:
- Xin phu nhân tha thứ cho tôi.
- Chuyện gì vậy, đạo hữu?
- Tôi ghét bà, và đứng gần với ý định
sẽ giết bà.
- Không sao. Tôi tha thứ cho anh.
Tất cả bọn cướp cũng đều đến bày tỏ sự
ăn năn, bà đều tha thứ hết. Họ thưa:
- Thưa phu nhân, xin bà cho chúng tôi
được vào Tăng đoàn của vị giảng sư con trai bà.
Bà bèn đến bảo vị giảng sư:
- Này con, những vị hảo hán đây cảm
động vì lòng tử tế của mẹ và bài thuyết giảng của con, muốn gia nhập Tăng đoàn.
Con hãy độ họ.
- Rất tốt.
Vị giảng sư cho cắt hết những chiếc váy
chúng mặc lót bên trong, còn áo ngoài thì cho nhuộm màu vàng đất, rồi truyền
giới cho chúng.
Khi bọn họ đã hoàn tất nhiệm vụ của một
Tăng sĩ giáo đoàn, thầy cho mỗi người một đề mục thiền quán. Chín trăm thầy
Sa-môn nhận chín trăm đề mục, lên trên một ngọn núi và mỗi người ngồi dưới một
cội cây thiền định.
Lúc ấy, đức Thế Tôn ở tại giảng đường
Kỳ Viên, cách đó một trăm hai mươi dặm, quán sát các thầy để chọn bài pháp
thích hợp căn cơ. Ngài hiện đến trước các thầy, nói kệ:
(368) Tỳ-kheo trú từ bi,
Tín thành giáo pháp Phật,
Chứng cảnh giới tịch tịnh,
Cách hạnh an tịnh lạc.
(369) Tỳ-kheo, tát thuyền này,
Thuyền không, nhẹ đi mau,
Trừ tham, diệt sân hận,
Tất chứng đạt Niết-bàn.
(370) Ðoạn năm, từ bỏ năm,
Tu tập năm tối thượng,
Tỳ-kheo vượt năm ái,
Xứng danh "vượt bộc lưu".
(371) Tỳ-kheo, hãy tu thiền,
Chớ buông lung phóng dật,
Tâm chớ đắm say dục,
Phóng dật, nuốt sắt nóng,
Bị đốt, chớ than khổ!
(372) Không trí tuệ, không thiền,
Không thiền, không trí tuệ,
Người có thiền, có tuệ,
Nhất định gần Niết-bàn.
(373) Bước vào ngôi nhà trống,
Tỳ-kheo tâm an tịnh,
Thọ hưởng vui siêu nhân,
Tịnh quán theo chánh pháp.
(374) Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Ðược hoan hỷ, hân hoan,
Chỉ bậc Bất tử biết.
(375) Ðây Tỳ-kheo có trí,
Tu tập pháp căn bản,
Hộ căn, biết vừa đủ,
Gìn giữ căn bản giới,
Thường gần gũi bạn lành,
Sống thanh tịnh tinh cần.
(376) Giao thiệp khéo thân thiện,
Cử chỉ mực đoan trang,
Do vậy hưởng vui nhiều,
Sẽ dứt mọi khổ đau.
8. Cỏ Úa, Hoa Phai
Như hoa Vassikà ...
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
ở tại Kỳ Viên, liên quan đến năm trăm vị Tỳ-kheo.
Chuyện kể rằng, các thầy Tỳ-kheo này
sau khi khi được đức Thế Tôn cho đề mục thiền định rồi, liền lui vào rừng sâu
và bắt đầu hành thiền. Ðang ngồi thiền, các thầy trông thấy những bông lài mới
nở tươi tắn chỉ sáng nay thôi, chiều đã úa tàn rũ cánh gục đầu. Các thầy tự
nghĩ: "Chúng ta phải diệt trừ được thâm sân si trước khi những đóa hoa lìa
cành". Và các thầy càng nỗ lực chuyên chú vào việc hành thiền, như vừa
được tiếp thêm sức mạnh mới. Ðức Thế Tôn quán sát các thầy Tỳ-kheo ấy và dạy
rằng:
- Này các Tỳ-kheo, cũng như đóa hoa kia
thoát khỏi cành, một vị Tỳ-kheo cần phải gắng sức thoát khỏi mối khổ sanh tử.
