|
PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
NỀN TẢNG PHẬT GIÁO QUYỂN III
HÀNH GIỚI Tỳ khưu Hộ Pháp
II-
Giới Ājīvaṭṭhamakasīla Giới ājīvaṭṭhamakasīla: Bát giới có giới thứ 8 sống chánh mạng không những là giới chung cho tất cả người tại gia và những bậc xuất gia, mà còn là giới của các hành giả thực hành pháp hành thiền định, nhất là thực hành pháp hành thiền tuệ. Cho nên giới ājivaṭṭhamakasīla này có một tầm quan trọng trong cuộc sống của mọi người, dù có thọ trì hay không thọ trì. Nếu người nào phạm đến điều giới nào, thì người ấy đã tạo ác nghiệp. Bởi vậy cho nên, người nào đã thọ trì giới ājīvaṭṭhamaka-sīla này xong, người ấy cố gắng giữ gìn giới cho được trong sạch và trọn vẹn, để tạo mọi thiện nghiệp. Nếu dể duôi mà phạm điều giới nào, thì cần phải biết hổ thẹn tội lỗi, biết ghê sợ tội lỗi, biết ăn năn sám hối tội lỗi, có trí nhớ và trí tuệ biết mình, rồi xin thọ trì giới ấy trở lại. Như vậy gọi là người có giới. Nghi Thức Thọ Phép Quy Y Tam Bảo Và Giới Ājīvaṭṭhamakasīla Người cận sự nam, cận sự nữ (hoặc hành giả) đảnh lễ Ngài Đại đức xong, tiếp theo hành nghi lễ tuần tự như sau: Lễ bái Tam Bảo Lễ sám hối Tam Bảo * Lễ sám hối Đức Phật Bảo Uttamaṅgena vande’haṃ, Con hết lòng thành kính
cúi đầu đảnh lễ, * Lễ sám hối Đức Pháp Bảo Uttamaṅgena vande’haṃ, Con hết lòng thành kính
cúi đầu đảnh lễ, * Lễ sám hối Đức Tăng Bảo Uttamaṅgena vande’haṃ, Con hết lòng thành kính
cúi đầu đảnh lễ, Bài kệ cầu nguyện Iminā puññakammena, Do nhờ năng lực thiện tâm
sám hối này, Lễ xin thọ phép quy y Tam Bảo và giới Ājīvaṭṭhamakasīla Mayaṃ Bhante, tisaraṇena saha ājīvaṭṭhamakasīlaṃ dhammaṃ yācāma, anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha no Bhante. Dutiyampi mayaṃ Bhante, tisaraṇena saha ājīvaṭṭhamakasīlaṃ dhammaṃ yācāma, anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha no Bhante. Tatiyampi mayaṃ Bhante, tisaraṇena saha ājīvaṭṭhamakasīlaṃ dhammaṃ yācāma, anuggahaṃ katvā, sīlaṃ detha no Bhante. Kính bạch Ngài Đại đức, chúng con xin thọ trì phép quy y Tam Bảo và giới ājīvaṭṭhamakasīla. Kính bạch Ngài, kính xin Ngài từ bi tế độ hướng dẫn phép quy y Tam Bảo và giới ājīvaṭṭhamakasīla cho chúng con. Kính bạch Ngài Đại đức, chúng con xin thọ trì phép quy y Tam Bảo và giới ājīvaṭṭhamakasīla. Kính bạch Ngài, kính xin Ngài từ bi tế độ hướng dẫn phép quy y Tam Bảo và giới ājīvaṭṭhamakasīla cho chúng con, lần thứ nhì. Kính bạch Ngài Đại đức, chúng con xin thọ trì phép quy y Tam Bảo và giới ājīvaṭṭhamakasīla. Kính bạch Ngài, kính xin Ngài từ bi tế độ hướng dẫn phép quy y Tam Bảo và giới ājīvaṭṭhamakasīla cho chúng con, lần thứ ba. Ngài Đại đức truyền dạy rằng: NĐĐ: Yamahaṃ vadāmi, taṃ
vadetha. Tất cả mọi người cận sự nam, cận sự nữ đồng thanh thưa rằng: CSN: Āma, Bhante. Kính lễ Đức Phật Ngài Đại đức hướng dẫn đảnh lễ Đức Thế Tôn rằng: Namo Tassa Bhagavato
Arahato Sammāsambuddhassa. (Con đem hết lòng thành
kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Đức Arahán, Đức Chánh Đẳng Giác ấy). Thọ phép quy y Tam Bảo Sau khi kính lễ Đức Phật xong, Ngài Đại đức hướng dẫn thọ phép quy y Tam Bảo như sau: Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi. Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi. Saṃghaṃ saraṇaṃ gacchāmi. Dutiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ
gacchāmi. Dutiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ
gacchāmi. Dutiyampi Saṃghaṃ saraṇaṃ
gacchāmi. Tatiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ
gacchāmi. Tatiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ
gacchāmi. Tatiyampi Saṃghaṃ saraṇaṃ
gacchāmi. NĐĐ: Tisaraṇagamanaṃ
paripuṇṇaṃ. CSN: Āma! Bhante. Thọ Trì Giới Ājīvaṭṭhamakasīla Sau khi thọ phép quy y Tam Bảo xong, tiếp theo thọ trì giới ājīvaṭṭhamakasīla:
1-
Pāṇātipātā veramaṇisikkhāpadaṃ
samādiyāmi.
