Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
SUTTAPIṬAKA - KHUDDAKANIKĀYA

Đạo Vô Ngại Giải
Paṭisambhidāmagga

Bhikkhu Ñāṇamoli dịch từ tiếng Pāḷi sang tiếng Anh:
THE PATH OF DISCRIMINATION

Nguyễn Văn Ngân dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt
2006

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)

 

I- LUẬN VỀ TRÍ

GHI CHÚ DẪN NHẬP

 Chương I - Làm quen với tác phẩm

Các phần i đến v: Các ý niệm và ý nghĩa của chúng

Đề mục ‘Mười đề nghị’ ở đầu đoạn 3 bao gồm các đề nghị từ 1 đến 10 phù hợp với các phần i đến v theo nghĩa tổng quát. Đoạn 4 ‘Tất Cả’ là phần tóm lược ngắn gọn để rồi được khai triển ra dưới hình thức đơn giản ở đoạn 5 thành 201 ý niệm <Nhóm A>. Nhóm này tạo thành danh sách căn bản đầu tiên xuất hiện khắp quyển sách này. Sau đó là sự khai triển tương tự nhưng theo khuôn mẫu bốn sự thực, nghĩa là đề cập tới sự sanh khởi, đoạn diệt và con đường dẫn đến đoạn diệt (đoạn 6-7). Rồi đến năm sự khai triển tương tự được phần mở đầu của mỗi đoạn quy định theo khuôn mẫu riêng.

Đoạn 18 kê ra mười lăm đặc tính căn bản của tái sanh <Nhóm E>. Chúng tạo thành 5 đặc tính chính và 10 đặc tính phụ của luân hồi. Trạng thái phủ định của chúng là nibbana. Các đoạn tiếp sau nêu lên sự tương phản giữa hai đối cực: yếu tố tạo thành và yếu tố chấm dứt luân hồi này (18-22).

Các đoạn 23-25 đưa ra danh mục ‘các ý nghĩa’ (đó là thay bằng các chữ đồng nghĩa), lập thành nhóm khác nhau. Trong danh mục này, ở đoạn 26 liệt kê chi tiết: năm năng lực gây ảnh hưởng, năm lực, bẩy yếu tố tạo thành giác ngộ, đạo tám ngành và một danh mục tổng quát <Nhóm B>. Danh mục ấy, xuất hiện rải rác khắp tác phẩm này, được lập lại ở đoạn 41 (có bàn lấn sang một phần nào về bodhipakkhiya dhammas). <đoạn 42 Tĩnh Lặng và Quán Thực Tánh>

Còn bốn đạo lộ được bàn tới ở đoạn 40 <so với nhóm H>

Các đoạn 36-40 liệt ra một danh mục các ý niệm (xuất ly, ...) đối nghịch với các chướng ngại, bốn jhanas, bốn thành tựu cõi vô sắc, mười tám tuệ quán thực tánh chính, bốn đạo lộ và bốn quả <Nhóm C>. Danh mục này chỉ cho thấy định, tuệ quán, đạo lộ, quả cũng thường tái xuất hiện. <Phần i-v coi các ý niệm này là (i) cần được chứng biết trực tiếp (tất cả các ý niệm và ý nghĩa), (ii) cần được hiểu biết trọn vẹn (tất cả các hành vi tạo tác), (iii) cần được từ bỏ (các trạng thái bất thiện), (iv) cần được tu tập (bốn đạo lộ), (v) cần được chứng nghiệm (sự đoạn diệt)>. <đoạn 43 Đạo lộ: Nhóm I>

Các phần vi đến ix: Tiến triển <các cõi thiền, chứng đắc>

Các phần x đến xii: Ba đặc tính

Các phần xiii đến xvi: Bốn sự thực <đề cập trọn vẹn>

Chương II - Giới <đoạn 265 tu tập tăng thượng: Nhóm G>

Chương III - Định <so với Nhóm F>

Chương IV đến X - Tuệ quán

Sau phần nói về Giới (chương II), Định (chương III) là phần nói đến Tuệ Quán qua 7 giai đoạn (Chương IV đến X). Đại khái, các chương ấy là:

1)      Lấy các ý niệm được định nghĩa ở Chương I và sự khám phá ra tương quan nhân quả giữa các ý niệm ấy (Chương IV), thoạt tiên bắt đầu từ một kiếp đời kéo dài sang các kiếp quá khứ và tương lai. Đây được gọi là phân biệt rõ các điều kiện, sự phân biệt ấy được thực hiện bằng cách suy diễn các điều kiện và các trạng thái sanh khởi có điều kiện thành bốn trường hợp diễn dịch: <a> các điều kiện quá khứ làm nhân cho <b> các điều kiện hay trạng thái hiện tại <c> điều kiện hiện tại làm nhân cho <d> các điều kiện hay trạng thái tương lai (đoạn 275: đưa ra khuôn mẫu căn bản cho tiến trình biến đổi vô cùng tận).

2)      Sau khi suy diễn các điều kiện và các trạng thái sanh khởi có điều kiện theo cách này, tất cả đều được hiểu biết đầy đủ dưới ‘mười một tiêu đề kể từ quá khứ’ và dưới các tiêu đề này, tất cả những gì được tìm thấy chẳng qua chỉ là vô thường, không thỏa mãn và không phải là ngã (V).

3)      Các điều kiện và các trạng thái ấy vô thường như thế nào nhờ xem xét sự sanh và diệt của bất kỳ trạng thái nào có thể nhận biết được (VI).

4)      Bước tới là nhìn nhận rằng không những tất cả các trạng thái có thể nhận biết được khởi lên và diệt đi (không từ đâu đến và không biến vào đâu), mà cả thức nhận biết về các trạng thái ấy cũng khởi lên và diệt đi theo cách ấy. Đây là bước đầu quan trọng vì giờ đây, [có] sự thực chứng về luật sanh khởi và hủy diệt ứng dụng vào từng trạng thái có thể nhận biết được, kể luôn thức biết về trạng thái và sự kiện đó cũng sanh diệt như thế. Rồi lòng ham muốn đối tượng bắt đầu phai nhạt đi, không phải biết bằng trí năng mà bằng chứng nghiệm thâm sâu hơn, vì sự vô dụng của bám níu đến cái gì khởi lên để rồi diệt đi trong thức biến diệt này giờ đây thực sự được thể nghiệm. Tu tập ở đây có yếu tính đặc biệt trong việc phát triển khả năng ghi nhớ điều đã được học hỏi trong mọi trường hợp (VII). <Chú dẫn của Ñāṇamoli bị gián đoạn ở đây, nhưng ở phần cuối của Giới Thiệu Dẫn Nhập Luận III, chúng tôi tìm thấy các ‘giai đoạn’ còn lại của tuệ quán thực tánh, (5) trí về hiểm nguy, (6) bình thản, (7) chuyển tánh (VIII-X) dẫn đến sự ‘ngoi lên’ của Đạo Lộ Giải Thoát. Chúng tôi tìm thấy một mảnh giấy khác ghi chú tiếp khái lược của Ñāṇamoli về các chương của Luận Thuyết I như sau:>

Chương XI - Đạo lộ

Chương XII - Quả vị

Chương XIII - Tiêu Dao

Chương XIV - Duyệt xét

Chương XV đến XIX - Khác biệt: phân biệt

Chương XX đến XXIV - Trí trực chứng đến thực chứng

Chương XXV đến XXVIII - Bốn Vô Ngại Giải

Chương XXIX đến XXXI - An trú và Chứng Đắc

Chương XXXII đến XXXVII - Những giai đoạn cuối của đoạn diệt

Chương XXXVIII đến XLIII - Các loại trí

Chương XLIV đến XLIX - Quay đi

Chương L đến LV - Sáu abhiññās <Trí trực chứng>

Chương LVI đến LIX - Bốn Sự Thực <Bốn chức năng>

Chương LX đến LXVII - Bốn Sự Thực và Bốn Vô Ngại Giải

Chương LXVIII đến LXXIII - Sáu Trí Các Đệ Tử Không Có

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa

ĐẠO VÔ NGẠI GIẢI

PHẦN THỨ NHẤT

LUẬN I - TRÍ

BẢNG LIỆT KÊ

TRÍ CÁC ĐỆ TỬ CÓ:

Chương

 

Đoạn số

I

Tuệ lắng nghe là trí biết về điều đã nghe (học hỏi)

1

II

Tuệ về chế ngự sau khi nghe (học hỏi) là trí về giới

251

III

Tuệ về định sau khi chế ngự là trí về tu tập định

267

IV

Tuệ phân biệt rõ các điều kiện là trí biết về liên hệ nhân quả (hiện hữu) giữa các hiện tượng

271

V

Tuệ định rõ các hiện tượng quá khứ, hiện tại, tương lai sau khi diễn dịch là trí hiểu biết toàn diện

277

VI

Tuệ quán sự biến đổi của các hiện tượng đang hiện khởi là trí quán sanh diệt

283

VII

Tuệ quán sự diệt [của tâm] sau khi quán tưởng về đối tượng là trí quán thực tánh

295

VIII

Tuệ về biểu hiện hãi hùng là trí quán nguy hiểm

299

IX

Tuệ muốn giải thoát, tư duy và điềm tĩnh, là trí bình thản trước các hành vi tạo quả

306

X

Tuệ trồi lên và quay đi từ bên ngoài là trí chuyển tánh

331

XI

Tuệ trồi lên và quay đi từ [bên ngoài lẫn bên trong] là trí về đạo lộ

341

XII

Tuệ về làm lắng dịu nỗ lực là trí về quả

348

XIII

Tuệ quán bất toàn bị cắt bỏ là trí về giải thoát

354

XIV

Tuệ quán thực tánh các hiện tượng đạt được lúc đó là trí duyệt xét

359

XV

Tuệ xác định các giác quan là trí về khác biệt trong căn cứ vật thể

369

XVI

Tuệ xác định đối tượng bên ngoài là trí về khác biệt trong lãnh vực [căn cứ vật thể]

378

XVII

Tuệ xác định hành xử là trí về sự khác biệt trong hành xử

387

XVIII

Tuệ xác định bốn cõi là trí về sự khác biệt trong cảnh giới

396

XIX

Tuệ xác định chín ý niệm là trí biết sự khác biệt giữa các ý niệm

404

XX

Tuệ vốn là trí trực chứng là trí về điều được biết tới

413

XXI

Tuệ vốn là hiểu biết trọn vẹn là trí theo nghĩa thẩm định (tìm hiểu kỹ)

413

XXII

Từ bỏ là trí theo nghĩa dứt bỏ

413

XXIII

Tuệ vốn là tu tập là trí theo nghĩa tác dụng duy nhất

413

XXIV

Tuệ vốn là thực chứng là trí theo nghĩa thể nghiệm

413

XXV

Tuệ biết khác biệt về nghĩa là vô ngại giải về nghĩa

416

XXVI

Tuệ biết khác biệt về ý niệm là vô ngại giải về ý niệm

416

XXVII

Tuệ biết khác biệt về ngôn ngữ là vô ngại giải về ngữ pháp

416

XXVIII

Tuệ biết khác biệt về biện tài là vô ngại giải về biện tài

416

XXIX

Tuệ biết khác biệt về trú là trí về nghĩa của trú

434

XXX

Tuệ biết khác biệt về chứng đạt là trí về chứng đạt

434

XXXI

Tuệ biết khác biệt về trú và chứng đạt là trí về nghĩa của trú và chứng đạt

434

XXXII

Tuệ cắt đứt phiền não nhờ sự tinh khiết của không phân tâm là trí về định có kết quả tức thời

441

XXXIII

Tuệ tức là thấy rõ có phần ưu thắng, tức là thành tựu trong an trú, tức là quyết tâm về mục tiêu tối thượng là trí về trú không xung đột

444

XXXIV

Tuệ làm chủ do có hai lực, do lắng dịu ba hành vi tạo tác, do mười sáu loại tu tập của trí, và do chín loại tu tập của định, là trí về chứng đoạn diệt