Vẫn ở tại hương thất, Ngài phóng một
đạo hào quang và nói kệ cho các thầy Tỳ-kheo:
(377) Như hoa Vassikà,
Quăng bỏ cánh úa tàn,
Cũng vậy vị Tỳ-kheo,
Hãy giải thoát tham sân.
Nghe xong, tất cả năm trăm thầy Tỳ-kheo
đều đắc quả A-la-hán.
9. Vị Sa Môn Nhàn Tịnh
Thân tịnh, lời an tịnh ...
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Santakaya.
Tỳ-kheo Santakaya là một vị Sa-môn không bao giời mắc lỗi khiếm nhã
trong cách đi đứng và mọi oai nghi cử chỉ. Thầy không bao giờ ngáp lớn hoặc
dang tay đưa chân thô tháo, luôn luôn có vẻ điềm tĩnh, trang nhã. Chuyện kể
rằng thầy vốn được sanh ra từ bụng một con sư tử. Loài sư tử mỗi khi kiếm được
mồi, chúng thường vào trong những động vàng bạc châu báu, mã não và nằm ở đấy
bảy ngày trên một lớp bột vàng trộn với bột hoàng thạch. Ngày thứ bảy, khi trỗi
dậy, chúng quan sát chỗ nằm, nếu thấy có dấu vết di chuyển của đuôi, tai, hoặc
bốn chân làm bụi bột tung tóe, chúng liền tự bảo: "Thế này là chưa xứng
với dòng dõi của mình". Và ở lại nhịn đói thêm bảy ngày nữa, giữ gìn cẩn
thận hơn. Cho đến khi không thấy bụi bột dấy lên, chúng tự nói "Ðây mới
xứng với dòng dõi của ta". Chúng mới rời ổ, ngáp và duỗi tay chân, quan
sát tứ phía, rống lên ba tiếng và đi tìm mồi. Ðược sanh từ bụng một con sư tử
như thế nên thầy luôn có vẻ điềm tĩnh.
Tư cách trang nhã của thầy khiến các
thầy khác chú ý và đến bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, chúng con không hề thấy
Sa-môn nào như thầy Santakaya.
Khi thầy đi đứng, không bao giờ thầy lúc lắc tay chân, không hề ngáp và quơ
tay, đá giò....
Ðức Phật bảo:
- Này các Tỳ-kheo, một vị Sa-môn nên
như Trưởng lão Santakaya, an tịnh
trong khi đi đứng, trong lời nói, tư tưởng.
Ngài nói kệ:
(378) Thân tịnh, lời an tịnh,
An tịnh, khéo thiền tịnh,
Tỳ-kheo bỏ thế vật,
Xứng danh "bậc tịch tịnh".
10. Vị Sa Môn Và Chiếc Khố Rách
Tự mình chỉ trích mình ...
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Nangalakula.
Thuở ấy, có một người nghèo khổ chuyên
đi làm thuê. Một ngày kia có vị Sa-môn thấy anh đang đi trên đường, trên người
chỉ đóng chiếc khố rách, vai vác cái cày. Vị Sa-môn hỏi:
- Nếu anh chỉ kiếm sống bằng cách ấy,
sao không đi tu cho khỏe?
- Bạch Ngài, ai mà chịu cho con, một
người làm thuê đi tu?
- Nếu anh muốn, ta sẽ độ cho.
- Thật là tốt phước cho con. Nếu Ngài
độ con xuất gia, con xin làm Sa-môn.
