|
Chương XXI
Phẩm Tám Mươi Bài Kệ
-ooOoo-
533. Chuyện tiểu Thiên nga (Tiền thân Cullahamsa)
Bầy chim không để ý gì ta...,
Đây l à chuyện do bậc Đạo Sư kể trong
lúc trú tại Trúc Lâm về cách Tôn giả Ànanda
đã hy sinh tính mạng.
Khi những người thiện xạ được mua chuộc để
sát hại đức Như Lai và người đầu tiên
được Devadatta (Đề-bà-đạt-da)
phái đi làm việc này đã trở về, y
nói:
- Bạch Tôn giả, con không thể đoạt mạng sống
của đức Thế Tôn, vì Ngài có đủ đại thần
thông lực.
Devadatta đáp:
- Thôi được, ông không cần phải sát hại
Sa-môn Gotama. Ta sẽ đích thân đoạt mạng sống của vị ấy.
Thế rồi trong khi đức Như Lai đang đi dạo
dưới bóng mát ngã về tây của núi Gijjhakùta (Linh Thứu), Devadatta
trèo lên đỉnh núi và ném xuống một tảng
đá lớn như thể từ chiếc máy lăn đá bắn ra và
tự nhủ: "Với tảng đá này, ta sẽ giết
Sa-môn Gotama". Song hai đỉnh núi giao nhau
chặn lấy tảng đá và một mảnh vụn văng ra
đụng vào chân của đức Thế Tôn làm
chảy máu, và gây đau nhức dữ dội.
Y sĩ Jìvaka lấy dao cắt rộng miệng vết thương ở chân
đức Như Lai, để máu độc chảy ra và cắt
bỏ chỗ thịt sưng rồi xoa thuốc vào vết thương cho lành.
Bậc Đạo Sư đi lại như trước, với các vị đại
đệ tử hầu cận quanh Ngài, trong mọi dáng
điệu uy nghi của một vị Phật. Vì thế, khi thấy Ngài, Devadatta nghĩ
thầm: "Quả thật không có một kẻ phàm phu nào chiêm ngưỡng dung sắc tối thắng
của kim thân Sa-môn Gotama lại dám tời gần vị ấy, ngoại trừ vương tượng
Nàlàgiri là một mãnh thú hung dữ chẳng biết gì về các công
đức của Phật, Pháp, Tăng. Nó sẽ tiêu
diệt Sa-môn này".
Thế là ông liền đi kể chuyện này với
vua. Vua sẵn sàng đồng ý với đề nghị này
và triệu người quản tượng vào bảo:
- Này khanh, ngày mai khanh phải làm cho Nàlàgiri say rượu
đến độ điên cuồng, và lúc tảng sáng thả
nó ra đường phố mà Sa-môn Gotama
đi qua.
Devadatta hỏi người quản tượng ngày thường con voi này uống bao nhiêu
rượu men và khi y đáp: "Tám vò", ông
bảo:
- Ngày mai hãy cho nó uống mười sáu vò rồi thả nó ra về phía con
đường Sa-môn Gotama đi qua.
- Được lắm -Người quản tượng đáp.
Vua truyền đánh trống khắp kinh thành
và công bố:
- Ngày mai Nàlàgiri sẽ say rượu mạnh đến điên
cuồng và được thả lỏng trong kinh thành.
Dân chúng trong thành phải làm mọi việc cần làm vào sáng sớm, và sau
đó không ai được liều lĩnh ra đường phố.
Devadatta từ cung vua xuống tận chuồng voi và bảo
đám quản tượng:
- Này ta bảo cho các ông biết, chúng ta có thể hạ nhục một người từ
địa vị cao sang xuống địa vị thấp hèn và
nâng một người từ địa vị thấp hèn lên
địa vị cao sang. Nếu các ông muốn danh giá, thì
sáng sớm ngày mai hãy cho Nàlàgiri uống mười sáu vò rượu mạnh, và
đúng lúc Sa-môn Gotama đi đến lối ấy, hãy
đâm con voi kia với các gậy nhọn, nó sẽ phá
chuồng nổi điên, ông hãy đuổi nó ra về
phía con đường Sa-môn Gotama thường đi qua và thế là tiêu diệt vị ấy.
Bọn chúng sẵn sàng làm như vậy. Tiếng đồn
vang dậy khắp kinh thành. Các đệ tử tại
gia thân cận Phật, Pháp, Tăng nghe tin ấy liền đến gần bậc Đạo Sư và
thưa:
- Bạch Thế Tôn, Devadatta đã âm mưu
với vua, ngày mai sẽ cho thả con voi Nàlàgiri ra
đường mà Thế Tôn
đi qua. Xin Thế Tôn ngày mai
đừng vào thành khất thực, mà cứ ở lại
đây. Chúng con sẽ cúng dường thực phẩm ngay tại
tinh xá lên Tăng chúng với đức Phật đứng
đầu.
Đức Phật không nói thẳng: "Ngày mai Ta sẽ không vào thành khất
thực", mà Ngài đáp:
- Ngày mai ta sẽ thị hiện thần thông để
nhiếp phục Nàlàgiri và đánh bại tà
đạo. Và vì không
đi khất thực trong thành Vương Xá, ta sẽ
rời thành cùng một số Tỷ-kheo hộ tống đi thẳng
đến Veluvana (Trúc Lâm), rồi dân chúng ở Vương Xá sẽ đến đó mang theo nhiều
bình bát thực phẩm và ngày mai họ sẽ cúng dường bữa
ăn tại trai đường của tinh xá ấy.
Bằng cách này, bậc Đạo Sư đã chấp
thuận lời thỉnh cầu của họ.
Khi được tin đức Như Lai đã tán
đồng nguyện vọng của họ, họ ra đi từ kinh thành,
mang theo nhiều bình bát thực phẩm và bảo nhau:
- Chúng ta sẽ cúng dường lễ vật ngay tại tinh xá ấy.
Còn bậc Đạo Sư thuyết Pháp vào canh
một, giải đáp các vấn đề khó khăn vào
canh giữa và phần đầu canh cuối, Ngài
nằm nghiêng về phía hữu như dáng sư tử, giữa canh cuối Ngài an trú trong
Thánh quả, và sau cùng khi Ngài nhập định đại
bi vì nhân loại khổ đau, Ngài
quán sát mọi người quyến thuộc của Ngài đã
đủ cơ duyên thuần thục
để được giáo hóa, và nhận thấy rằng do
kết quả việc nhiếp phục con voi Nàlàgiri, tám mươi bốn ngàn người sẽ
được thông hiểu Pháp.
Rạng ngày hôm sau, khi đã phục vụ mọi
nhu cầu thân thể, Ngài nói với Tôn giả Ànanda:
- Này Ànanda, hôm nay hãy bảo tất cả Tỷ-kheo trong mười tám tinh xá quanh
thành Vương Xá đến hộ tống Ta vào trong
thành ấy.
Tôn giả tuân lệnh và tất cả Tăng chúng tập
hợp tại Trúc Lâm.
Bậc Đạo Sư được Tăng chúng đông đảo hộ tống
đi vào Vương Xá và bọn quản tượng tiến hành công việc theo lệnh
truyền, còn quần chúng tụ họp thành nhiều đám.
Những người mộ đạo nghĩ thầm: "Hôm nay sẽ có cuộc đại chiến giữa đức Phật là
vương tượng với con voi của thế giới phàm tục này. Chúng ta sẽ chứng kiến
đức Phật đánh bại Nàlàgiri nhờ thần lực
vô song của Ngài", và họ trèo lên đứng trên
các lầu thượng và mái nhà cùng nóc nhà.
Còn các đám tà
đạo không tin tưởng lại suy nghĩ: "Nàlàgiri
là một con dã thú hung hãn, không biết gì về công
đức của chư Phật. Hôm nay nó sẽ dẫm nát hình
thể vinh quang của Sa-môn Gotama và khiến vị ấy phải chết. Hôm nay ta sẽ trừ
khử địch thủ của ta rồi".
Họ cũng đứng trên các thượng lầu và
các chỗ cao khác.
Còn con voi, khi nhìn thấy đức Thế Tôn đến
gần, đã làm mọi người kinh hoàng bằng cách phá sập nhà cửa, giương
vòi ra nghiền nát xe cộ, tai vểnh, đuôi dựng
ngược hùng hổ chạy như một ngọn núi sừng sững lao về phía
đức Thế Tôn.
Khi thấy nó, Tăng chúng thưa với đức Thế
Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Nàlàgiri là một dã thú hung hãn, là tên sát nhân,
đang tiến đến đường này. Thật ra nó
chẳng biết gì đến công đức của chư Phật. Xin
đức Thế Tôn, bậc Thiện Thệ hãy lùi bước.
- Này các Tỷ-hheo, đừng sợ, Ta có đủ uy lực
nhiếp phục Nàlàgiri.
Sau đó Tôn giả Sàriputta thỉnh cầu
đức Phật:
- Bạch Thế Tôn, khi nào có việc gì phải phụng sự phụ thân, thì
đó là trách nhiệm
đặt lên vai con trưởng. Con xin nguyện
nhiếp phục con vật này.
Bậc Đạo Sư lại bảo:
- Này Sàriputta, uy lực của đức Phật là
một việc, còn uy lực của các đệ tử là
một việc khác.
Ngài từ chối lời đề nghị của Tôn giả và
bảo:
- Ông phải ở lại đây.
Đây cũng là lời thỉnh cầu của tám mươi vị Trưởng lão nhưng Ngài từ
chối tất cả. Lúc ấy Tôn giả Ànanda vì lòng ái kính bậc
Đạo Sư nồng nhiệt nên không thể chấp
nhận việc này và kêu lớn:
- Hãy để con voi này giết con trước
tiên.
Rồi Tôn giả đứng ngay trước bậc Đạo Sư, sẵn
sàng hy sinh tính mạng vì đức Như Lai. Vì
thế bậc Đạo Sư bảo vị ấy:
- Này Ànanda, đi ra ngay, đừng đứng trước
mặt Ta.
Vị Trưởng lão đáp:
- Bạch Thế Tôn, con voi này rất hung bạo và man rợ,
đó là một tên sát nhân, giống như ngọn
lửa ở đầu cái vòng. Xin
để nó giết con trước rồi sau đó mới đến gần đức
Thế Tôn.
Và mặc dù đã
được bảo đến lần thứ ba, vị Trưởng lão
này vẫn đứng yên tại chỗ và không
đi lui. Lúc ấy đức Thế Tôn dùng thần lực
đẩy vị ấy ra sau và
đưa Tôn giả vào giữa Tăng
chúng. Ngay lúc này một phụ nữ chợt trông thấy Nàlàgiri, quá kinh
hoảng vì sợ chết, liền chạy làm rơi đứa con mà
bà đang bế bên hông xuống giữa khoảng
đức Như Lai và con voi rồi vội thoát
thân.
Con voi đuổi theo bà, chợt
đến gần đứa bé đang khóc lớn. Bậc Đạo Sư gây
xúc động với lòng từ bi được trải rộng
rất đặc biệt, vừa cất giọng dịu ngọt như tiếng của Phạm thiên vừa gọi
con voi Nàlàgiri:
- Này Nàlàgiri, những kẻ đã làm voi
điên cuồng với mười sáu vò rượu mạnh
không để cho voi tấn công kẻ nào khác,
mà chúng làm vậy vì nghĩ rằng voi sẽ tấn công Ta.