451

XXXV

Tuệ chấm dứt sự tiếp tục tái diễn của người hiểu biết rõ ràng tường tận là trí về hoàn toàn dập tắt

461

XXXVI

Tuệ hoàn toàn cắt đứt tất cả các trạng thái, sự đoạn diệt của chúng, và sự không tái xuất hiện của chúng, là trí về nghĩa của cùng tột đỉnh

464

XXXVII

Tuệ về cách biệt, về khác biệt và đồng nhất, về dập tắt lửa, là trí về tẩy trừ

472

XXXVIII

Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng là trí ứng dụng tinh tấn.

478

XXXIX

Tuệ giải thích các ý niệm khác nhau là trí biểu lộ ý nghĩa

482

XL

Tuệ hiểu rõ ràng sự bao hàm tất cả các ý niệm khác nhau thành một, sự khác biệt và đồng nhất, là trí về cái thấy trong sạch

487

XLI

Tuệ nhờ điều được nhìn nhận là trí kể như là chọn

494

XLII

Tuệ nhờ điều được nhận chân là trí thâm hiểu

497

XLIII

Tuệ về tổng hợp là trí về trú [duyệt xét các trạng thái theo] phần

500

XLIV

Tuệ do trạng thái được ưu thắng là trí quay đi bằng nhận thức

505

XLV

Tuệ về khác biệt là trí quay đi bằng ý (tâm)

508

XLVI

Tuệ về củng cố là trí quay đi của tâm

511

XLVII

Tuệ về tánh không là trí quay đi của trí

514

XLVIII

Tuệ về buông bỏ là trí quay đi bằng giải thoát

517

XLIX

Tuệ về nghĩa của chân như (như thực, hiện thực) là trí quay đi theo sự thật

520

L

Tuệ về nghĩa của thành tựu do xác định thân và tâm là một và nhờ giữ vững nhận thức an lạc và nhận thức nhẹ nhàng là trí về các loại thần thông (năng lực siêu nhiên)

524

LI

Tuệ thấu rõ sự khác biệt và đồng nhất về âm thanh nhờ sự can dự của hướng tâm về đối tượng là trí về thanh tịnh của tai

529

LII

Tuệ thấu rõ hành xử của thức trong sự khác biệt và đồng nhất bằng cách [quan sát] lòng tin [và không tin] trong [sáu] năng lực gây ảnh hưởng [bắt đầu bằng năng lực gây ảnh hưởng của mắt] nhờ sự can dự của ba loại tâm là trí thấu rõ ý (tâm).

534

LIII

Tuệ thấu rõ các trạng thái sanh khởi do tùy thuộc qua sự can dự của khác biệt và đồng nhất [tương ứng] với hành vi [bất thiện và thiện] là trí nhớ lại kiếp quá khứ

539

LIV

Tuệ bằng ánh sáng nhìn tượng biết ý thấy sự khác biệt và đồng nhất là trí thiên nhãn

544

LV

Tuệ làm chủ ba năng lực gây ảnh hưởng theo sáu mươi bốn cách là trí về sự kiệt quệ của phiền não

550

LVI

Tuệ về nghĩa của hiểu biết trọn vẹn là trí về khổ đau

564

LVII

Tuệ về nghĩa của từ bỏ là trí về nguồn gốc

564

LVIII

Tuệ về nghĩa của thực chứng là trí về đoạn diệt

564

LIX

Tuệ về nghĩa của tu tập là trí về đạo lộ

564

LX

Trí về khổ đau

567

LXI

Trí về nguồn gốc của khổ

567

LXII

Trí về diệt khổ

567

LXIII

Trí về con đường dẫn đến diệt khổ

567

LXIV

Trí về vô ngại giải về nghĩa

570

LXV

Trí về vô ngại giải về ý niệm

570

LXVI

Trí về vô ngại giải về ngữ pháp

570

LXVII

Trí về vô ngại giải về biện tài

570

[TRÍ CÁC ĐỆ TỬ KHÔNG CÓ:]