Vị Sa-môn đem người cày thuê về tinh xá
Kỳ Hoàn tự tay tắm rửa cho y. Vị Sa-môn bảo chú Sa-di mới hãy treo chiếc khố
rách với cái cày trên một nhánh cây gần tịnh thất. Từ đó thầy có tên là Nangalakula, Tôn giả "Thợ Cày".
Sau một thời gian sống trong tu viện,
với những thực phẩm cúng dường sung túc, Tôn giả "Thợ Cày" trở nên
bất mãn. Không chống chọi nổi sự dày vò, thầy nhủ thầm: "Ta không muốn đắp
chiếc y vàng do đàn việt cúng nữa". Thầy đến dưới gốc cây, và tự sỉ nhục
mình: "Mi thật xấu xa, không thành tâm chút nào. Bộ mi muốn mặc chiếc khố
rách này, trở về thế tục để làm thuê hay sao?" Sau khi tự cảnh tỉnh mình,
thầy lại trở về tu viện, hăng hái tu hành. Vài hôm sau, cơn bất bình lại kéo
đến. Thầy cũng ra gốc cây nhìn chiếc khố rách và tự khiển trách như trước. Cứ
thế, mỗi khi buồn bực, thầy đến gốc cây để lại lấy ý chí.
Các vị Sa-môn để ý thầy thường lui tới
gốc cây, bèn hỏi:
- Này huynh Thợ Cày, huynh đến đó làm
gì thế?
- Thưa chư vị, tôi đến viếng vị giáo
thọ của tôi.
Vài hôm sau, thầy chứng A-la-hán. Các
vị Sa-môn thấy thầy không đến gốc cây bèn hỏi đùa:
- Này huynh, lâu nay không thấy huynh
lui tới đường này, chắc huynh không đến vị giáo thọ nữa?
- Thưa vâng, khi tôi còn vướng bận thế
gian, tôi thường lui tới đường này. Nhưng nay tôi chẳng còn liên hệ gì với thế
gian nữa, tôi không cần phải đi.
Các vị Sa-môn nghe thế đến bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, thầy ấy nói điều không
thật, thầy ấy vọng ngữ.
Ðức Phật dạy:
- Này các Tỳ-kheo, thầy ấy nói đúng.
Thầy ấy đã tự khuyên răn mình và đã đạt được Thánh quả.
Ngài nói kệ:
(379) Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ,
Chánh niệm, trú an lạc.
(380) Tự mình y chỉ mình,
Tự mình đi đến mình,
Vậy hãy tự điều phục,
Như khách buôn ngựa hiền.
11. Người Thấy Chánh Pháp Là Thấy Ta
Tỳ-kheo nhiều hân hoan....
Ðức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài
đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Trưởng lão Vakkali.
Tại thành Xá-vệ, có một thanh niên dòng
Bà-la-môn. Một ngày nọ, chàng thấy đức Như Lai đi và thành khất thực. Trông
tướng hảo uy nghiêm của đức Phật, chàng rất yêu thích, và chán ghét hình ảnh
của mình, chàng nghĩ thầm: "Ta sẽ
tình cách để được nhìn đức Như Lai suốt ngày". Chàng bèn theo Phật xuất
gia và ở trong Tăng đoàn. Thầy Sa-môn này cứ luôn luôn tìm chỗ đứng có thể
chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, chẳng màng đến kinh kệ và thiền định. Ðức Như Lai
biết vậy, và đợi cho trí tuệ của thầy thuần thục, Ngài không nói một lời. Ngày
nọ, đức Phật nghĩ:
"Bây giờ trí tuệ của thầy ấy đã
thuần thục". Ngài bèn bảo:
- Này Vakkali,
đâu có gì thích thú khi ngắm một hợp thể bất tịnh gọi là thân Ta? Này Vakkali, ngườii nào thấy pháp là thấy Ta.