Đừng nhọc công chạy quanh không mục đích, mà
hãy đến đây.
Khi nghe giọng nói của bậc Đạo Sư, con voi
mở mắt và nhìn dáng uy nghi của đức Thế
Tôn, liền xúc động mãnh liệt và nhờ thần lực của
đức Phật, công hiệu độc hại của rượu mạnh tan
biến mất.
Vừa hạ vòi và vẫy tai, nó vừa đi đến quỳ
xuống dưới chân đức Như Lai. Lúc ấy bậc Đạo Sư bảo nó:
- Này Nàlàgiri, ngươi là một con voi hung dữ ta là vương tượng
đã thành Phật. Từ nay ngươi
đừng hung dữ và man rợ nữa,
đừng sát nhân, mà hãy tu tập tâm từ.
Nói vậy xong, Ngài đưa tay phải ra vỗ về
trán voi và thuyết Pháp qua các vần kệ này:
Nếu voi dám đánh Chúa voi này,
Voi sẽ khóc than kiếp đọa đày,
Đánh Chúa voi này, ngươi phải chịu
Đọa vào khổ cảnh kiếp sau hoài.
Từ bỏ buông lung với dại cuồng,
Kẻ ngu không đạt đến thiên
đường,
Nếu mong thiên lạc trong đời kế
Voi phải lo làm việc thiện lương.
Toàn thân con voi được thấm nhuần niềm hoan
hỷ, và giá như nó chẳng phải là loài vật bốn chân, thì nó
đã đắc Sơ
quả Dự Lưu. Dân chúng chiêm ngưỡng phép thần thông này, liền reo hò
vang dậy và búng ngón tay dòn dã.
Trong niềm hân hoan, họ tung lên đủ mọi
trang sức phủ khắp mình voi. Từ đó Nàlàgiri
được mệnh danh là Dhanapàlaka (Tài Hộ:
giữ kho báu).
Bấy giờ vào dịp gặp gỡ voi Tài Hộ này, tám vạn bốn ngàn chúng sinh
được uống vị ngọt của Pháp Bất tử. Và
bậc Đạo Sư đã an trú voi Tài Hộ vào Ngũ
giời. Nó vừa dùng vòi hất bụi bặm từ chân đức
Thế Tôn rải lên đầu nó, vừa cúi mình
đi lui, rồi đứng đảnh lễ đấng Thập lực cho đến
khi Ngài khuất dạng, sau đó nó quay về
chuồng voi.
Từ đó về sau, nó hoàn toàn thuần thục
và không hại ai cả. Bấy giờ ý nguyện của bậc
Đạo Sư đã thành tựu, nên Ngài quyết định
rằng kho báu ấy vẫn là tài sản của những người
đã ném nó lên con voi, Ngài suy nghĩ:
"Hôm nay Ta đã thực hiện một
đại thần thông. Nếu Ta đi khất thực trong kình
thành này thì không thích hợp".
Thế là sau khi đánh bại đám tà
đạo, Ngài
được các Tỷ-kheo hộ tống đi ra kinh thành như một vị tướng lãnh chiến
thắng và tiến thẳng về phía Trúc Lâm. Dân chúng
đem theo một số cơm nước và thức ăn loại
cứng đi vào tinh xá rồi cử hành đại lễ
cúng dường.
Chiều hôm ấy, trong lúc ngồi đông đủ tại
Chánh Pháp đường, Tăng chúng bắt đầu thảo luận, bảo nhau:
- Tôn giả Ànanda đã thành tựu một
việc hy hữu khi sẵn sàng hy sinh tính mạng để
cứu đức Như Lai. Vừa trông thấy Nàlàgiri, mặc dù
đã bị bậc
Đạo Sư bảo ba lần không được ở lại đó, Tôn giả vẫn không chịu đi ra. Này
các Hiền giả, quả thật Trưởng lão ấy đã
làm một việc hy hữu.
Bậc Đạo Sư suy nghĩ: "Câu chuyện này
xoay quanh vấn đề đức hạnh của Ànanda,
Ta phải hiện diện ở đó mới được".
Ngài liền bước ra khỏi Hương phòng vừa đến
hỏi hội chúng:
- Này các Tỷ-kheo, các ông đang bàn
vấn đề gì trong lúc ngồi tại
đây?
Và khi Tăng chúng đáp: Về vấn đề như vầy như
vầy. . .,
Ngài bảo:
- Không phải chỉ bây giờ, mà ngày xưa nữa, ngay khi còn ở hình hài súc
sinh, Ànanda cũng đã hy sinh tính mạng
vì Ta.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, trong quốc độ Mahimsaka ở kinh thành
Sakula, có vị vua mệnh danh Sakula cai trị vương quốc theo Chánh pháp. Thời
ấy, không xa kinh thành, có một người bẫy chim ở trong ngôi làng của dân bẫy
chim, kiếm sống bằng nghề đánh bẫy chim và
đem ra phố bán. Gần kinh thành là một hồ
sen tên là Mànusiya, chu vi mười hai dặm, phủ
đầy năm loại hoa sen. Một đàn chim đủ
loại thường đến đó và người thợ kia tha hồ
đặt bẫy. Bấy giờ chúa loài Thiên nga là
Dhatarattha có đám tùy tùng gồm chín
mươi sáu ngàn Thiên nga an trú trong Kim Động
trên núi Cittakùta và vị đại tướng của đàn
là Sumukha (Sư-mục-kha).
Một ngày kia, một đàn Thiên nga màu
vàng óng ả bay đến hồ Manusiya và sau
khi gặm chồi sen thỏa thích trong vùng đất
phong phú thực phẩm này, chúng bay về ngọn núi Cittakùta mỹ lệ kia và
trình báo với chúa chim Dhatarattha:
- Tâu Đại vương, có hồ sen tên là
Mànusiya, một vùng đất thực phẩm phong phú nằm
giữa nơi cư trú của loài người. Chúng thần muốn
đến nơi đó ăn uống.
Chúa chim đáp:
- Những nơi cứ trú của loài người đầy nguy
hiểm. Đừng để chuyện này lôi cuốn các bạn.
Sau đó mặc dù không ưng thuận
đi, ngài vẫn bị chúng nài nỉ mãi, liền
bảo:
- Nếu các bạn thích chuyện ấy thì chúng ta sẽ
đi.
Rồi cùng với đám hầu cận, ngài bay
đến đó. Vừa đáp xuống từ trên không,
ngài đã đặt
chân vào dây thòng lọng ngay đúng lúc ngài
chạm mặt đất. Thế là dây ấy siết chân
ngài như thể cái kẹp sắt và giữ chân ngài thật chặt.
Lúc ấy ngài nghĩ cách phá cái bẫy liền giật mạnh nó, trước tiên da chân
rách ra, kế đó thịt bị xé ra và cuối
cùng dây gân đứt, đến khi cái bẫy chạm tới
xương, máu tuôn xối xả gây đau nhức dữ dội . Ngài suy nghĩ: "Nếu ta
thốt tiếng kêu bị bắt, đồng loại ta sẽ hốt
hoảng và nếu không được ăn gì
chúng sẽ nhịn đói bay về và do kiệt sức,
chúng sẽ rơi xuống nước".
Vì vậy ngài chịu đau cho đến khi đám thân
thuộc đã ăn uống no nê và vui
đùa theo kiểu thiên nga, ngài cất tiếng
kêu của con chim bị nạn. Nghe vậy, cả bầy Thiên nga kinh hoảng sợ chết liền
bay về phía núi Cittakùta.
Ngay khi chúng đã khuất dạng, Sumukha
đại tướng loại Thiên nga, suy nghĩ: "Có
thể đây là một việc khủng khiếp
đã xảy ra với
Đại vương chăng? Ta muốn tìm xem sao".
Rồi bay hết tốc lực mà vẫn không nhìn thấy bậc
Đại Sĩ trong phần của đoàn quân Thiên
nga đang bay về, chim ấy đi tìm ngài ở
đoàn chim lớn, và cũng không thấy ngài
đâu cả nó tự bảo: "Chắc chắn có việc gì
ghê gớm xảy ra rồi". Khi quay lại nó liền thấy bậc
Đại Sĩ bị mắc bẫy, thân đầy máu đang chịu đau
đớn vô cùng và đang nằm trên
đám bùn. Chim ấy hạ cánh xuống
đậu trên mặt
đất, vừa cố sức an ủi bậc Đại Sĩ, vừa nói:
- Xin Đại vương chớ sợ, thần sẽ giải cứu Đại
vương khỏi cái bẫy dù phải hy sinh tính mạng mình.
Lúc ấy, muốn thử lòng chim bạn, bậc Đại Sĩ
ngâm vần kệ đầu:
1. Bầy chim không để ý gì ta,
Vội vã chúng bay biến thật xa,
Chim bị giam tìm đâu bạn hữu?
Bay ngay, đừng ở nán đây mà.
Tiếp theo đây là các vần kệ
đối đáp nhau:
Đại tướng:
2. Dù có đi hay ở vời ngài,
Ngày kia thần cũng phải lìa đời,
Thần theo ngài thuở còn vinh hiển,
Lúc khổ đau không thể bước rời.
3. Hoặc thần phải chết với quân vương,
Hoặc sống đời hiu quạnh đoạn trường,
Thà chết ngay đây thì thật tốt
Còn hơn sống để khóc bi thương.
4. Bỏ ngài không đúng nghĩa quân thần,
Khi ở trong tình cảnh đáng buồn,
Thần sẽ rất hài lòng mãn nguyện
Cùng ngài chung số phận phong trần.
Nga vương:
5. Số phận nào cho chim bị giam,
Ngoại trừ dây nướng thịt hung tàn,
Tự do, trí vẫn còn suy nghĩ,
Sao có thể đành chịu bỏ thân?
6. Có lợi gì khanh hoặc với ta
Từ đây, khanh xét thấy, Thiên nga,
Lợi gì quyến thuộc ta còn sống
Nếu cả hai ta phải chết mà?
7. Kim Nga, nghĩa cử của hiền khanh
Sẽ bị màn đêm phủ thật nhanh,
Hành động hy sinh này biểu lộ
Đức gì nếu
đặt dưới bình minh?
Đại tướng:
8. Ngài không thấy, hỡi Thiên nga vương,
Hạnh phúc theo sau việc Chánh chân?
Chánh nghĩa được tôn sùng xứng
đáng
Dạy cho người thực chất hiền lương.
9. Thấy Chân chánh, tất cả việc lành
Có thể từ Chân chánh phát sinh,
Vì đã quý yêu ngài thắm thiết,
Thần hân hoan phóng xả thân mình.
10. Nếu biết điều Chân chánh, chúng ta
Không hề bỏ bạn lúc sa cơ,
Cho dù phải cứu mình đi nữa,
Bậc trí khuyên đây Chánh nghĩa mà.
Nga vương:
11. Chánh nghĩa của khanh đã thực
hành,
Trong khi ta nhận thấy chân tình,
Đi ngay, nếu thật khanh mong muốn
Làm việc mà ta rất tán thành.
12. Có lẽ các dây thuở đã qua
Buộc ràng quyến thuộc dưới quyền ta
Kịp thời chuyển đến khanh sau đó
Với trí, tài điều khiển vượt xa.