2-
Adinnādānā veramaṇisikkhāpadaṃ
samādiyāmi.
3-
Kāmesumicchācārā veramaṇisikkhāpadaṃ
samādiyāmi.
4-
Musāvādā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.
5-
Pisuṇavācā veramaṇisikkhāpadaṃ
samādiyāmi.
6-
Pharusavācā veramaṇisikkhāpadaṃ
samādiyāmi.
7-
Samphappalāpā veramaṇisikkhāpadaṃ
samādiyāmi.
8-
Micchājīvā veramaṇisikkhāpadaṃ
samādiyāmi. NĐĐ: Tisaraṇena saha
ājīvaṭṭhamakasīlaṃ dhammaṃ sādhukaṃ katvā, appamādena sampādetha. CSN: Āma, Bhante. NĐĐ: Sīlena sugatiṃ yanti.
Chúng sinh tái sinh cõi
trời, nhờ giữ giới. CSN: Sādhu! Sādhu! Sau khi đã thọ phép quy y Tam Bảo và giới ājīvaṭṭha-makasīla xong, tiếp theo tất cả mọi người cận sự nam, cận sự nữ nên đọc 3 bài kệ khẳng định không có quy y nương nhờ nơi nào khác, chỉ có quy y nơi Đức Phật Bảo, nơi Đức Pháp Bảo, nơi Đức Tăng Bảo mà thôi, để làm cho tăng thêm đức tin như sau: Bài kệ khẳng định quy y Tam Bảo Natthi me saraṇaṃ aññaṃ, Natthi me saraṇaṃ aññaṃ, Natthi me saraṇaṃ aññaṃ, Chẳng có nơi nào đáng cho
con nương nhờ, Chẳng có nơi nào đáng cho
con nương nhờ, Chẳng có nơi nào đáng cho
con nương nhờ, Hoàn thành xong lễ thọ phép quy y Tam Bảo và giới ājīvaṭṭhamakasīla . Giải Thích Giới Ājīvaṭṭhamakasīla Ājīvaṭṭhamakasīla = ājīva + aṭṭhamaka + sīla. - Ājīva: Mạng sống, nuôi mạng Có 2 cách: 1- Micchājīva: Sống tà mạng, nghĩa là sống bằng cách thân hành ác, khẩu hành ác như sát sinh, trộm cắp, v.v... 2- Sammā ājīva: Sống chánh mạng, nghĩa là sống bằng cách thân hành thiện, khẩu hành thiện như tránh xa sự sát sinh, tránh xa sự trộm cắp, v.v…; không buôn bán những thứ gây tai hại đến chúng sinh. ─ Aṭṭhamaka: Thứ 8. ─ Sīla: Điều giới. ─ Ājīvaṭṭhamakasīla: Điều giới thứ 8 sống chánh mạng, nghĩa là điều giới thứ 8 tránh xa cách sống tà mạng. Ājīvaṭṭhamakasīla có 8 điều giới, 4 điều giới đầu (điều giới thứ nhất, điều giới thứ nhì, điều giới thứ ba và điều giới thứ tư) đã được giải thích ở trong phần ngũ giới. Điều Giới Thứ 5 Pisuṇavācā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi. * Nghĩa phân tích chữ: ─ Pisuṇavācā Þ Pisuṇa + vācā + Pisuṇa: Phá tan sự đoàn kết, làm cho chia rẽ. + Vācā: Lời nói. ─ Veramaṇisikkhāpadaṃ Þ Veramaṇī + sikkhāpadaṃ. + Veramaṇī: Tác ý tránh xa. + Sikkhāpadaṃ: Điều giới, giới. ─ Samādiyāmi: Con xin thọ trì. Pisuṇavācā: Lời nói làm mất tình thương yêu đoàn kết nhau, lời nói chia rẽ nhau. * Nghĩa tổng hợp: Con xin thọ trì điều giới, có tác ý tránh xa sự nói lời chia rẽ.