Nhưng mặc lời khuyên của đức Như Lai,
thầy Vakkali vẫn không thể rời
tia mắt khỏi đức Phật, hoặc lìa khỏi chỗ Phật ngồi. Cuối cùng đức Phật nghĩ:
"Thầy Sa-môn này sẽ không bao giờ
tỉnh ngộ, trừ phi gặp một cơn xúc động lớn". Lúc ấy, mùa an cư đã đến, đức
Như Lai tìm nơi an cư. Ngài về thành Vương Xá, đuổi thầy Vakkali trở lại Trúc Lâm. Và suốt ba mùa
trăng, Vakkali không được thấy
Phật, không được nghe Ngài nói. Buồn quá, thầy sinh ra ý tưởng muốn tự tử. Thầy
bèn leo lên ngọn Linh Thứu và định nhảy xuống chết.
Ðức Thế Tôn biết thầy quá đau khổ và
chán đời, Ngài nghĩ thầm: "Nếu thầy Vakkali
không được sự an ủi của ta, thấy sẽ làm hỏng cả dịp chứng quả Thánh". Lập
tức Ngài bèn hiện thân trước thầy Vakkali,
lúc đó đang toan đâm đầu xuống núi. Vừa thấy đức Như Lai, thầy liên cảm thấy
yêu đời, nỗi buồn khổ tiêu tan. Và như rót đầy nước vào một đáy hồ khô cạn, đức
Như Lai đã làm tuôn dậy mối hoan hỷ trong lòng thầy. Ngài nói kệ:
(381) Tỳ-kheo nhiều hân hoan,
Tịnh tín giáo pháp Phật,
Chứng cảnh giới tịch tịnh,
Các hạnh an tịnh lạc.
Ðức Như Lai đưa tay về phía thầy Vakkali và bảo:
Ðến
đây Vakkali!
Nhìn Như Lai chớ sợ.
Ta sẽ đưa tay đỡ
Như kéo voi sa lầy
Vakkali,
đến đây!
Nhìn Như Lai chớ sợ.
Ta giúp ngươi giải thoát,
Như gỡ được mặt trời,
Ra khỏi cơn nhật thực.
Ðến
đây, Vakkali
Nhìn Như Lai chớ sợ.
Ta sẽ giải thoát người,
Như gỡ vầng trăn tỏ
Cho khỏi bị nguyệt thực.
Thầy Vakkali nghĩ thầm: "Ta vừa
thấy được đấng Thập Lực, và Ngài bảo ta hãy đến bên Ngài!" Lòng thầy tràn
ngập hân hoan. "Ta làm sao đến được?", thầy tự nghĩ thế. Ðứng trên
đỉnh núi cao, dù chẳng thấy có đường đi, thầy tung mình nhảy vào không trung
đến trước mặt đấng Thập Lực ngay khi vừa nghe những chữ đầu của câu Pháp Cú. Và
trong lúc đang bay, suy niệm bài kệ của đức Thế Tôn, thầy chế ngự được cơn hoan
lạc và chứng A-la-hán cùng một lúc với các thần thông. Và đầy lòng cảm thán đức
Như Lai, thầy hạ xuống đất, đảnh lễ đức Phật. Thế Tôn xếp thầy đệ nhất trong
hàng đệ tử có lòng tin chân thật.
12. Vị Sa Môn Và Long Vương
Tỳ-kheo tuy nhỏ tuổi.....
Thế Tôn dạt những lời này khi Ngài đang
ở tại Pubbarama, liên quan đến
Sa-di Sumana
Chuyện quá khứ:
12A. Chàng Annabhhàra Nghèo
Khổ Và Quan Chưởng Khố Sumana Giàu
Có
Vào thời Phật Padumuttara, có một thanh niên gặp Phật
vào lúc Ngài đang ở giữa tứ chúng tuyên bố một thầy Tỳ-kheo nọ là Thiên nhãn đệ
nhất. Lòng mong muốn đạt đến địa vị ấy, chàng thỉnh Phật và chúng Tỳ-kheo đến
nhà thọ thực suốt bảy ngày, rồi phát nguyện: "Bạch Thế Tôn, con nguyện xin
được thành Thiên nhãn đệ nhất dưới thời một vị Phật tại thế".