13. Trong khi đôi bạn quý cao này
Trao đổi tâm tư tuyệt diệu vầy,
Hãy ngắm, gã săn chim táo bạo
Hiện ra trước mắt chúa tôi đây
Khác gì Thần chết đang đi đến
Trước kẻ liệt giường khốn khổ thay.
14. Đôi bạn thấy kia một kẻ thù
Nên lòng lo sợ, nặng ưu tư,
Lặng yên đậu đó không di chuyển
Khi gã đến gần tự nẻo xa.
15. Thấy bầy ngỗng nọ đã bay tung
Đây đó, biến dần giữa cõi không,
Nơi chốn đôi chim cao thượng đậu,
Cừu nhân vội vã tiến lên gần.
16. Trong lúc gã đang vội bước chân,
Đến nơi định mệnh đã dành phần,
Thợ săn rung động vì tư tưởng,
Kêu lớn: "Bầy chim bị bắt không?"
17. Gã thấy một chim trong bẫy giăng,
Và con chim nọ gã nhìn sang
Chăm lo chim bạn đang tù hãm,
Còn nó không xiềng xích buộc ràng.
18. Hoang mang trí óc lẫn hoài nghi,
Gã ngắm đôi chim cao thượng kia,
Khôn lớn cả đôi, cùng đẹp mã,
Gã liền cất tiếng, giọng từ bi:
Thợ săn:
19. Đành rằng chim bị bắt trong dây
Không thể bao giờ cất cánh bay,
Ngươi vẫn tự do và lớn mạnh,
Sao ngươi quyết ở với chim này?
20. Với ngươi, chim có họ hàng gì,
Khi cả đàn kia
đã trốn di,
Dầu được tự do, ngươi ở lại,
Bên chim bị bắt một mình kia?
Đại tướng:
21. Hỡi cừu nhân của đám Thiên nga,
Ngài chính quân vương, vốn bạn mà,
Thân thiết như đời ta chẳng khác,
Ồ không, ta chẳng muốn bao giờ
Bỏ ngài trong lúc ngài lâm nạn.
Cho đến khi Thần chết gọi ta.
Thợ săn:
22. Chim này không phát hiện hay sao
Chiếc bẫy người giăng kín thế nào?
Phận sự của anh hùng tướng lãnh
Là đề phòng hiểm họa gian lao.
Đại tướng:
23. Khi người sắp gặp bước suy tàn,
Giờ Tử thần đang tiến lại gần,
Dù bạn đến kề bên chiếc bẫy,
Cũng không thấy bẫy sập dây giăng!
Thợ săn:
24. Bẫy dù đủ loại, hỡi chim Thần,
Đôi lúc đặt ra chỉ uổng công,
Đến phút cuối cùng do định mệnh
Con người bị bẫy kín, thương vong.
Như vậy là nhờ đối thoại với gã bẫy
chim mà đại tướng Thiên nga
đã xoa dịu lòng gã, và chim ấy ngâm vần
kệ xin gã tha mạng cho bậc Đại Sĩ:
25. Có phải đây là kết quả lành
Do lời thân thiện với tôn huynh
Xin người tha mạng đôi ta với,
Ta được tự do giải thoát nhanh.
Người bẫy chim say mê giọng đối đáp dịu ngọt
của Sumukha, liền ngâm kệ:
26. Này chim, ngươi chẳng bị giam mình,
Hãy chạy đi, mau chạy thật nhanh,
Ta chẳng muốn thân ngươi đổ máu,
Bình an, hãy sống chuỗi ngày xanh.
Tiếp theo sau chim Sumukha ngâm bốn vần kệ:
27. Ta không tha thiết sống riêng ta,
Nếu bạn ta đây phải chết mà,
Xin hãy vui lòng tha vị ấy,
Thịt ta thay thế chúa Thiên nga.
28. Chúng ta về tuổi tác tương đồng,
Cùng cỡ rộng dài các cẳng chân,
Không mất gì, dù người đổi lấy
Mạng ta thay thế mạng quân vương.
29. Hãy xét xem ta với cách này,
Thỏa lòng thèm muốn với ta đây,
Trước tiên hãy buộc ta vào bẫy,
Rồi để chúa chim giải thoát ngay.
30. Do đó người thành tựu ước mong,
Và ta đạt nguyện vọng trong lòng,
Thiên nga, Tôn giả đều hòa hợp
Trong lúc đời trôi mãi chẳng dừng.
Vậy là nhờ nghe giảng Pháp lành, tim người thợ săn
dịu lại, như thể vải được nhúng dầu và gã giao bậc
Đại Sĩ cho chim ấy, khác nào giao nô lệ
cho chủ nhân, rồi ngâm kệ:
31. Xin làm chứng, các bậc hiền nhân
Nô lệ, họ hàng, các bạn thân,
Do chính một mình ngươi cứu giúp
Chúa chim đượcgiải thoát giam cầm.
32. Ít ai có được một thân bằng
Như chính ngươi đang thật sẵn sàng
Chia xẻ cùng nhau chung số phận
Khi chim chúa gặp bẫy vong thân.
33. Vậy chúa chim này, ta thả ra
Bạn ngươi, theo gót cũng bay xa,
Mau lên, giữa đám chim thân thuộc
Ngươi sẽ như sao chiếu sáng lòa.
Nói vậy xong, người đánh bẫy kia với từ tâm
đến gần bậc Đại Sĩ và cắt các sợi dây ra, ôm ngài trong tay,
đưa ngài ra khỏi nước và
đặt ngài trên
đám cỏ xanh tươi bên bờ hồ, rồi hết sức
dịu dàng, gã nhẹ tay nới lỏng chiếc bẫy đã
trói chân ngài rồi ném nó ra xa.
Sau đó, phát sinh tình thương mến
mãnh liệt đối với bậc Đại Sĩ, với tâm lòng
tràn ngập niềm thân ái, gã lấy nước rửa máu ở vết thương của ngài và chùi
sạch sẽ. Do năng lực của từ tâm ấy, vết thương
ở chân Bồ-tát khép lại dần, gân nối liền gân, thịt liền thịt, da liền da. Da
non hiện ra và lông tơ mọc phủ lên đó.
Bồ-tát vẫn giống hệt như trước kia chân không hề bị sa bẫy bao giờ và an
toàn theo tư thế bình thường hoan hỷ. Lúc ấy Sumukha chiêm ngưỡng bậc
Đại Sĩ hạnh phúc như vậy, tất cả đều do hành
động của mình, trong niềm vui tràn trề,
nó ca tụng người bẫy chim.
*
Bậc Đạo Sư ngâm vần kệ làm sáng tỏ
vấn đề:
34. Hoan hỷ nhìn chim chúa thoát thân
Ngỗng làm vinh dự đấng minh quân,
Và êm tai kẻ làm ân phước,
Bằng những lời hay đẹp nhất trần:
35. "Lạp hộ, cùng thân quyến cả nhà,
Mong chư vị hạnh phúc chan hòa
Như ta hạnh phúc khi nhìn thấy
Chim chúa Thiên nga được thả ra".
Sau khi tán thán người bẫy chim như vậy, tướng quân Sumukha nói với
Bồ-tát:
- Tâu Chúa thượng, người này đã cống
hiến chúng ta một công đức thật vĩ đại: ví thử
y không nghe lời chúng ta, y có thể được đại phú hoặc bằng cách luyện tập
chúng ta cho thuần để nuôi làm trò tiêu khiển và
đem dâng các vị Đại vương nào
đó hoặc giết chúng ta để bán làm thức
ăn. Song y đã nghe theo lời ta mà hoàn
toàn không quan tâm đến kế sinh nhai của y. Vậy
ta hãy đưa y vào yết kiến quốc
vương và làm cho y được hạnh phúc suốt đời.
Bậc Đại Sĩ chấp thuận việc này ngay.
Sau khi vừa đàm luận với bậc
Đại Sĩ bằng ngôn ngữ riêng của loài chim
xong, tướng quân Sumukha nói với kẻ bẫy chim bằng tiếng người và hỏi:
- Này hiền hữu, tại sao hiền hữu đặt bẫy?
Để kiếm lợi - Gã đáp.
Sumukha bảo:
- Nếu vậy thì hiền hữu hãy đưa chúng ta vào
thành trình diện với đức vua, ta sẽ thuyết phục
đức vua ban phú quý cho hiền hữu.
Và chim ấy ngâm các vần kệ:
36. Nhanh lên, ta sẽ dạy cho người
Phương cách tìm ra thật lắm lời,
Khi thấy đại danh chim ngỗng chúa,
Chẳng mang tỳ vết nhỏ nhất đời.
37. Mau đem ta đến chốn triều đường,
Thân thể bình an được vẹn toàn,
Đứng ở mỗi đầu, không trói buộc,
Phía trên đòn gánh của người
mang.
38. Rồi người hãy nói: "Tấu Minh quân,
Thần đến mang theo cặp ngỗng hồng,
Một chủ tướng đầu đàn ngỗng ấy,
Còn chim kia chính Thiên nga vương".
39. Chúa tể loài người ấy ngắm xem
Thiên nga vương giả, sẽ bừng lên
Bao niềm hoan hỷ và sung sướng,
Sẽ tặng người vô số bạc tiền.
Khi chim ấy nói xong, người bẫy chim đáp:
- Xin các vị đừng mong muốn yết kiến đức vua
nữa. Vua chúa quả thật tâm tính hay thay đổi: họ sẽ bắt giữ các vị để làm
trò tiêu khiển hoặc giết chết các vị đấy.
Sumukha đáp:
- Này hiền hữu, đừng sợ gì cả. Ta
đã thuyết Pháp làm dịu lòng một kẻ
độc ác như bạn và
đã khiến bạn quy phục ta, dù người là
một kẻ bẫy chim với bàn tay vấy máu đỏ. Còn
các vua chúa thật ra đầy nhân từ và trí
tuệ, là những người có thể phân biệt lời lẽ thiện ác. Vậy hãy mau
đưa chúng ta vào yết kiến
đức vua của hiền hữu.
Người bẫy chim nói:
- Thôi được, xin các vị chớ giận tôi
. Nếu việc này làm các vị thật sự thích thú, thì tôi sẽ
đưa các vị đến yết kiến vua.
Thế rồi gã đưa đôi chim lên
đòn gánh của gã và
đi đến triều đình xin bệ kiến vua. Khi
được vua hỏi chuyện, người bẫy chim công bố mọi
sự kiện của trường hợp này.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ vấn
đề:
40. Vội làm khi gã mới nghe xong
Việc các chim mong tận cõi lòng,
Đem cặp hồng nga vào bệ kiến,
Bình an, thân thể mạnh hoàn toàn,
Đậu kia, chẳng có gì ràng buộc,
Trên mỗi đầu đòn gánh gã mang.
41. Rồi người ấy nói: "Tấu Minh quân
Thần đến mang theo cặp ngỗng hồng,
Một chủ tướng đầu đàn ngỗng ấy,
Còn chim kia chính Thiên nga vương .
42. "Kìa, những chim này mạnh biết bao,
Trở thành mồi bẫy của ngươi sao,
Sao ngươi bò tới gần bên chúng
Chẳng khiến chúng kinh hãi tẩu đào?"
43. "Trong ao hồ, khải tấu Minh quân,
Xin hãy ngắm xem bẫy lưới giăng,
Trong mọi chốn loài chim trú ẩn,
Bẫy thường được đặt tạo thương vong.