Chi Pháp Phạm Điều Giới Nói Lời Chia Rẽ Người phạm điều giới nói lời chia rẽ cần phải hợp đủ 5 chi pháp: 1- Nói lời chia rẽ giữa hai người đang thân thiết với nhau. 2- Tác ý ác nói làm cho hai người ấy chia rẽ nhau. 3- Cố gắng bằng khẩu để hai người ấy chia rẽ nhau. 4- Hai người nghe và tin lời người nói, rồi lánh xa nhau. 5- Hai người oán ghét lẫn nhau, rồi chia rẽ xa lánh nhau. Nếu hội đủ 5 chi pháp này, thì gọi là phạm điều giới nói lời chia rẽ. Nếu thiếu 1 trong 5 chi pháp, thì không thể gọi là phạm điều giới nói lời chia rẽ. Giảng Giải Về Sự Nói Lời Chia Rẽ * Sự nói lời chia rẽ như thế nào? Cậu A và cô B là hai người bạn thân thiết với nhau, thường giúp đỡ lẫn nhau. Cô C nhìn thấy họ như vậy nên sinh tâm ganh tỵ, tìm cách làm cho cậu A và cô B nghi ngờ lẫn nhau, rồi ghét nhau dẫn đến xa lánh nhau. Cô C lén tìm đến gặp cậu A nói rằng: ─ Này anh A, em báo cho anh biết, cô B lén lút quan hệ với người con trai khác, anh nên thận trọng là hơn! Ban đầu cậu A không tin, nhưng do cô C nói nhiều lần khiến cho cậu A phát sinh tâm nghi ngờ cô B; từ nghi ngờ nên mỗi khi gặp cô B, cậu A thường có thái độ dè dặt. Lúc khác cô C lén tìm đến gặp cô B khuyên rằng: ─ Này em B, chị báo cho em biết, cậu A lén lút quan hệ với người con gái khác, em hãy thận trọng trong việc quan hệ với cậu ấy, để tránh sự hối hận về sau. Ban đầu cô B không tin, nhưng do cô C nói nhiều lần khiến cho cô B phát sinh tâm nghi ngờ cậu A; từ nghi ngờ, nên cô B có thái độ dè dặt, bắt đầu để ý, dò xét thấy gần đây cậu A có thái độ thờ ơ đối với cô. Cô B tin lời cô C nói là thật và nghĩ rằng: “Chị C thật tâm thương mình nên nhắc nhở”. Về phía cậu A, từ khi nghe lời cô C, cậu A cũng dò xét, để ý thấy cô B gần đây có thái độ đáng nghi ngờ, nên nghĩ rằng: ─ Điều cô C nói có lẽ là sự thật! Một hôm, bất ngờ cậu A nhìn thấy cô B đang nói cười vui vẻ với một người con trai khác ở một nơi nào đó. Cậu A liền lẫn tránh không cho cô B nhìn thấy, rồi nghĩ rằng: “Cô C thật tốt với mình, cô ấy không muốn mình thất vọng”. Chuyện gì sẽ xảy ra? Cậu A tìm đến gặp cô B, mắng nhiếc cô B rằng: ─ Cô là con người lừa dối, không thật tâm đối với tôi! Khi nghe vậy, cô B do bị xúc phạm quá nặng và vì quá oan ức, nên cô cũng phản ứng gay gắt rằng: ─ Anh cũng không tốt gì đâu! Vì nghe theo lời nói chia rẽ của cô C, làm cho cậu A và cô B đã hiểu lầm nhau, ghét bỏ nhau, rồi xa lánh nhau. Như vậy, cô C là người đã phạm điều giới nói lời chia rẽ. Nói lời chia rẽ do khẩu là chính, nhưng cũng có trường hợp thuộc về phần thân: “Không nói mà có cử chỉ, hành động, hoặc viết thư gửi cho hai người khiến cho họ hiểu lầm nhau, rồi ghét bỏ nhau, rồi xa lánh nhau”. Tội Nặng - Tội Nhẹ Phạm Điều Giới Nói Lời Chia Rẽ Tội nặng hoặc tội nhẹ của sự phạm điều giới nói lời chia rẽ tùy thuộc vào đối tượng người có giới đức hoặc không có giới đức. ─ Nếu người có tác ý bất thiện nói lời chia rẽ giữa hai người có giới đức, thì có tội nặng; sau khi chết, do ác nghiệp này có thể cho quả tái sinh trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh). ─ Nếu người có tác ý bất thiện nói lời chia rẽ giữa hai người không có giới đức, thì có tội nhẹ. * Quả xấu của ác nghiệp nói lời chia rẽ Người phạm điều giới nói lời chia rẽ, có tội nặng; sau khi chết, nếu ác nghiệp này cho quả thì sẽ tái sinh trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh) chịu quả khổ của ác nghiệp cho đến khi mãn quả ác nghiệp. Nếu thiện nghiệp khác cho quả tái sinh làm người, thì người ấy phải chịu những quả xấu của ác nghiệp nói lời chia rẽ từ trong kiếp quá khứ như sau: 1- Tâm thường bất hòa với bạn bè, vợ chồng, anh em, bà con... 2- Thường bị người khác đánh đập, bị tàn tật. 3- Không có bạn bè thân thiết. 4- Bạn bè không bền vững, không lâu sẽ bỏ nhau. 5- Có nhiều người không ưa thích, không thân thiết. 