Ðức Phật Padumuttara quán sát rồi thọ ký:
- Một trăm ngàn kiếp nữa, dưới thời
Phật Thích Ca, người thanh niên này sẽ được Thiên nhãn đệ nhất, mang tên
A-na-luật.
Sau khi được thọ ký, mỗi ngày chàng đều
cảm thấy như sẽ được đắc thần thông vào ngày mai. Phật nhập Niết-bàn rồi, chàng
hỏi các thầy Tỳ-kheo phải tu hành như thế nào để đắc Thiên nhãn thông. Chàng
cho thắp đuốc thành vòng tròn bảy hải lý quang ngôi tháp vàng thờ Phật, lấy ánh
sáng tôn vinh Ngài. Hết kiếp ấy, chàng thọ sanh lên cõi trời. Sau nhiều kiếp
tái sanh suốt một trăm ngàn kiếp, chàng đầu thai vào một nhà nghèo ở Ba-la-nại.
Chàng khuân vác cỏ mướn cho quan chưởng khố Sumana
nên có tên là annabhàra,
người khuân vác cỏ ăn. Quan chưởng khố Sumana
thường cúng dường bố thí rộng rãi tại đôi thị này.
Một hôm, đức Phật Ðộc Giác Uparittha xuất diệt tận định, và tự quán
sát: "Hôm nay ta sẽ độ ai?" Một tư tưởng liền đến trong đầu Ngài:
"Hôm nay ta sẽ độ annabhara",
và ngài tiếp tục quán sát: "Lúc này Annabhara
đang mang cỏ cắt trong rừng về". Ngài bèn lấy y bát, dùng thần thông bay
đến trước mặt Annabhara. Chàng
thấy bát trống trong tay Ngài, bèn thưa:
- Bạch Ngài, Ngài chưa được cúng dường
ư?
- Ta đang khất thực, hỡi chàng trai tốt
phước.
- Vậy thì, bạch Ngài, xin Ngài đợi giây
lát.
Ném bó cỏ, chàng vội vã về nhà hỏi vợ:
- Mình ơi, có để dành phần ăn cho tôi
không?
- Dạ có ạ.
Annabhara lại vội quay về gặp vị Phật Ðộc
Giác, đỡ lấy bát của Ngài. Chàng nghĩ thầm: "Lâu nay mỗi lần muốn cúng
dường, mình không có gì để cúng. Còn khi có vật thực để cúng, mình lại chẳng
gặp được vị nào. Hôm nay mình có được cả hai, thật may mắn làm sao!".
Chàng về đến nhà, múc cơm vào bình bát, mang đến cúng dường đức Phật, phát
nguyện:
- Bạch Ngài, xin cho con được thoát
khỏi cuộc sống đọa đày hiện nay của con. Xin cho con đừng bao giờ phải nghe
tiếng "không có".
Vị Phật Ðộc giác liền hồi hướng công
đức cho chàng:
- Này thiện nam tử, sẽ được vậy.
Vị thần trú trong chiếc lọng của quan
chưởng khố Sumana kêu lên:
- Ôi đức Phật Uparittha được cúng dường món vật thực cao
quý biết bao!
Và thần ba lần tán thán Annabhara.
Quan chưởng khố hỏi:
- Lâu nay ông không thấy ta bố thí sao?
Thần đáp:
- Chẳng phải tôi tán thán ông cúng
dường đâu. Tôi đang ca ngợi chàng Annabhara
cúng dường Phật Uparittha đấy.
- Hay thay! Ta đã cúng dường biết bao
nhiêu từ trước đến giờ thần chẳng ca ngợi. Còn chàng Annabhara làm mướn cho ta chỉ cúng một bữa ăn lại được khen.
Ta sẽ trả giá mua phần cúng dường này về phần ta.
Quan chưởng khố cho gọi Annabhara đến hỏi:
- Hôm nay, anh có cúng dường ai không?
- Thưa ông chủ có ạ. Tôi đã cúng dường
phần cơm tôi cho Phật Ðộc Giác Uparittha.