44. Chính trong một bẫy kín như vầy
Thần đã bắt chim chúa ngỗng này,
Chim bạn tự do ngồi kế cận
Và mong cầu chúa thoát tù đày.
45. Chim này làm phận sự hơn xa
Thành tựu phàm nhân đạt đến mà,
Cương quyết tập trung toàn nỗ lực
Làm cho chim chúa được buông tha.
46. Chim đằng kia muốn chịu hy sinh,
Xứng đáng hưởng thêm cuộc sống mình,
Ví thử chúa chim này được sống,
Chúa chim đã được bạn tôn vinh.
47. Nghe những lời chim ấy giải bày,
Tiểu thần liền đạt phước ân ngay,
Hân hoan giải phóng chim tù tội,
Ra lệnh đôi chim cất cánh bay.
48. Hoan hỷ nhìn chim chúa thoát thân,
Ngỗng làm vinh dự đấng minh quân,
Và êm tai kẻ làm ân phước
Bằng những lời hay đẹp nhất trần:
49. "Lạp hộ, cùng thân quyến họ hàng,
Mong chư vị hạnh phúc muôn vàn
Như ta hạnh phúc khi nhìn thấy
Chúa chim Thiên nga được thoát nạn,
50. Nhanh lên, ta sẽ dạy cho người
Phương cách tìm ra thật lắm lời,
Khi thấy đại danh chim ngỗng chúa
Chẳng mang tỳ vết nhỏ nhất đời.
51. Mau đem ta đến chốn triều đường,
Thân thể bình an được vẹn toàn,
Đứng ở mỗi đầu, không trói buộc,
Phía trên đòn gánh của người
mang.
52. Rồi người hãy nói: "Tấu Minh quân,
Thần đến mang theo cặp ngỗng hồng,
Một chủ tướng đầu đàn ngỗng ấy,
Còn chim kia chính Thiên nga vương".
53. Chúa tể loài người ấy ngắm xem
Thiên nga vương giả, sẽ bừng lên
Bao niềm hoan hỷ và sung sướng,
Sẽ tặng người vô số bạc tiền .
54. Do vậy, theo lời chim bảo ban
Thần đưa đôi ngỗng đến triều đường,
Mặc dù chúng tự do tìm kiếm
Nơi trú bình an ở núi ngàn.
55. Chim kia có số phận như vầy,
Dù thật chánh chân đến thế này
Có thể chuyển lay lòng trắc ẩn
Thợ săn hung bạo tựa thần đây.
56. Thiên nga này, khải tấu Minh quân,
Tặng vật tiểu thần đến hiến dâng,
Giữa những chốn người săn đặt bẫy,
Hiếm khi tìm được vật ngang bằng.
Như vậy, gã đứng đó tán dương những đức hạnh
của Sumukha. Sau đó vua Sakula tặng ngỗng chúa một bảo tọa cao sang và
Sumukha một kim đôn quý giá. Khi đôi chim đã
an tọa, vua mới dùng bắp rang, mật ong, mật mía và các món tương tự
đựng trong các chén dĩa bằng vàng. Khi
đôi chim đã
ăn xong, vua chấp hai tay thỉnh cầu bậc Đại Sĩ thuyết Pháp rồi ngồi xuống
một kim đôn nữa.
Theo lời thỉnh cầu ấy, chúa Thiên nga đàm
đạo đầy hứng thú với vua.
Bậc Đạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ mọi
việc:
57. Giờ đây nhìn thấy
đấng quân vương
An tọa kim đôn sáng rỡ ràng,
Chim ngỗng dùng âm thanh dịu ngọt
Làm êm tai chúa tể trần gian.
Thiên nga:
58. "Đại vương, ngọc thể có khang an,
Vạn sự Đại vương thảy vẹn toàn,
Quý quốc hẳn là đang thịnh vượng,
Được ngài cai trị thật công bằng?"
Quân vương:
59. Nga vương, trẫm vẫn được khang an,
Vạn sự trẫm đây được vẹn toàn,
Bổn quốc hiện giờ rất thịnh vượng,
Hưởng nền cai trị thật công bằng.
Thiên nga:
60. Ngài có triều thần thật chánh chân,
Biết khuyên nhủ chúa, chẳng sai lầm,
Nếu cần, họ sẵn sàng liều chết
Vì chánh nghĩa và danh chúa công?
Quân vương:
61. Trẫm có triều thần thật chánh chân,
Biết khuyên nhủ trẫm, chẳng sai lầm,
Nếu cần, họ sẵn sàng liều chết
Vì chánh nghĩa và danh quả nhân.
Thiên nga:
62. Phải chăng hoàng hậu cũng chung
dòng,
Lời lẽ ôn nhu, biết phục tòng,
Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt,
Vâng chiều mọi Thánh ý Minh quân?
Quân vương:
63. Trẫm nay có chánh hậu chung dòng,
Lời lẽ ôn nhu biết phục tòng,
Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt,
Vâng chiều mọi ý trẫm cầu mong.
Khi Bồ-tát đã chấm dứt những lời chào
hỏi thân hữu xong, vua lại đàm
đạo cùng ngài:
Quân vương:
64. Khi vận rủi kia đưa đẩy ngài,
Đến cừu nhân tối hiểm trên
đời,
Khi ngài gặp phải tay người ấy,
Ngài đã chịu bao thống khổ rồi?
65. Gã kia có chạy, gậy trong tay
Đánh đập các ngài, nói trẫm hay?
Với những con người gian ác ấy
Trẫm thường nghe nói cách như vầy.
Thiên nga:
66. Ta không hề gặp bước gian nan
Trong lúc lòng ta vẫn nhớ ơn
Kẻ ấy chẳng bao giờ đối xử
Với ta như những bọn cừu nhơn.
67. Người bẫy chim run rẫy, ngạc nhiên,
Cầu mong hỏi chuyện của đôi chim,
Và Sư-mục, tướng quân khôn nhất,
Đã trả lời ngay kẻ ấy liền.
68. Nghe những lời chim tuớng giải bày
Người kia liền đạt phước ân ngay,
Hân hoan giải thoát ta từ bẫy,
Ra lệnh đôi ta cất cánh bay.
69. Tâu Đại vương, Sư-mục ước mong
Đến đây và yết kiến long nhan,
Nghĩ rằng người bẫy chim thân hữu
Sẽ kiếm ra vô số bạc vàng.
Quân vương:
70. Cung nghênh các vị, đúng hoàn
toàn,
Trẫm thật hân hoan gặp bạn vàng,
Hiền hữu bẫy chim rồi sẽ nhận
Thỏa lòng mọi tặng vật trần gian.
Nói vậy xong, vua nhìn thẳng một vị cận thần và khi vị ấy hỏi:
- Tâu Đại vương, xin cho biết Thánh ý.
Vua đáp:
- Khanh hãy đưa người bẫy chim này
đi tỉa gọn râu tóc và sau khi gã
được tắm rửa, xoa dầu thơm, hãy cho gã
phục sức xiêm y lộng lẫy và đưa gã lại
đây.
Khi việc này đã xong và người bẫy
chim được dẫn đến, vua ban ân cho gã một
ngôi làng hằng năm sinh lợi một trăm ngàn
đồng tiền và thêm một ngôi nhà
đứng ở vị trí giáp hai mặt đường, một cỗ xe
lộng lẫy và cả kho vàng ròng.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ vấn
đề:
71. Quân vương rộng lượng đã truyền
ban
Người bẫy chim vô số bạc vàng,
Sau đó hồng nga cất tiếng nói
Âm thanh mê mẩn cả tâm can.
*
Sau đó bậc Đại Sĩ thuyết Pháp cho vua, và
khi nghe ngài giảng giải, vua sinh tâm hoan hỷ, mong muốn bày tỏ dấu hiệu
kính trọng đối với vị Pháp sư, vua liền tặng ngài
chiếc lọng trắng, vừa dâng lên ngài cả quốc độ
vừa ngâm các vần kệ này:
72. Những gì trẫm có, đúng công bằng
Những vật trẫm đòi hỏi chánh chân,
Sẽ chuyển qua quyền ngài thọ hưởng,
Nếu ngài nêu nguyện ước trong tâm.
73. Dẫu ngài đem bố thí ban ân,
Hoặc sử dụng, hay muốn hưởng phần,
Trẫm nhượng quyền hành cùng tất cả,
Và giao ngài cả chiếc ngai vàng.
Bậc Đại Sĩ liền trao trả chiếc lọng trắng mà
vua đã tặng ngài. Rồi vua suy nghĩ: "Ta
đã nghe Pháp do vị chúa hồng nga thuyết
giảng, song vị tướng quân Sumukha này được gã
bẫy chim tán tụng nhiệt liệt là nói năng dịu
ngọt như mật rót vào tai, vậy ta cũng muốn nghe chim ấy thuyết Pháp".
Thế là vua ngâm vần kệ khác để đàm
đạo với chim ấy:
74. Trí hiền Sư-mục thật tinh thông,
Ví thử nói ra tự nguyện lòng
Chỉ một hai lời thôi cũng đủ
Trẫm đây hạnh phúc bội muôn phần.
Sau đó Sumukha đáp:
75. Xin tâu Chúa thượng, trước Minh quân,
Đúng phép, tôi không dám nói năng
Dù chỉ một đôi lời nhỏ mọn,
Khác nào vương tử của Long thần.
76. Vì chúa hồng nga hiện diện đây,
Và ngài Đại đế tối cao vầy,
Có quyền đòi hỏi đầy chân chánh
Niềm kính trọng tôi phải tỏ bày.
77. Thần tôi hèn mọn, tấu Quân vương,
Nên chẳng dám can thiệp luận bàn,
Khi nhị Đại vương đang nghị sự
Bao điều quan trọng giữa triều đường.
Vua nghe chim ấy nói, lòng đầy hoan hỷ phán
bảo:
- Người bẫy chim nhiệt liệt ca tụng tướng quân, chắc chắn không thể có
được ai khác như khanh cả, quả thật khanh là
vị thuyết Pháp êm dịu làm sao!
Vua ngâm các vần kệ này:
78. Người bẫy chim ca tụng nhiệt tình
Chim này trí tuệ, tuyệt thông minh,
Tinh khôn như vậy đâu tìm thấy
Ở kẻ trí chưa được học hành.
79. Trong đám chim cao quý trẫm xem
Chim này vô địch giữa đàn em,
Tối cao đức tính chim đầy đủ
Đệ nhất hữu tình vượt hẳn lên.
80. Hình dáng thanh cao, giọng ngọt ngào
Khiến lòng mê mẩn biết dường nào,
Ước mong của trẫm là hai vị
Ở mãi bên mình thỏa ước.
Sau đó bậc Đại Sĩ ngâm kệ ca tụng vua:
81. Ngài đối đãi
đây với chúng thần
Như người đối với đại thân bằng,
Này đây Chúa thượng vừa ban phát
Hèn mọn đội chim hưởng phước ân.
82. Song đàn chim quyến thuộc kêu than
Xa vắng lâu ngày đã bặt tăm,
Và có nhiều chim đầy khổ não
Vì không còn thấy bóng Nga vương.
83. Vậy để xua tan nỗi khổ này,
Đại vương, xin thả chúng thần ngay,
Cúi xin Chúa thượng nay cho phép
Gặp lại thân bằng, cất cánh bay.