6- Tâm thường bị ô nhiễm bởi phiền não, sống đau khổ. * Quả báu của thiện nghiệp tránh xa nói lời chia rẽ Đối với người thọ trì và giữ gìn điều giới tránh xa sự nói lời chia rẽ; sau khi chết, nếu thiện nghiệp cho quả tái sinh làm người, thì người ấy được hưởng những quả báu của thiện nghiệp không nói lời chia rẽ từ trong kiếp quá khứ như sau: 1- Tâm thường hòa thuận với bạn bè, vợ chồng, anh em, bà con... 2- Không bị người khác đánh đập, không bị tàn tật. 3- Có nhiều bạn bè thân thiết. 4- Tình bạn bè thân thiết bền vững, không bỏ nhau. 5- Có nhiều người thương yêu, quý mến. 6- Tâm ít bị ô nhiễm, sống an lạc. Điều Giới Thứ 6 Pharusavācā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi. * Nghĩa phân tích chữ: ─ Pharusavācā Þ Pharusa + vācā + Pharusa: Thô tục, phát sinh từ tâm sân. + Vācā: Lời nói. ─ Veramaṇisikkhāpadaṃ Þ Veramaṇī + sikkhāpadaṃ. + Veramaṇī: Tác ý tránh xa. + Sikkhāpadaṃ: Điều giới, giới. ─ Samādiyāmi: Con xin thọ trì. Pharusavācā: Lời nói thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc), phát sinh từ tâm sân. * Nghĩa tổng hợp: Con xin thọ trì điều giới, có tác ý tránh xa sự nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc). Chi Pháp Phạm Điều Giới Nói Lời Thô Tục Người phạm điều giới nói lời thô tục cần phải hợp đủ 3 chi pháp: 1- Tâm sân tức giận. 2- Có người bị chửi rủa, mắng nhiếc. 3- Đã nói lời chửi rủa, mắng nhiếc. Nếu hội đủ 3 chi pháp này, thì gọi là phạm điều giới nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc). Nếu thiếu 1 trong 3 chi, thì không thể gọi là phạm điều giới nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc). Giảng Giải Về Sự Nói Lời Thô Tục Sự nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) này có tác ý bất thiện (tác ý ác) phát sinh từ tâm sân, do đó, lời nói thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) chua chát hoặc ngọt ngào, nghe êm tai, thì cũng gọi là pharusavācā: Lời nói thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc). Người nào nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) thậm tệ với tâm sân làm khổ người khác, thì người ấy phạm điều giới pharusavācā: Nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc). * Trường hợp nói lời ngọt ngào nghe êm tai, với tác ý bất thiện (tác ý ác) bắt nguồn từ tâm sân muốn tiêu diệt đối tượng. Ví dụ: Một người có tâm sân muốn giết người khác, nhưng nói bằng lời lẽ ngọt ngào rằng: “Tôi sẽ giúp anh được yên giấc nghìn thu; hoặc tôi sẽ đưa anh về nơi chín suối; hoặc tôi sẽ gửi anh đi chầu trời, v.v...”. Như vậy, người ấy vẫn phạm điều giới pharusavācā: Lời nói thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc). Trong Chú giải Aṭṭhasālini, giảng giải về sự nói lời thô tục rằng: “Cha mẹ rầy la, chửi mắng con; hoặc thầy rầy la, chửi mắng học trò,... là cốt để dạy dỗ, khuyên răn, hăm dọa muốn cho con cái, học trò trở nên người tốt, người thiện. Những lời rầy la, chửi mắng ấy hoàn toàn không có tác ý bất thiện làm hại con cái, làm hại học trò...”. Như vậy khi cha mẹ, thầy rầy la, chửi mắng không hợp đủ chi phạm điều giới nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc). Cho nên cha mẹ, thầy không gọi là phạm điều giới nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc). Trong Phụ chú giải Ṭikā của Trường Bộ Kinh và Trung Bộ Kinh, giảng giải về nói lời thô tục rằng: “Người nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) với tâm sân, dù không có người thù mình, ghét mình, hoặc người thù ghét đã chết, người ấy vẫn hợp đủ 3 chi pháp phạm điều giới nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc), cho nên, người ấy đã phạm điều giới nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc)”. Lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) * Lời chửi rủa, mắng nhiếc là 1 trong 3 chi pháp phạm điều giới này. Lời chửi rủa, mắng nhiếc như thế nào? Lời chửi rủa, mắng nhiếc có 10 cách: 1- Hạng người (jāti): Lời mắng nhiếc gọi người thấp hèn hay người cao quý. * Hạng người thấp hèn như: Đồ tôi tớ!, đồ kẻ ăn mày!,... * Hạng người cao quý như: Thôi, ông chủ!, thôi, ông tướng!,... 