- Anh cầm đồng xu này và nhường cho tôi
phần cúng dường ấy nhé!
- Thưa ông, không được đâu.
Quan chưởng khố tăng giá lên một ngàn
đồng, Annabhara vẫn không chịu.
Ông bèn nói:
- Thôi được rồi, nếu anh không nhường
phần cúng dường ấy thì hãy lấy một ngàn đồng này và hồi hướng cho tôi phần
phước vậy.
- Xin ông hãy để tôi hỏi ý kiến Ngài
rồi quyết định ạ.
Chàng chạy đến gặp đức Phật Ðộc Giác.
- Bạch Ngài, quan chưởng khố trao con
một ngàn đồng và yêu cầu hồi hướng công đức cho ông ấy. Con phải làm sao?
Ðức Phật dùng thí dụ đáp:
- Như trong làng kia có một trăm nhà,
một người chỉ thắp một ngọn đèn nhà mình rồi các nhà khác đến đó châm đèn mang
về. Vậy ánh sáng đó phải của ngọn đèn dầu đầu tiên không?
- Bạch Ngài trong trường hợp ấy ánh
sáng của cây đèn đầu tiên đã gia tăng lên.
- Thiện nam tử, việc cúng dường của anh
cũng thế. Dù một môi cháo, một muỗng cơm, khi ta hồi hướng phước đức do công
cúng dường ấy qua những người khác, phước sẽ gia tăng theo số người được hồi
hướng. Ðây anh chỉ cúng dường một phần ăn. Nhưng khi anh hồi hướng quan chưởng
khố phước đức ấy thì nó tăng lên gấp đôi, một thuộc về anh và một thuộc quan
chưởng khố.
- Bạch Ngài, quý hóa quá.
Annabhàra từ giã vị Phật Ðộc Giác đến gặp
quan chưởng khố:
- Thưa ông, xin ông hãy nhận phần phước
đức cúng dường của tôi.
- Ðây anh cầm lấy tiền.
- Tôi không bán đâu ạ. Tôi tặng ông
phần phước đức ấy là từ lòng tin của tôi thôi.
- Vậy cũng tốt. Về phần tôi, tôi cảm
phục nhân cách cao quý của anh lắm. Anh bạn, hãy nhận số tiền này đi. Từ nay
anh khỏi cần cực nhọc làm thuê mướn cho tôi nữa. Anh hãy cất một căn nhà nơi
đường phố lớn mà ở. Lúc nào cần thức gì, anh cứ lại kho tôi lấy.
Aáy là quả hiện báo do cúng dường bữa
ăn cho một vị xuất định diệt thọ tưởng. Nhà Vua nghe chuyện cũng cho gọi Annabhàra đến, xin chàng một phần phước
đức, ban thưởng chàng rất hậu và cho làm chức chưởng khố.
Bây giờ Annabhàra là bạn hữu của quan chưởng khố Sumana. Chàng tiếp tục làm việc phước
thiện cho đến khi mãn kiếp, được thọ sanh lên cõi trời. Qua nhiều lần tái sinh
trong cõi trời và người, chàng thọ sanh vào một gia dình hoàng tộc dòng Thích
Ca, hoàng thân Amitodana, tại
thành Ca-tỳ-la-vệ, dưới thời đức Phật hiện tại. Sau mười tháng cưu mang, phu
nhân Amitodana mới sinh chàng,
đặt tên A-na-luật. Tôn giả là em út vương tử Mahanam,
anh em chú bác của Phật. Tôn giả được nuôi dưỡng trong sự chăm sóc cưng chiều,
là vị vương tử có phước báo rất lớn.
Chuyện hiện tại:
12B. A-Na-Luật Xuất Gia
Một hôm sáu vị vương tôn chơi đánh bạc
ăn bánh, A-na-luật thua, nhờ người đi xin bánh nơi thân mẫu. Phu nhân sắp đầy
bánh vào một đĩa vàng lớn đem đến. Các vương tôn ăn bánh xong chơi tiếp.