84. Hôm nay hạnh ngộ đấng Quân vương,
Thần thấy tâm hoan hỷ ngập tràn,
Thần chắc từ nay toàn bạn hữu
Chẳng còn duyên cớ để kinh hoàng.
Khi ngài nói vậy xong, vua mới chịu để hai
vị giã từ. Bậc Đại Sĩ lại thuyết giảng
với vua về nỗi khổ đau theo liền Ngũ ác dục và niềm hạnh phúc
đi theo công đức, rồi ngài khích lệ vua:
- Xin Đại vương giữ giới luật và trị
dân chân chánh cùng thu phục nhân tâm với Tứ Nhiếp pháp (Bốn pháp hòa hợp:
Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự)
Sau đó ngài khởi hành về núi
Cittakùta.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ vấn
đề:
85. Như vầy với chúa tể loài người,
Chim chúa Dha-ta đã
đáp lời,
Sau đó tìm thân bằng quyến thuộc,
Tung đôi cánh mạnh nhất lên trời.
86. Nhìn chủ tướng chim được vạn an
Trở về từ cõi chết nhân gian,
Đàn chim vỗ cánh kêu ầm ĩ
Chào đón chúa chim lại họp đàn.
87. Vây quanh chúa tể chúng tôn sùng,
Tin tưởng, giờ đây đám ngỗng hồng
Kính cẩn nghiêng mình chào chúa tể
Hân hoan vì chúa được an thân.
Trong khi hộ tống chim chúa, bầy Thiên nga hỏi ngài:
- Tâu Chúa thượng, làm thế nào ngài thoát nạn?
Bậc Đại Sĩ thuật cho chúng nghe ngài
được giải thoát nhờ Sumukha giúp đỡ, và
nói về hành động của vua Sakula cùng
người bẫy chim.
Nghe vậy cả bầy Thiên nga hân hoan ca ngợi tất cả các vị:
-Vạn tuế tướng quân Sumukha của đàn
Thiên nga, và Đại vương Sakula cùng chú
bẫy chim. Cầu mong các vị an lạc hạnh phúc lâu dài.
Bậc Đạo Sư ngâm vần kệ cuối cùng
để làm sáng tỏ vấn
đề:
88. Ai có từ tâm ắt đạt thành
Việc gì các vị ấy thi hành,
Như Thiên nga trở về bằng hữu
Lần nữa đôi chim được trọn lành.
*
Đến đây bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại v à bảo:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà cả ngày xưa nữa, Ànanda cũng
đã hy sinh tính mạng vì Ta.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, Channa (Xa-nặc) là người bẫy chim, Sàriputta (Xá-lợi-phất)là
nhà vua, Ànanda (A-nan) là Sumukha, các đệ tử
đức Phật là chín mươi ngàn Thiên nga, và Ta chính là chúa Thiên nga.
-ooOoo-
534. Chuyện đại Thiên
nga (Tiền thân Mahàhamsa)
Kìa đám hồng nga cất cánh bay...,
Chuyện này bậc Đạo Sư kể trong
lúc trú tại Trúc Lâm, về việc Trưởng lão Ànanda hy sinh tính mạng.
Phần duyên khởi cũng giống hệt như chuyện đã
có nhưng vào dịp này, trong lúc bậc Đạo Sư kể
chuyện quá khứ, đã tường thuật cổ tích sau
đây.
*
Ngày xưa ở thành Ba-la-nại, một vị quốc vương mệnh danh Samyama có vị
chánh hậu tên là Khemà (Thái Hòa). Thời ấy, Bồ-tát cùng
đám tùy tùng chín mươi ngàn thiên nga
trú trên đỉnh núi Cittakùta.
Một ngày kia vào lúc tảng sáng, hoàng hậu Khemà thấy chiêm bao: một bầy
thiên nga màu vàng ánh đến đậu trên ngai
vua và thuyết Pháp với giọng ngọt ngào. Trong khi hoàng hậu
đang lắng tai nghe và tán thán mà chưa
được trọn bài thuyết giảng, thì bình
minh đã
đến, bầy thiên nga liền chấm dứt Pháp thoại và bay qua cửa sổ mở rộng
Hoàng hậu vội vàng thức dậy kêu to:
- Bắt lấy chúng, bắt lấy bầy thiên nga trước khi chúng thoát thân.
Và trong lúc vừa dang rộng cánh tay, bà tỉnh dậy. Nghe lời bà,
đám cung nữ thưa:
- Tâu lệnh bà, bầy thiên nga ở đâu?
Và chúng cười khúc khích.
Lúc ấy, hoàng hậu biết đó chỉ là giấc
mơ, và nghĩ thầm: "Ta không thể thấy một vật không có thật: chắc chắn có
loài kim nga trên đời này, song nếu ta
tâu đức vua: "Thiếp mong muốn nghe loài
kim nga thuyết Pháp" , ngài sẽ bảo: "Ta chưa từng thấy giống kim nga nào cả,
làm gì có chuyện chim kim nga thuyết Pháp". Và ngài sẽ không quan tâm
đến vấn đề đó. Song nếu ta tâu: "Thần thiếp có
niềm ao ước ấy trong lúc mang thai", ngài sẽ cho tìm chúng mọi cách
và thế là ta được thỏa tâm nguyện".
Vì vậy, vừa giả bệnh, vừa dặn dò các cung nữ xong, bà
đi nằm. Khi vua đã ngự lên ngai mà không
thấy bà đến yết kiến như thường lệ, liền hỏi hoàng
hậu Khemà ở đâu và khi nghe bà bị bệnh,
vua đến thăm bà, vừa ngồi một bên giường
bà, vừa vuốt lưng và hỏi thăm bệnh tình
của bà. Bà đáp:
- Tâu Chúa thượng, thần thiếp chẳng bệnh gì cả, song thiếp chợt có những
mềm ao ước của một thai phụ.
- Này ái khanh, cứ nói đi, ái khanh muốn gì,
trẫm sẽ tìm được cho ái khanh ngay.
- Tâu Chúa thượng, thiếp ao ước nghe chim kim nga thuyết Pháp trong lúc
chim ấy ngự trên ngai vàng, có chiếc lọng che trên
đầu, và thiếp mong dâng lên chim ấy
nhiều tràng hoa thơm cùng các lễ vật khác để tỏ
lòng cung kính tán thán của thiếp. Nếu thiếp
đạt được điều này thì quý biết bao, nếu
không, thiếp chẳng muốn sống nữa.
Vua liền an ủi bà và bảo:
- Nếu có vật ấy trên thế giới này thì ái khanh sẽ
được toại nguyện, chớ lo buồn.
Rồi ra khỏi cung thất của hoàng hậu, vua tham vấn các vị
đại thần và phán:
- Này các khanh, hãy lưu ý: hoàng hậu Khemà bảo: "Nếu thiếp nghe
được chim kim nga thuyết Pháp thì thiếp
sẽ sống, nếu không, thiếp sẽ chết". Vậy hãy cho trẫm biết, có loài chim kim
nga nào chăng?
Triều thần đáp:
- Tâu Chúa thượng, chúng thần chưa từng nghe hoặc thấy loài ấy.
- Thế ai biết được chuyện này?
- Tâu Chúa thượng, các Bà-la-môn.
Vua liền triệu tập các Bà-la-môn đến và
hỏi:
- Có chuyện nào như việc loài chim kim nga thuyết Pháp chăng?
- Tâu Đại vương, có. Theo
truyền thuyết của chúng thần, các loài cá, cua, rùa, nai, công và thiên nga
đều có sắc vàng ánh. Trong số ấy, người
ta bảo dòng giống Thiên nga Dhatarattha rất tinh khôn thông thái. Cộng thêm
loài người nữa là bảy loài sinh vật có màu vàng ròng.
Vua vô cùng hoan hỷ, hỏi:
- Vậy loài hồng nga thông thái này cư ngụ ở
đâu?
- Tâu Đại vương, chúng thần không biết.
- Thế thì ai biết chứ?
- Bọn bẫy chim - Họ đáp.
Vua liền tập hợp tất cả dân bẫy chim từ khắp nước về, và hỏi họ:
- Này các hiền hữu, các chim kim nga thuộc dòng giống Dhatarattha cư trú
ở đâu?
Một người bẫy chim đáp:
- Tâu Đại vương, theo truyền thuyết từ đời
nọ sang đời kia, người ta bảo chúng cư trú trong dãy Tuyết Sơn, trên
đỉnh Cittakùta.
- Vậy khanh có biết làm cách nào bắt được
chúng chăng?
- Tâu Đại vương, thần không biết.
Vua liền triệu tập các Bà-la-môn thông thái, sau khi cho họ biết có loài
chim kim nga trên đỉnh Cittakùta, vua
hỏi họ có cách nào để bẫy chúng chăng. Họ đáp:
- Tâu Đại vương, cần gì chúng thần
phải bắt chim? Chúng thần sẽ bày mưu kế đưa
chim về gần kinh thành và bắt chúng.
- Mưu kế gì vậy?
- Tâu Đại vương, về phía bắc kinh thành,
xin Đại vương ra lệnh đào một cái hồ
rộng ba dặm, một địa điểm thật an toàn,
chứa đầy nước, trồng đủ loại ngũ cốc cùng
năm loại hoa sen phủ mặt hồ. Rồi giao hồ cho
một người bẫy chim thiện xảo chăm sóc, không cho phép ai đến gần hồ, và
phân công nhiều người canh giữ bốn góc, rao truyền cho dân chúng biết
đây là hồ bảo tồn chim muông. Khi nghe
vậy, mọi loài chim sẽ đến đó. Sau đó các chim
kim nga này nghe bọn chúng bảo nhau hồ này thật an toàn, tức nhiên sẽ
đến thăm hồ và
Đại vương sẽ bảo lấy thòng lọng bẫy
chúng.
Vua nghe vậy, liền bảo đào hồ như họ
miêu tả ở vùng họ nói, rồi triệu một người bẫy chim thiện xảo
đến, ban cho gã một ngàn
đồng tiền và phán:
- Từ nay ngươi hãy bỏ nghề cũ, trẫm sẽ cấp dưỡng vợ con gia
đình ngươi. Cẩn thận canh giữ hồ bình an
này và buộc mọi người phải tránh xa hồ, truyền rao khắp bốn phương rằng
đây là hồ bảo tồn chim muông, hễ có loài
chim nào lai vãng nơi đây đều là của
trẫm, và khi loài chim kim nga đến, ngươi sẽ
được vinh hoa phú quý.
Cùng với những lời khích lệ này, vua giao gã chăm
nom hồ bảo tồn. Từ ngày ấy, gã bẫy chim làm
đúng như vua truyền canh giữ nơi ấy và
do gã bảo vệ hồ bơi được bình an, sẽ dần
dần được mệnh danh là người bẫy chim
Khemà (Bình An).
Từ đấy, mọi loài chim
đến đậu nơi ấy, và vì chúng truyền tin
cho nhau rằng hồ này bình an ổn định, nên
nhiều loài thiên nga bay đến. Trước hết là
loài thiên nga màu cỏ xanh, rồi nhờ chứng loan báo, kế
đó là loài hoàng nga, và theo cách này
giống thiên nga đỏ tía, thiên nga trắng
và thiên nga Paka lần lượt đến.