2- Tên người (nāma): Lời mắng nhiếc gọi tên xấu hay tên đẹp. * Tên xấu như: Đồ thằng quỷ!, đồ con ma!,... * Tên đẹp như: Ông hoàng!, bà chúa!,... 3- Dòng dõi (gotta): Lời mắng nhiếc gọi dòng dõi thấp hèn hay cao quý. * Dòng dõi thấp hèn như: Con nhà ăn trộm!, con nhà lừa đảo!,... * Dòng dõi cao quý như: Con ông hoàng!, công nương!, tiểu thư!,... 4- Nghề nghiệp (kamma): Lời mắng nhiếc gọi nghề nghiệp thấp hèn hay cao quý. * Nghề nghiệp thấp hèn như: Đồ sát sinh!, đồ trộm cắp!, đồ tà dâm,... * Nghề nghiệp cao quý như: Thầy dạy học!, ông làm quan!,... 5- Chuyên môn (sippa): Lời mắng nhiếc gọi chuyên môn thấp hay cao. * Chuyên môn thấp như: Đồ chuyên môn lừa đảo!,... * Chuyên môn cao như: Thôi, anh làm thơ hay rồi!, anh giỏi nói chữ!,... 6- Bệnh (ābādha): Lời mắng nhiếc gọi bệnh người hèn, bệnh người sang. * Bệnh người hèn như: Thằng bệnh lậu!, thằng bệnh nghiện ma túy,... * Bệnh người sang như: Ông bệnh đau đầu!, bà bệnh đau tim!,... 7- Hình dáng (liṅgika): Lời mắng nhiếc gọi hình dáng xấu hay hình dáng đẹp. * Hình dáng xấu như: Thằng lùn!, con mụ mập!,... * Hình dáng đẹp như: Thôi, cậu công tử!; thôi, cô tiên nữ!,... 8- Phiền não (kilesa): Lời mắng nhiếc gọi phiền não... * Đồ tham lam!, đồ ngu ngốc!,... 9- Tội lỗi (āpatti): Lời mắng nhiếc gọi tội... * Ông đã phạm tội bất công trụ!,... 10- Lời thô tục (akkosa): Lời mắng nhiếc nói lời thô tục... * Mẹ mày!, cha mày!, đồ loài súc sinh!,... Đó là 10 cách chửi rủa, mắng nhiếc thô tục. Chửi rủa, mắng nhiếc bằng 2 môn ─ Chửi rủa mắng nhiếc bằng khẩu. ─ Chửi rủa mắng nhiếc bằng thân. Lời chửi rủa, mắng nhiếc phần nhiều bằng khẩu, nhưng cũng có trường hợp bằng thân như hành vi cử chỉ thô tục hoặc viết thư, viết báo, viết sách,... bằng những lời lẽ thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc). Tội Nặng - Tội Nhẹ Phạm Điều Giới Nói Lời Thô Tục Người nào phạm điều giới nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) đến cha mẹ, thầy tổ, những bậc Trưởng Lão, chư Tỳ khưu, Sadi có giới hạnh trong sạch, đến Đức Phật Độc Giác, Đức Phật Chánh Đẳng Giác, thì người ấy phạm tội nặng; sau khi chết, ác nghiệp ấy cho quả tái sinh trong cõi địa ngục. Người nào phạm điều giới nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) đến người không có giới đức trong sạch, thì người ấy phạm tội nhẹ. * Quả xấu của ác nghiệp nói lời thô tục Người phạm điều giới nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) phạm tội nặng; sau khi chết, ác nghiệp nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) cho quả tái sinh trong cõi địa ngục chịu khổ, cho đến khi mãn quả ác nghiệp ấy. Nếu có thiện nghiệp cho quả tái sinh làm người, thì người ấy còn phải chịu những quả xấu của ác nghiệp nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) từ trong kiếp quá khứ như sau: 1- Thường nghe những lời không hài lòng như lời chửi rủa, mắng nhiếc, v.v... 2- Có nhiều người ghét. 3- Thường bị chê trách, bị vu oan giá họa. 4- Ít được nghe những lời ngon ngọt mật thiết. 5- Đời sống nghèo nàn khổ cực. 6- Bị tàn tật câm điếc, đui mù. * Quả báu của thiện nghiệp tránh xa nói lời thô tục Đối với người thọ trì điều giới, tránh xa sự nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc); sau khi chết, thiện nghiệp cho quả tái sinh làm người, người ấy còn hưởng được những quả báu tốt của thiện nghiệp tránh xa sự nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) như sau: 1- Thường được nghe những lời ngọt ngào đáng hài lòng. 2- Được nhiều người thương yêu quý mến. 3- Thường được nghe những lời tán dương ca tụng, không bị vu oan giá họa. 4- Thường được nghe những lời ngọt ngào thân thiết. 