A-na-luật thua, lại xin bánh. Phu nhân ba lần cho mang bánh tới, lần thứ tư bà
nhắn: "Không có bánh nữa". Chưa bao giờ nghe chữ "không có"
nên nghe mẫu thân nhắn, chàng tưởng tượng: "Chắc có thứ bánh gọi là
"không có" bèn bảo người hầu:
- Ði xin ít bánh "không
có" Phu nhân nghe vậy bèn nghĩ:
"Con ta chưa hề nghe tiếng "không có". Ta làm sao giảng cho nó
hiểu đây?".
Phu nhân rửa sạch một chiếc bát vàng,
lấy chiếc bát vàng khác úp lên, rồi bảo người hầu đem đi nói:
- Ðây, con trao cái này cho cậu.
Lúc ấy, chư thiên cõi trời giữ thành tự
nghĩ: "Trong kiếp trước, chủ nhân chúng ta là Annabhàra đã cúng dường phần thức ăn mình cho vị Phật Ðộc
Giác Uparittha, và phát nguyện:
"Xin đừng bao giờ nghe tiếng "không có". Chúng ta biết hết đầu
đuôi câu chuyện mà có thái độ thờ ơ, coi chừng đầu nứt thành bảy miếng. Nghĩ
vậy, chư thiên bèn cho vào chiếc tô ấy đầy những chiếc bánh chư thiên vẫn dùng.
Người hầu mang tô đến, đặt trước mặt sáu vị vương tôn và mở ra. Mùi bánh thơm
ngào ngạt khắp cả kinh thành. Hơn thế, mỗi miếng bánh được cho vào miệng liền
gây cảm giác khoan khoái cho đủ cả bảy ngàn dây thần kinh vị giác.
Vương tử A-na-luật nghĩ thầm:
"Ðúng là lâu nay mẹ không thương mình, chưa bao giờ mẹ làm cho mình ăn thứ
bánh "không có" này.
Chàng đến gặp mẹ, hỏi:
- Mẹ ơi, mẹ không thương con phải
không?
- Kìa con, nói gì vậy? Mẹ cưng con hơn
mắt mẹ, quý con hơn tim mẹ mà.
- Mẹ thân yêu ơi, nếu mẹ thương quý
con, sao trước giờ mẹ không cho con ăn thứ bánh "không có" này?
Phu nhân hỏi người hầu:
- Này con, trong chiếc bát có gì không?
- Thưa phu nhân, có. Trong bát đầy
những chiếc bánh con chưa từng thấy bao giờ.
Phu nhân suy nghĩ: "Con ta thường
làm việc thiện. Chắc chư thiên đã cho bánh của các vị".
Vương tử A-na-luật lại bảo:
- Mẹ thân yêu ơi, con chưa bao giờ được
ăn thứ bánh ấy. Từ rày mẹ chỉ chiên bánh này cho con ăn thôi nhé.
Về sau mỗi khi cậu đòi "cho con ăn
bánh", phu nhân lại rửa sạch một chiếc bát vàng, lấy chiếc bát vàng khác
úp lên cho mang đến, và chư thiên lại sắp đầy bánh của cõi trời vào bát. Cậu cứ
thế sống trong sự chăm chút nâng niu của gia đình, chẳng bao giờ biết đến nghĩa
chữ "không có", và ăn toàn bánh chư thiên.
Khi nhiều vị vương tôn công tử thuộc
hoàng tộc Thích-ca nối tiếp nhau lần lượt xuất gia, nhập vào Tăng đoàn đức Thế
Tôn, ngài Mahanam đến gặp cậu em
A-na-luật bảo:
- Này em, gia đình ta chưa có ai xuất
gia làm Sa-môn. Hai anh em mình phải có một người xuất gia theo Phật mới được.
Cậu đáp:
- Từ trước tới giờ em quen sống được
chăm sóc chu đáo. Em không thể xuất gia làm Sa-môn được đâu anh.