Khi chúng đến, Khemà trình vua như
vầy:
- Tâu Đại vương, năm loài thiên nga
đã đến, và
chúng vẫn đang tiếp tục ăn uống hồ này.
Giờ đây thiên nga Paka
đã đến, chỉ
vài ngày nữa là loài kim nga sẽ đến. Xin
Đại vương chớ lo âu nữa.
Vua nghe vậy liền truyền đánh trống lệnh
công bố khắp kinh thành rằng không ai
được phép đến nơi kia, bất cứ kẻ nào bất tuân sẽ chịu hình phạt chặt
tay chân và tịch thu gia sản, nên từ đó không
ai dám đến đó nữa.
Bấy giờ, thiên nga Paka cư trú không xa đỉnh
Cittakùta trong Kim Động. Loài
chim này có sức mạnh phi thường và cũng giống như thiên nga dòng họ
Dhatarattha, màu sắc thân của chúng rất đặc
sắc, còn con gái của Thiên nga vương Paka lại có màu vàng ánh. Vì thế
vua cha nghĩ rằng nàng xứng đôi với Thiên
nga vương Dhatarattha và gả nàng cho vua chim kia. Nàng rất
được vua chim sủng ái, nhờ vậy hai dòng
họ thiên nga này trở nên thân thiết nhau.
Một hôm bầy thiên nga hầu cận Bồ-tát hỏi thiên nga Paka:
- Các bạn tìm thức ăn ở đâu bây giờ?
- Chúng tôi đang kiếm ăn gần Ba-la-nại,
trong một vùng nước an toàn, nhưng còn các bạn bay tận
đâu?
- Đến nơi như vầy, như vầy - Chúng đáp.
- Sao các bạn không đến hồ bảo tồn chim
muông? Đó là một cái hồ tuyệt đẹp, đủ
các loài chim, được năm loại sen bao
phủ, rất nhiều loại ngũ cốc và quả cây, cùng nhiều
đàn ong đủ
loại bay lượn vo ve. Tại bốn phía đều có người canh giữ công bố hồ được vĩnh
viễn tránh khỏi hiểm nguy. Không ai được phép đến gần, lại càng không
có việc hại nhau đâu.
Theo cách này, chúng cứ ca tụng hồ bình an mãi. Khi nghe chuyện thiên nga
Paka nói, chúng trình với Sumukha (Sư-mục-kha).
- Bầy chim kia bảo chúng thần ở gần Ba-la-nại có một hồ bình an như vầy,
dòng họ Paka vẫn thường đi ăn tại đó.
Xin tướng công tâu với Đại vương
Dhatarattha và nếu ngài cho phép chúng thần, thì chúng thần cũng sẽ
kiếm mồi tại đó.
Sumukha trình với chúa chim, ngài suy nghĩ: "Loài người quả thật
đầy mưu thần chước quỷ. Chắc chắn phải có lý do
gì đây. Từ xưa tới nay không hề có hồ
như vậy. Chắc hẳn bây giờ hồ đã được xây
để bắt chúng ta". Ngài liền bảo Sumukha:
- Khanh đừng tán thành việc
đi đến hồ kia. Hồ này chẳng
được họ xây bằng thiện ý đâu; mà nó
được xây để bắt chúng ta đó. Chắc chắn loài
người đầy ác tâm và mưu mô xảo quyệt.
Hãy ở lại chỗ các khanh thường kiếm mồi.
Lần thứ hai bầy kim nga thưa với tướng Sumukha rằng chúng rất nóng lòng
đi đến hồ Bình An và vị ấy lại trình
nguyện vọng của chúng lên chúa chim. Bậc Đại Sĩ
suy nghĩ: "Không nên để quyến thuộc ta
bất mãn vì ta. Vậy chúng ta cùng đến
đó".
Vì vậy được chín mươi ngàn thiên nga
hộ tống, ngài bay đến đó và gặm chồi
non, vui đùa theo cung cách loài thiên
nga xong rồi bay về núi Cittakùta.
Sau khi bầy chim đã
ăn uống và giã từ, gã bẫy chim Khemaka
đi trình vua Ba-la-nại việc chim
đã đến. Vua
vô cùng hoan hỷ phán:
- Này hiền hữu Khemaka, hãy gắng bắt lấy một hai thiên nga, rồi ta sẽ ban
thưởng vinh hoa phú quý cho khanh.
Cùng với các lời này, vua ban bổng lộc cho gã và bảo gã ra về.
Khi trở lại hồ, người bẫy chim ngồi giấu mình trong cái thùng rỗng và
ngắm các hoạt động của bầy thiên nga.
Các vị Bồ-tát quả thật đã thoát ly tham
dục. Vì thế bậc Đại Sĩ bắt đầu từ nơi đã
hạ cánh xuống, bước đi ăn lúa một cách chừng
mực từ tốn. Còn các chim kia đều bay
nhảy kiếm mồi khắp nơi. Do vậy, người bẫy chim suy nghĩ: "Thiên nga
này đã thoát ly tham dục:
đây chính là con chim ta phải bắt lấy".
Ngày hôm sau trước khi bầy thiên nga hạ cánh xuống hồ, gã
đến một nơi gần đó giấu mình trong cái
thùng rỗng, ngồi yên tại đó nhìn qua khe
hở của thùng. Lúc ấy bậc Đại Sĩ được chín mươi
ngàn Thiên nga hộ tống đáp xuống nơi ngài
đã đến hôm
trước, và đậu ngay tại chỗ ăn hôm qua,
tiếp tục gặm lúa.
Người bẫy chim nhìn qua khe hở của thùng, chú ý ngay vẻ
đẹp phi thường của chim này, và suy
nghĩ: "Chim này lớn bằng cỗ xe, lông vàng ánh và cổ lại có ba khoang
đỏ. Ba khoang này chạy từ cổ xuống dọc
theo phần giữa bụng, trong khi ba khoang khác chạy xuống nổi rõ trên lưng,
toàn thân tỏa sáng như một khối vàng ròng treo trên sợi dây làm bằng chỉ
đỏ. Đây chắc hẳn là chim chúa và chính
là con chim ta quyết bắt lấy".
Còn chúa Thiên nga, sau khi ăn lúa trên
đồng ruộng xong, lại vui đùa trong vũng
nước và sau đó được đàn chim hộ tống trở
về núi Cittakùta. Suốt sáu ngày liền, ngài kiếm mồi theo kiểu ấy.
Vào ngày thứ bảy, Khemakha kết một sợi dây lớn bằng lông ngựa
đen và buộc dây thòng lọng trên cây sào,
rồi vì biết chúa Thiên nga sẽ đáp xuống ngày
mai vào chỗ cũ, gã đặt cây sào có buộc
cái bẫy ở trên vào trong vũng nước.
Hôm sau, chúa Thiên nga hạ cánh xuống liền bị mắc chân vào bẫy, nó kẹp
chặt chân chim như sợi dây sắt siết mạnh. Chim chúa muốn phá bẫy nên kéo lê
nó đi và lấy hết sức
đạp mạnh vào bẫy. Trước tiên chỗ da vàng
ánh bị bầm dập, kế đó thịt màu
đỏ thắm bị rách, rồi gân đứt lìa, cuối
cùng đáng lẽ chân chim đã bị gãy, song
nghĩ rằng thân thể tàn tật không xứng đáng với
một chúa chim, nên chim không chống cự nữa. Trong khi các chỗ
đau bắt đầu nhức nhối, chim suy nghĩ: "Nếu ta
thốt tiếng kêu cứu quyến thuộc ta sẽ hoảng hốt và dù chưa
ăn no đủ, chúng cũng sẽ chạy trốn, thì e
còn đói lòng, chúng sẽ rơi xuống nước".
Vì thế cố chịu đựng nỗi đau, chim đứng yên
trong gọng kìm của chiếc bẫy, giả vờ ăn lúa.
Nhưng khi đàn chim đã no nê rồi,
và đang chơi đùa theo kiểu cách thiên
nga, chim chúa liền thốt tiếng kêu bị nạn.
Bầy thiên nga nghe vậy bay bổng lên đi mất,
như đã được tả trước đáy. Tướng quân
Sumukha cũng xem xét mọi việc như đã kể, rồi bay
đi tìm quanh quẩn mà không thấy bậc
Đại Sĩ trong ba đàn thiên nga lớn kia,
liền suy nghĩ: "Chắc hẳn đây là một
chuyện khủng khiếp đã xảy ra với
đức vua" và vị ấy liền quay về nói:
- Tâu Chúa thượng, xin đừng sợ, thần sẽ giải
cứu Chúa thượng dù phải hy sinh tánh mạng của thần.
Rồi vừa đáp xuống vũng bùn, chim ấy
an ủi vỗ về bậc Đại Sĩ. Bậc Đại Sĩ suy nghĩ:
"Chín mươi ngàn thiên nga đã bỏ
ta bay đi mất, chỉ còn chim này một mình
trở lại đây. Ta không biết khi người bẫy chim
đến, Sumukha cũng sẽ bỏ ta mà bay đi
không". Rồi để thử lòng chim kia, ngài dựa mình
đầy máu vào chiếc sào buộc cái bẫy, và
ngâm ba vần kệ:
1. Kìa đám hồng nga cất cánh bay,
Cả bầy hốt hoảng hãi kinh đầy,
Đi ngay, Sư-mục-kha vàng ánh,
Khanh muốn gì chăng ở chốn này?
2. Họ hàng ta đã bỏ rơi ta,
Bọn chúng đều cao chạy vút xa,
Đào tẩu ngay, không hề nghĩ ngợi,
Sao khanh đơn độc ở đây mà?
3. Thiên nga cao thượng, hãy bay về,
Tù tội làm sao có bạn bè?
Lúc được tự do, Sư-mục hỡi,
Bay đi, đừng bỏ dịp may kề!
Nghe vậy, Sumukha nghĩ thầm: "Thiên nga vương này không biết bản tính ta;
ngài tưởng ta chỉ là thứ bạn nói lời xu nịnh. Ta sẽ tỏ cho ngài thấy ta yêu
quý ngài biết bao", rồi chim ấy ngâm bốn vần kệ:
4. Không, thần sẽ chẳng bỏ Nga vương,
Khi đến gần tai họa thảm thương,
Song ở lại đây, thần đã quyết
Bên ngài, dù sống chết không màng.
5. Không, thần sẽ bỏ Nga vương,
Khi đến gần tai họa thảm thương,
Chẳng dự vào hành vi hạ liệt
Với bầy chim nọ, chẳng theo gương.
6. Thần đồng tâm hiệp ý cùng ngài,
Đồng bạn vui chơi thuở thiếu thời,
Giữa đám quần thần, tâu Chúa thượng,
Nổi danh là thủ lãnh hùng oai.
7. Khi về với quyến thuộc thân bằng
Thần biết làm sao để nói năng,
Ví thử bỏ ngài cho số phận,
Vô tình bay bổng thật nhanh chân?
Không, thà chịu chết hơn là sống
Khi phải đóng vai hạ liệt thần.
Khi Sumukha đã ngâm bốn vần kệ như
giọng sư tử rống, bậc Đại Sĩ lên tiếng
nêu rõ đức độ của bạn:
8. Bản tính khanh, Sư-mục Tướng quân,
Vẫn thường an trú lý Như chân,
Không bao giờ bỏ rơi vua chúa,
Thân hữu, hãy tìm cách thoát thân.