5- Đời sống an lạc hạnh phúc. 6- Có giọng nói thanh tao rất hay. Điều Giới Thứ 7 Samphappalāpā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi. * Nghĩa phân tích chữ: ─ Samphappalāpā Þ Sampha+ palāpā + Sampha: Làm mất sự lợi ích và sự an lạc. + Palāpā: Lời nói. ─ Veramaṇisikkhāpadaṃ Þ Veramaṇī + sikkhāpadaṃ. + Veramaṇī: Tác ý tránh xa. + Sikkhāpadaṃ: Điều giới, giới. ─ Samādiyāmi: Con xin thọ trì. Samphappalāpā: Lời nói làm mất sự lợi ích và sự an lạc. * Nghĩa tổng hợp: Con xin thọ trì điều giới, có tác ý tránh xa sự nói lời vô ích. Chi Pháp Phạm Điều Giới Nói Lời Vô Ích Người phạm điều giới nói lời vô ích cần phải hợp đủ 2 chi pháp: 1- Tác ý bất thiện nói lời vô ích. 2- Nói lời vô ích. Nếu hội đủ 2 chi pháp này, thì gọi là phạm điều giới nói lời vô ích, nếu thiếu 1 trong 2 chi, thì không thể gọi là phạm điều giới nói lời vô ích. Giảng Giải Về Sự Nói Lời Vô Ích Trường hợp người nói hoặc người viết sáng tác những chuyện không có thật thành câu chuyện để cho người nghe hoặc người đọc tin theo, say mê theo lời nói của mình, rồi họ phát sinh tâm tà kiến thấy sai chấp lầm làm mất sự lợi ích, sự an lạc. Như vậy, lời nói của người ấy gọi là lời nói vô ích (samphappalāpa). Trường hợp người nói hoặc người viết những chuyện không có thật để làm ví dụ trong việc giảng dạy, để giúp cho người nghe, người đọc dễ hiểu theo lời dạy ấy, thì lời nói của người ấy không gọi là lời nói vô ích. Trường hợp người nói hoặc người viết trình bày những câu chuyện có thật, đúng theo sự thật, nhưng không đem lại lợi ích gì cho người nghe hoặc người đọc. Như vậy, lời nói của người ấy không gọi là lời nói vô ích. Trường hợp người nói hoặc người viết những câu chuyện nhảm nhí, hoang đường, không có thật, để làm cho người nghe, người đọc say mê tiêu khiển trong chốc lát, làm mất thì giờ mà không đem lại lợi ích, gọi là lời nói vô ích (samphappalāpa); nhưng không gọi là lời nói dối (musāvāda), bởi vì người nói hay người viết không có tác ý bất thiện nói dối làm cho người nghe, người đọc tin theo rồi gây ra sự tai hại. Nếu người nói hoặc người viết những chuyện nhảm nhí, hoang đường, không có thật, để người nghe hoặc người đọc say mê, tin theo rồi làm mất lợi ích, gây ra sự tai hại đến với họ, thì người nói hoặc người viết phạm điều giới nói lời vô ích và phạm điều giới nói dối nữa. Tội Nặng - Tội Nhẹ Phạm Điều Giới Nói Lời Vô Ích Nếu người phạm điều giới nói lời vô ích trở thành thói quen hằng ngày như các diễn viên hài, viết chuyện vui cười, chuyện nhảm nhí,... thì người ấy có tội nặng. Nếu thỉnh thoảng hoặc đôi khi nói lời vô ích, thì người ấy có tội nhẹ. * Quả xấu của ác nghiệp nói lời vô ích Đối với người phạm điều giới nói lời vô ích, có tội nặng, sau khi chết, do ác nghiệp nói lời vô ích cho quả tái sinh trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh) chịu quả khổ của ác nghiệp ấy, cho đến khi mãn quả ác nghiệp ấy. Do nhờ thiện nghiệp khác cho quả, nếu tái sinh làm người, thì người ấy còn phải chịu những quả xấu của ác nghiệp nói lời vô ích từ trong kiếp quá khứ như sau: 1- Có nhiều người không tin theo lời nói của mình. 2- Có nhiều người không ưa thích. 3- Không được nhiều người kính trọng. 4- Không thể nói cho người khác tin theo. 5- Là người nghèo khổ. 6- Là người không có quyền lực. 7- Là người thiểu trí (ngu dốt). * Quả báu của thiện nghiệp tránh xa nói lời vô ích Đối với người thọ trì điều giới tránh xa sự nói lời vô ích, sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả tái sinh làm người, thì người ấy được hưởng những quả báu của giới tránh xa sự lời nói vô ích như sau: 1- Có nhiều người tin theo lời nói của mình. 2- Có nhiều người thương yêu, quý mến. 3- Có nhiều người kính trọng. 