- Thế thì em coi sóc ruộng vườn đi, anh
sẽ xuất gia.
- Coi sóc ruộng vườn là làm sao?
Cậu không biết đến cả chuyện thực phẩm
từ đâu có, làm sao biết việc trông nom ruộng vườn?
Có lần ba vương tử A-na-luật, Bạt-đề và
Kiếp-tân-na bàn tán về vấn đề: "Cơm từ đâu có?". Kiếp-tân-na nói
trước:
- Cơm lấy từ kho ra.
(Kiếp-tân-na từng thấy người ta đem gạo
chất vào kho nên tưởng rằng cơm từ kho mà có).
Bạt-dề bảo Kiếp-tân-na:
- Cậu chẳng biết gì cả. Cơm lấy từ
trong nồi cơm. (Một hôm Bạt-đề thấy cơm được bới từ nồi nấu cơm ra nên bảo cơm
từ nồi mà có).
A-na-luật bảo hai vương tử:
- Các cậu đều không biết gì. Cơm lấy từ
chiếc liễn vàng có quai nạm ngọc kia. (Cậu chưa từng thấy người ta giã gạo hay
nấu cơm, chỉ thấy cơm sau khi đã được múc từ nồi nấu ra, đặt trước mặt cậu
trong chiếc liễn vàng).
Như vậy, làm sao vị vương tôn có phước
báo lớn này lại rành chuyện ruộng vườn?
Vương tử Mahanam bảo:
- Này A-na-luật, anh sẽ cho em hay một
gia chủ phải làm gì nhé! Trước hết em cho cày ruộng..
Ông bắt đầu giảng giải cho em nghe các
thứ công việc. Nghe anh liệt kê một dọc nhiệm vụ công tác mà một vị chủ nhân
phải đảm đương, cậu nói:
- Em chẳng làm xong vai trò chủ nhân ấy
đâu.
Em xin phép mẫu thân xuất gia làm
Sa-môn. Cùng với năm ông hoàng khác của dòng Thích Ca, cậu từ giã thành
Ca-tỳ-la-vệ, trước hết đến vườn xoài Anupiya
gặp Phật xin xuất gia. Tôn giả tu hành tinh tấn và sau một thời gian
chứng Tam minh. Tôn giả có thể dùng Thiên nhãn thấy suốt ba ngàn đại thiên thế
giới dễ dàng như ngắm trái cây trong lòng bàn tay. Ngồi trên đơn, Tôn giả ngâm
kệ:
Ta
biết hết đời ta những kiếp trước
Ta đã đắc thiên nhãn, đắc thần thông.
Tam thông ta đạt, và ta thấu triệt.
Giáo pháp nhiệm mầu của đức Thế Tôn.
Rồi Tôn giả suy nghĩ: "Ta đã làm
những gì để được như vậy?". Liền khi ấy, Tôn giả biết: "Vào thời Phật
Padumuttara, ta đã có lời phát
nguyện. Sau thời gian luân hồi qua lại, ta được tái sanh ở Ba-la-nại vào thời
nọ và sống bằng nghề làm mướn cho quan chưởng khố Sumana. Tên ta là Annabhàra".
Tôn giả ngâm kệ tiếp:
Trong
một kiếp ta là người cắt cỏ
Tên Annabhàra, kẻ làm mướn nghèo cùng
Ta đã cúng dường bữa cơm thật khiêm nhường
Cho vị Phật Uparittha danh tiếng.
Bỗng Tôn giả chợt nghĩ: "Quan chưởng khố Sumana bây giờ ở đâu? Ông đã tặng ta tiền đổi lấy phần cơm ta cúng dường Phật Uparittha, và nhận phần phước đức cúng dường ấy". Tôn giả liền thấy được quan chưởng khố ngay: "Nơi rừng Vinjha, tại một chân núi ở thị trấn Munda, có Phật tử tên là Mahà Munda. Con trai lớn của ông tên là Mahà Sumana, còn người con trai thứ tên là Culla Sumana, chính l