9. Khi ta nhìn thấy mặt Hiền khanh,
Trong trí ta không khỏi hãi kinh,
Dù cảnh ngộ buồn, khanh cũng sẽ
Tìm đường giải cứu bạn thân mình.
Trong lúc đôi chim đang đàm luận như
vậy, người bẫy chim đứng trên bờ hồ thấy
bầy thiên nga bay rẽ ra thành ba đàn và
không biết việc này có ý nghĩa gì, gã chợt nhìn
đến nơi gã đã
đặt bẫy và thấy Bồ-tát dựa mình vào cây
gậy có cột thòng lọng. Vô cùng mừng rỡ, gã buộc thắt lưng lại cầm gậy vội
vàng đến gần và
đứng trước đôi chim, như ngọn lửa ở đầu chiếc vòng,
đầu gã vươn cao trên
đôi chim và gót chân chôn chặt dưới bùn.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ làm sáng rõ vấn
đề:
10. Đôi chim cao thượng đã trao nhau
Tư tưởng như vầy thật quý cao,
Hãy ngắm kẻ săn chim táo bạo
Tay cầm chiếc gậy, bước chân mau.
11. Thấy gã đến gần, Sư-mục-kha
Đứng lên ngay trước chúa Thiên nga,
Hiên ngang khích lệ quân vương ấy
Đầy nỗi lo trong bước sẩy sa.
12. "Nga vương cao quý, chớ kinh hoàng,
Kinh hãi chẳng là cách Đại vương,
Với lẽ công bằng, thần nỗ lực
Khẩn cầu với lý luận khôn ngoan
Bằng hành động hết lòng can
đảm
Lần nữa Chúa công được thoát nàn.
Sumuakha an ủi bậc Đại Sĩ như vầy, rồi vừa
đi đến bên người bẫy chim, vừa dùng tiếng người thật êm dịu hỏi:
- Này Hiền hữu, danh tánh của bạn là gì?
Y đáp:
- Này Chúa loài kim nga, ta có tên là Khemaka.
Sumukha đáp:
- Này Hiền hữu, đừng tưởng
rằng chỉ một thiên nga tầm thường đã
bị bắt vào bẫy lông ngựa của hiền hữu: đó chính
là Chúa công Dhatarattha, lãnh tụ của chín mươi ngàn thiên nga
đang bị mắc bẫy. Ngài thật là hiền trí,
đức hạnh, và
đang sẵn sàng hòa giải. Ta sẽ làm bất cứ
việc gì mà ngài phải làm cho hiền hữu. Ta cũng có sắc vàng ánh và ta muốn hy
sinh thân mạng mình vì ngài. Nếu hiền hữu muốn nhổ lông ngài, xin hãy nhổ
lông ta; hoặc nếu hiền hữu muốn làm việc gì khác với da, thịt, gân, xương
ngài, xin cứ lấy ra từ thân ta. Hơn nữa, giả sử hiền hữu muốn luyện ngài
thành chim thuần, xin hãy luyện ta, bán ta lúc còn sống; hoặc nếu muốn kiếm
tiền, xin hãy bán ta, chứ đừng giết ngài,
vì ngài là bậc đầy đủ trí tuệ và
đức hạnh như thế. Nếu hiền hữu muốn giết ngài,
hiền hữu sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi địa ngục
hoặc đọa xứ khổ cảnh tương tự.
Sau khi đe dọa kẻ bẫy chim bằng nỗi kinh hoàng
địa ngục, khiến y phải nghe lời khuyến dụ
êm tai của mình, Sumukha lại đến gần
đứng cạnh Bồ-tát, và an ủi ngài .
Gã bẫy chim nghe lời ấy, suy nghĩ: "Chỉ là một con chim như thế, nó lại
có thể làm được những gì loài người
không thể làm được. Vì loài người không
chung thủy trong tình bằng hữu. Ôi đấy thật là
một chim thần, đầy trí tuệ và biện tài".
Toàn thân gã rung động với nỗi hoan lạc kỳ
diệu, tóc gã dựng đứng vì kinh
ngạc, gã làm rơi chiếc gậy và chấp hai tay lên trước trán, như người kính lễ
mặt trời, gã đứng đó tuyên dương công
hạnh của Sumukha.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ vấn
đề:
13. Người săn chim nọ đã nghe lời
Chim ấy nói ra với biện tài,
Tóc dựng đứng lên, tay chấp lại,
Tôn sùng kính lễ trước chim trời.
14. Chưa được nghe hay thấy trước giờ
Chim dùng tiếng nói của người ta,
Và bằng giọng lưỡi chim tuyên thuyết
Chân lý tối cao quả thật là.
15. Với ngươi; chim có họ hàng gì,
Khi cả đàn cùng chạy trốn
đi,
Dù được tự do, ngươi ở lại
Bên chim bị bắt một mình kia?
Khi nghe người bẫy chim độc ác hỏi câu này,
Sumukha suy nghĩ: "Kẻ ấy đã
động lòng, ta muốn bày tỏ cho y thấy
đức tính của ta để y hồi tâm thêm nữa"
. Và chim ngâm kệ:
16. Hỡi cừu nhân của đám thiên nga,
Ngài chúa công, ta đại tướng mà,
Ta chẳng bỏ ngài cho số phận,
Bình an đào thoát một mình ta.
17. Đừng để Thiên nga chúa
đại hùng
Nơi đây phải chết thật đơn thân,
Bên ngài, hạnh phúc ta tìm thấy,
Ta được ngài như
đáng chúa công.
Khi nghe lời thuyết giáo dịu dàng về cách nhận lãnh trách nhiệm của chim
kia, người bẫy chim tràn ngập hân hoan và lông tóc dựng
đứng vì kinh ngạc, suy nghĩ: "Giả sử ta
giết Thiên nga chúa đầy đủ đạo hạnh và
mọi đức tính này, ta sẽ chẳng bao giờ
thoát khỏi bốn khổ hình. Vậy cứ để vua
Ba-la-nại muốn làm gì ta cũng mặc, ta sẽ trao chim mắc bẫy này như
quà biếu không cho Sumukha và thả chim đi".
Gã liền ngâm kệ:
18. Ngươi kính Điểu vương, cao quý thay,
Vì ngươi vẫn sống vời chim này,
Hãy bay về chốn ngươi chung sống,
Ta thả tự do hiền chúa ngay.
Nói vậy xong, người bẫy chim đầy thiện ý đến
gần bậc Đại Sĩ uốn cây sào xuống, đặt
chim chúa trên bùn, và lại nhấc sào ra khỏi thòng lọng. Sau
đó gã kéo chim ra khỏi hồ, vừa
đặt chim trên
đám cỏ Kusa non, gã vừa nhẹ tay tháo
chiếc bẫy đã kẹp chân chim. Lòng gã rạt
rào tình thân mến bậc Đại Sĩ , và với từ
tâm, gã lấy nước rửa sạch máu rồi chùi đi chùi
lại nhiều lần.
Nhờ uy lực của từ tâm ấy, gân dính liền gân, thịt liền thịt, da liền da,
chân chim lại lành như trước, chẳng còn gì khác với chân kia, và Bồ-tát ngồi
đó hân hoan thư thái như xưa.
Sumukha thấy chim chúa hạnh phúc dường nào nhờ hành
động của mình, nên vô cùng hoan hỷ nghĩ
thầm: "Người này đã
đem lại lợi ích cho ta, nhưng ta chưa làm
gì cho y cả. Nếu y bắt ta cho các triều thần và giao ta cho họ, y sẽ
được một số tiền lớn, và nếu y bắt ta
cho chính y, y sẽ bán ra rồi thu lợi lớn. Ta muốn hỏi y
đôi điều". Như vậy do lòng mong ước làm
ích lợi cho gã, chim ngâm kệ hỏi:
19. Nếu vì mục đích của riêng tây,
Ông đã bắt ta,
đặt bẫy này,
Ta được tự do ông trả lại,
Lòng không lo lắng, nghĩ suy đầy.
20. Song bằng không, quả thật to gan,
Người bẫy chim tha mạng điểu vương
Mà chẳng vì ân vua phép nước,
Hiển nhiên trộm cướp chẳng gì hơn.
Người bẫy chim nghe vậy bảo:
- Ta không bắt chim cho ta đâu, ta được vua
Samyama ở Ba-la-nại sai làm.
Rồi gã kể cho chim nghe toàn thể câu chuyện, từ lúc
đầu hoàng hậu nằm mộng cho
đến khi vua nghe có loài thiên nga
đến, và phán: "Này hiền hữu Khemaka, hãy
cố bắt một hai thiên nga, rồi trẫm sẽ ban đại
phú quý cho khanh", và cấp lương thực cho gã lên
đường.
Khi nghe vậy, Sumukha suy nghĩ: "Người bẫy chim này không kể gì
đến kế sinh nhai của riêng mình, khi thả
chúng ta ra là gây khó khăn cho y, song nếu từ
đây, ta trở về Cittakùta, thì trí tuệ siêu phàm của
điểu vương Dhatarattha cũng như hành
động vì tình bằng hữu của ta
đều không được biểu lộ, người bẫy chim cũng sẽ
không hưởng đại phú quý, nhà vua cũng không
được an trú vào Ngũ giới và ước nguyện
của hoàng hậu cũng không thành tựu". Vì thế, chim ấy
đáp:
- Này hiền hữu, nếu quả thật như vậy, thì ông không thể
để cho chúng ta đi. Hãy
đưa chúng ta đến yết kiến vua và ngài sẽ
đối xử với chúng ta tùy thích.
Chim ấy lại ngâm vần kệ làm sáng tỏ vấn đề:
21. Ông là tôi tớ của quân vương,
Ý nguyện ngài, ông phải vẹn toàn,
Tùy thích vua Sa-mya định đoạt
Với ta, đối xử hợp tâm can.
Nghe vầy, người bẫy chim nói:
- Thưa các ngài, các vị không nên mong ước diện kiến
đức vua. Vua chúa quả thật là những
người vô cùng nguy hiểm. Họ sẽ luyện các vị thành chim thuần thuần tính hoặc
giết đi.
Sumukha liền đáp:
- Này hiền hữu bẫy chim, đừng bận lòng
vì chúng ta. Nhờ thuyết Pháp, ta đã
khiến cho một người độc ác như ông phát khởi từ
tâm. Vậy sao ta không làm việc này với vua? Vua chúa
đủ trí tuệ để hiểu lời chân thiện. Hãy
mau đưa ta đến yết kiến vua. Ông đừng đem chúng
ta đi như đôi chim mắc bẫy, mà hãy đặt
ta vào chiếc lồng hoa và đưa đi như vậy.
Hãy làm chiếc lồng lớn phủ sen trắng cho
điểu vương Dhatarattha và lồng nhỏ hơn phủ sen
đỏ cho ta, đặt ngài phía trước, ta phía
sau, hơi thấp hơn một chút, rồi khẩn cấp đưa ta
đi yết kiến vua.
Khi nghe lời Sumukha, người bẫy chim suy nghĩ: "Sumukha
đến yết kiến đức vua chắc hẳn mong ta được đại
vinh hiển". Lòng vô cùng hoan hỷ, gã làm
đôi lồng bằng các cành liễu mềm phủ hoa sen, xong liền lên
đường cùng với
đôi chim theo cách miêu tả.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ để làm sáng tỏ vấn
đề:
22. Người săn chim nắm cả hai tay
Trong lúc được nghe nói thế này,
Liền đặt vào lồng
đôi ngỗng đỏ
Sắc da vàng ánh đẹp như vầy.