4- Có thể nói cho người khác tin theo. 5- Là người sống hạnh phúc an lạc. 6- Là người có nhiều quyền lực. 7- Là người có nhiều trí tuệ, có khả năng đối đáp nhanh nhẹn. Nói Lời Vô Ích Nói lời vô ích (niratthakathā) là nói những lời không đem lại sự lợi ích. Trong kinh Sāmaññaphalasutta [1] Đức Phật thuyết giảng có 32 chuyện không đem lại sự lợi ích giải thoát khổ gọi là Tiracchānakathā, đó là: 1- Rājakathā: Nói chuyện về Đức vua, Hoàng tộc,... 2- Mahāmattakathā: Nói chuyện về các quan trong triều đình, trong Chính phủ. 3- Corakathā: Nói chuyện về bọn trộm cướp. 4- Senākathā: Nói chuyện về quân đội. 5- Bhayakathā: Nói chuyện về tai họa. 6- Yuddhakathā: Nói chuyện về chiến tranh. 7- Annakathā: Nói chuyện về vật thực: Cơm, gạo,... 8- Pānakathā: Nói chuyện về đồ uống. 9- Vatthakathā: Nói chuyện về vải, quần áo. 10- Mālākathā: Nói chuyện về các loại hoa, vòng hoa. 11- Sayanakathā: Nói chuyện về chỗ nằm, chỗ ở. 12- Ghandhakathā: Nói chuyện về mùi thơm, dầu thơm. 13- Ñātikathā: Nói chuyện về bà con, dòng họ. 14- Yānakathā: Nói chuyện về xe cộ. 15- Gāmakathā: Nói chuyện về xóm làng. 16- Nigamakathā: Nói chuyện về quận, huyện. 17- Nagarakathā: Nói chuyện về thành phố. 18- Janapadakathā: Nói chuyện về vùng quê, ngoại thành. 19- Itthikathā: Nói chuyện về đàn bà. 20- Purisakathā: Nói chuyện về đàn ông. 21- Kumārakathā: Nói chuyện về những chàng trai. 22- Kumārīkathā: Nói chuyện về những cô gái. 23- Surakathā: Nói chuyện về sự can đảm. 24- Visikhākathā: Nói chuyện về đường xá. 25- Kumbaṭṭhānakathā: Nói chuyện về bến nước. 26- Pubbapetakathā: Nói chuyện về bà con đã qua đời. 27- Nānattakathā: Nói những chuyện nhảm nhí. 28- Lokakkhāyika: Nói chuyện về thế giới tạo thiên lập địa. 29- Samuddakkhāyika: Nói chuyện về đại dương. 30- Itibhavābhavakathā: Nói chuyện về kiếp nhỏ, kiếp lớn luân hồi. 31- Araññakathā: Nói chuyện về rừng. 32- Pabbatakathā: Nói chuyện về núi,... * 10 Chuyện Có Ích (Kathāvatthu) [2] Đức Phật dạy có 10 chuyện nên nói đem lại lợi ích, đó là: 1- Appicchakathā: Nói chuyện về ít tham muốn. 2- Santutthikathā: Nói chuyện về biết tri túc. 3- Parivekakathā: Nói chuyện về hoan hỷ ở nơi thanh vắng. 4- Asaṃsaggakathā: Nói chuyện về sự sống không chung đụng nhiều người, nên sống riêng rẽ một mình. 5- Vīriyārambhakathā: Nói chuyện về sự cố gắng tinh tấn giải thoát khổ. 6- Sīlakathā: Nói chuyện về giới trong sạch và trọn vẹn. 7- Samādhikathā: Nói chuyện về định vững chắc. 8- Paññākathā: Nói chuyện về tuệ thấy rõ chân lý Tứ Thánh Đế. 9- Vimuttikathā: Nói chuyện về giải thoát khỏi phiền não. 10- Vimuttiñāṇadassanakathā: Nói chuyện về tri kiến giải thoát phiền não. Đó là 10 chuyện nên nói, nên đàm đạo. * Hai phận sự nên hành Đức Phật khuyên dạy chư Tỳ khưu rằng: ─ “Sannipatitānaṃ vo bhikkhave dvayaṃ karaṇīyaṃ dhammī vā kathā ariyo vā tuṇhibhāvo” [3]. “Này chư Tỳ khưu, đối với các con khi gặp mặt nhau có 2 việc nên làm là: Nói đúng pháp, hoặc nên im lặng như bậc Thánh”. * Trường hợp Đức Phật thuyết pháp Đức Thế Tôn tùy thời thuyết pháp chân lý chắc chắn đem lại sự lợi ích cho chúng sinh, nếu không đem lại sự lợi ích, thì Đức Thế Tôn không thuyết pháp. Đức Thế Tôn biết rõ 6 trường hợp, trường hợp nào nên thuyết giảng và trường hợp nào không nên thuyết giảng như sau: ─ Đức Thế Tôn biết rõ pháp nào không chân thật, không đem lại sự lợi ích, người nghe không hài lòng, không hoan hỷ. Ngài không thuyết giảng pháp ấy. ─ Đức Thế Tôn biết rõ pháp nào không chân thật, không đem lại sự lợi ích, dù người nghe hài lòng, hoan hỷ. Ngài không thuyết giảng pháp ấy. ─ Đức Thế Tôn biết rõ pháp nào chân thật, nhưng không đem lại sự lợi ích, dù người nghe hài lòng, hoan hỷ. Ngài không thuyết giảng pháp ấy. ─ Đức Thế Tôn biết rõ pháp nào chân thật, nhưng không đem lại sự lợi ích, người nghe cũng không hài lòng, không hoan hỷ. Ngài không thuyết giảng pháp ấy. ─ Đức Thế Tôn biết rõ pháp nào chân thật và đem lại sự lợi ích, nhưng người nghe không hài lòng, không hoan hỷ. Ngài biết tùy nơi, đúng lúc sẽ thuyết giảng pháp ấy. ─ Đức Thế Tôn biết rõ pháp nào chân thật và đem lại sự lợi ích, người nghe cũng hài lòng, hoan hỷ. Ngài biết tùy nơi, đúng lúc sẽ thuyết giảng pháp ấy. Nhận Xét Về 7 Giới 3 điều giới đầu liên quan đến sự sát sinh, sự trộm cắp và sự tà dâm có thể bị phạm do thân và khẩu; nhưng phần nhiều bị phạm do thân, cho nên phạm 3 điều giới này thuộc về thân ác nghiệp hoặc thân hành ác cũng gọi là tà nghiệp. 4 điều giới tiếp theo liên quan đến sự nói dối, sự nói lời chia rẽ, sự nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) và sự nói lời vô ích; có thể bị phạm do khẩu và thân, nhưng phần nhiều bị phạm do khẩu, cho nên phạm 4 điều giới này thuộc về khẩu ác nghiệp hoặc khẩu hành ác cũng gọi là tà ngữ. Điều Giới Thứ 8 Micchājīvā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi. * Nghĩa phân tích chữ: ─ Micchājīvā Þ Micchā + ājīvā + Micchā: Sai lầm, tà. + Ājīvā: Sinh mạng. ─ Veramaṇisikkhāpadaṃ Þ Veramaṇī + sikkhāpadaṃ. + Veramaṇī: Tác ý tránh xa. + Sikkhāpadaṃ: Điều giới, giới. ─ Samādiyāmi: Con xin thọ trì. Micchājīvā: Sống bằng tà mạng. * Nghĩa tổng hợp: Con xin thọ trì điều giới, có tác ý tránh xa cách sống tà mạng. Giảng Giải Về Sự Tránh Xa Cách Sống Tà Mạng Micchājīvā: Sống tà mạng, nghĩa là nuôi mạng bằng thân hành ác, khẩu nói ác. ─ Thân hành ác là sát sinh, trộm cắp, tà dâm gọi là tà nghiệp. ─ Khẩu nói ác là nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc), nói lời vô ích gọi là tà ngữ. Người nào sống bằng những thứ vật dụng như y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh... là những thứ nhu cầu cần thiết cho cuộc sống được tạo ra bằng tà nghiệp (thân hành ác), tà ngữ (khẩu nói ác), thì người ấy được gọi là sống tà mạng (micchājīvā). Và người sống bằng tà mạng do làm 5 nghề buôn bán như: 1- Satthavāṇijjā: Làm nghề buôn bán vũ khí giết hại chúng sinh. 2- Sattavāṇijjā: Làm nghề buôn bán người để làm nô lệ, làm tôi tớ. 3- Maṃsavāṇijjā: Làm nghề giết gia cầm, gia súc để bán thịt. 4- Majjavāṇijjā: Làm nghề buôn bán các chất say như rượu, thuốc phiện, ma túy, thuốc lá,... 5- Visavāṇijjā: Làm nghề buôn bán các loại thuốc độc giết hại chúng sinh (người, các loài vật,...). Và các nghề cờ bạc, nghề cá độ ăn thua,... người nào sống bằng những thứ của cải được tạo ra do những nghề bất lương như vậy, thì người ấy được gọi là sống bằng tà mạng. Vấn: Điều giới tránh xa cách sống tà mạng, sống bằng chánh mạng như thế nào? Đáp: Người nào sống bằng chánh mạng là sống bằng những thứ của cải được tạo ra một cách hợp pháp, là tránh xa tà nghiệp (thân hành ác); tránh xa tà ngữ (khẩu nói ác); tránh xa 5 nghề buôn bán làm khổ chúng sinh; tránh xa nghề cờ bạc, nghề cá độ ăn thua,... Sống bằng chánh nghiệp, chánh ngữ, thì người ấy được gọi là sống bằng chánh mạng. Vấn: Trước kia, một người chưa hiểu biết cách sống bằng chánh mạng, mà sống bằng tà mạng. Người ấy đã tạo ra những của cải bằng tà nghiệp do thân hành ác; bằng tà ngữ do khẩu nói ác; bằng nghề buôn bán bất lương làm khổ chúng sinh, v.v... Về sau, được nghe chánh pháp, hiểu biết chánh pháp, người ấy đã tránh xa cách sống tà mạng, đã từ bỏ cách sống tà mạng, sống bằng chánh mạng. Nhưng những của cải sự nghiệp như nhà cửa ruộng đất, những thứ vật dụng, đồ dùng, v.v... đã có trước kia được tạo ra bằng tà nghiệp do thân hành ác; bằng tà ngữ do khẩu nói ác; hoặc bằng nghề buôn bán bất lương làm khổ chúng sinh. Như vậy, người ấy có thể tiếp tục sử dụng những thứ của cải bất hợp pháp ấy được không? Nếu người ấy sử dụng những thứ của cải bất hợp pháp ấy, thì có g |