23. Bộ lông ngời sáng, chúa Thiên nga
Càng đẹp mắt trông, với Mục-kha,
Yên ổn trong lồng người đặt bẫy
Cầm lên cùng với ngỗng đi ra.
*
Ngay khi người bẫy chim lên đường cùng
với đôi ngỗng, chim chúa Dhatarattha chợt nhớ
đến vương hậu của mình là công chúa của Thiên nga vương Paka, do lòng
tham ái chi phối, chim chúa than thở như vầy với Sumukha.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ vấn
đề:
24. Nga vương vừa mới được mang ra,
Liền nói như vầy vời Mục-kha:
"Vương hậu diễm kiều đầy quý tướng
Bây giờ đang khổ não vì ta.
Nếu nàng nghe nói rằng ta chết,
Ta sợ đời nàng cũng phải sa.
25. Như cò hương khóc bạn tình lang,
Đơn độc bên bờ vắng
đại dương,
Rực rỡ, Su-he (*) da óng ả
Sẽ còn thương tiếc mãi quân vương.
(*) Suhemà: tên hoàng hậu Thiên nga
*
Nghe vầy, Sumukha suy nghĩ: "Thiên nga này, dù luôn sẵn sàng khuyến giáo
kẻ khác, lại bị tham dục chi phối, tất cả chỉ vì chim mái, nên cứ lảm nhảm
như nước đang sôi sùng sục, hoặc chẳng
khác tiếng bầy chim từ bến bờ vụt lên rồi sà xuống mổ lúa trên ruộng! Hay ta
phải cố dùng trí tuệ nêu rõ cho ngài thấy những thói xấu của nữ giới và làm
ngài tỉnh táo lại chăng?", và chim này
ngâm kệ:
26. Thiên nga vĩ đại, trí vô song,
Lãnh đạo anh minh của giống dòng,
Sao phải ưu phiền vì nữ giới,
Tỏ bày bao nhược điểm trong lòng.
27. Như gió mang đi đủ thứ mùi
Dù là thơm ngát hoặc tanh hôi,
Tham lam như trẻ thành mù quáng
Ăn thức còn tươi hoặc chín rồi.
28. Không xét suy chân chánh việc làm
Mê mờ, ngài chẳng thấy trên đàng
Việc gì cần tránh, gì làm được,
Trong lúc sa cơ, gặp hiểm nàn.
29. Hóa dại, ngài ca tụng má hồng
Có đầy vẻ diễm lệ say lòng;
Tầm thường, tuy vậy, là đa số,
Chẳng khác trà đình của túy ông.
30. Ưu phiền, bệnh tật với tai ương,
Như xích xiềng, gông, cực bạo tàn,
Ảo ảnh, dối gian và cạm bẫy
Tử thần cất kín tận tâm can.
Nữ nhân đều thế, ai tin chúng
Hạ liệt quả là nhất thế gian!
Lúc ấy chúa chim Dhatarattha đang say mê
nữ giới, liền bảo:
- Hiền hữu không biết các đức tính của phái
nữ, nhưng các bậc hiền trí biết rõ, nữ giới không
đáng bị chỉ trích đâu.
Rồi ngài giải thích qua các vần kệ:
31. Bậc trí nhìn chân lý rõ rành,
Còn ai khiển trách, dám phê bình?
Nữ nhân sinh ở trong trần thế
Để hưởng đặc quyền với đại danh.
32. Nhi nữ sinh ra để cợt đùa,
Tình yêu lạc thú được ban cho,
Hạt mầm nảy nở trong nhi nữ,
Nguồn gốc đời ta được hộ phò,
Từ đó nam nhân bừng nhịp thở,
Khó lòng khinh thị đám quần thoa.
33. Riêng khanh, Sư-mục, có tinh thông
Cung cách dung nghi đám má hồng,
Xúc động hãi kinh, khanh có thấy
Trí này sáng suốt muộn màng không?
34. Khi một nam nhân gặp bất an,
Giữa tai biến, chịu đựng can cường,
Trong cơn khủng hoảng bao hiền trí
Cố sức cho ta được thoát nàn.
35. Quân vương muốn gặp bậc anh hùng
Để có người khuyên nhủ hộ phòng
Chống nỗi kinh hoàng do nghịch cảnh,
Giải bày thích đáng, cứu nguy vong.
36. Ta mong đầu bếp của hoàng gia
Đừng nướng thân ta đã xác xơ,
Như trái cây tre thường giết mẹ
Bộ lông vàng cũng giết đời ta.
37. Tự do, khanh chẳng muốn bay đi,
Tự nguyện giam cầm để cứu nguy,
Giờ phút hiểm nghèo, đừng nói nữa,
Hãy hoàn thành sứ mạng nam nhi.
Bằng cách tán tụng nữ giới, bậc Đại Sĩ đã
làm cho Sumukha phải im lặng, nhưng khi thấy vị ấy buồn bực biết bao, giờ
đây ngài muốn hòa giải với bạn, liền
ngâm kệ này:
38. Gắng sức làm sao thật đúng thời,
Với công bằng biện hộ như lời,
Anh hùng hành động, xin hiền hữu
Đem lại cho ta cả cuộc đời.
Lúc ấy Sumukha suy nghĩ: "Ngài hết sức kinh hãi vì sợ chết; ngài không
biết uy lực của ta. Sau khi yết kiến vua Ba-la-nại và
đàm đạo đôi
điều với vua, ta sẽ biết cách hành động.
Lúc này ta muốn an ủi đại vương của ta",
và vị ấy ngâm vần kệ:
39. Nga vương cao quý, chờ kinh hoàng,
Kinh hãi chẳng là cách Đại vương,
Với lẽ công bằng, thần nỗ lực
Khẩn cầu vời lý luận khôn ngoan,
Bằng hành động hết lòng can
đảm
Lần nữa chúa công được thoát nàn.
Trong lúc hai vị đang nói chuyện với nhau
bằng tiếng chim như vậy, người bẫy chim chẳng hiểu lời nào chim nói
cả, cứ mang đôi chim trên
đôi gánh đi vào thành Ba-la-nại, gã
được một đám đông theo sau vì tràn
đầy thích thú kinh ngạc trước cảnh kỳ dị kia,
họ đưa hai tay lên trời với dáng điệu
nguyện cầu. Khi đến hoàng môn, người bẫy chim nhờ trình vua về việc
gã đến chầu.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ vấn
đề:
40. Người săn chim đến cổng hoàng
gia,
Tiến lại gần cùng gánh nặng kia,
"Trình tấu Đại vương, thần yết kiến,
Thưa rằng đây chính hiệu hồng nga".
Người canh cổng đi vào trình
y đã đến.
Vua vô cùng hoan hỷ, phán:
- Cho phép y vào chầu tức thì.
Rồi được một đám triều thần vây quanh, vua
ngự lên ngai vàng có lọng trắng che trên
đầu, thấy Khemaka bước lên bệ với gánh nặng trên vai, vừa khi nhìn
đôi Thiên nga sắc vàng óng ả, vua phán:
- Ước nguyện của ta đã thành tựu.
Rồi vua truyền lệnh cho quần thần làm mọi việc xứng
đáng đền đáp lại người bẫy chim.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ làm sáng tỏ vấn
đề:
41. Nhìn thấy đôi chim dáng Thánh thần,
Tràn đầy quý tướng đẹp vô ngần,
Vua Sa-mya ấy liền lên tiếng
Cùng với lời trao đám cận thần:
42. "Ban gã săn chim thức uống ăn,
Loại mềm, y phục đẹp oai hùng,
Vàng ròng cả khối màu hồng đỏ
Ban thật nhiều như dạ ước mong".
*
Lòng vô cùng hân hoan, vua muốn bày tỏ nỗi thích thú của mình liền phán:
- Hãy đi trang điểm cho người bẫy chim rồi
đưa y đến đây.
Thế là đám triều thần đưa gã ra khỏi
cung, truyền tỉa râu tóc gã, sau khi y đã
tắm rửa, xoa đầu thơm và mặc y phục lộng
lẫy, họ đưa y vào yết kiến vua. Lúc
đó vua ban cho y hai thôn làng hưởng lợi
tức hàng năm một trăm ngàn
đồng tiền, một cỗ xe do bầy ngựa thuần chủng
kéo, một ngôi nhà rộng rãi đầy đủ tiện
nghi cùng đại phú quý vinh hiển.
Khi nhận được đại danh vọng như vậy, người
bẫy chim tâu trình để giải thích những
việc y đã làm:
- Tâu Đại vương, thần không dâng Đại vương
loại thiên nga bình thường đâu; đây
chính là chúa tể của cả đàn chín
mươi ngàn thiên nga, mệnh danh Dhatarattha và
đây là đại tướng Sumukha.
Sau đó, vua hỏi:
- Này hiền hữu, làm sao khanh bắt được đôi
chim ấy?
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ giải thích vấn đề:
43. Đại vương nhìn thấy kẻ
đi săn,
Đẹp ý hân hoan, mới phán rằng:
"Hồ ấy, Khe-ma, đàn ngỗng đến
Hàng ngàn con để kiếm đồ ăn.
44. Giữa cả đàn chim một giống dòng,
Làm sao khanh cố sức thi công
Chọn ra chim chúa này kiều diễm,
Và bắt Thiên nga vẫn sống chăng?"
Người săn chim đáp lời vua:
45. Bảy ngày ròng rã, dạ âu lo
Thần đã hoài công
đánh dấu hồ,
Tìm vết Thiên nga này tuyệt đẹp,
Ẩn mình trong một cái lu to.
46. Hôm nay thần thấy bãi chim ăn
Mà chính Thiên nga đã
đến gần;
Lập tức chỗ kia thần đặt bẫy,
Thiên nga phút chốc bị sa chân.
Khi nghe vậy, vua suy nghĩ: "Kẻ này lúc đứng
ở cổng chỉ kể chuyện chim chúa Dhatarattha bay đến, và bây giờ y cũng
chỉ nói về chim này thôi. Thế việc này có ý nghĩa gì?". Và vua ngâm vần kệ:
47. Thợ săn trình chỉ một chim thôi,
Nhưng trẫm thấy đầy đủ cả đôi,
Nhầm lẫn gì chăng, khanh đến tặng
Trẫm đây thêm một chú chim trời?
Lúc ấy người bẫy chim đáp:
- Tâu Đại vương, không có gì thay
đổi trong ý định của thần, và thần cũng
không muốn dâng Thiên nga thứ hai này cho ai cả. Hơn nữa, thần chỉ bắt
được một con trong bầy thôi.
Rồi y nói tiếp để giải thích:
48. Thiên nga có những sọc vàng hồng
Tất cả đều vòng xuống dưới thân,
Đã bị bắt vào trong chiếc bẫy,
Thần dâng đây đúng lệnh Minh quân.
49. Chim tuyệt đẹp này được tự do
Vẫn ngồi bên cạnh bạn sa cơ,
Dùng lời lẽ thế nhân êm dịu
Cố sức làm cho bạn khỏi lo.
Theo cách này y tuyên dương đức hạnh của
Sumukha:
- Ngay khi biết Thiên nga Dhatarattha bị bắt, chim ấy ở |