|
BuddhaSasana Home Page |
Vietnamese, with Unicode Times font |
PATICCASAMUPPADA
KINH DUYÊN SINH
Soạn giả:
Đặng Huy Hoàng
Phật Lịch: 2550 - Dương Lịch: 2006
- ooOoo- Namo tassa Bhagavato Arahato Sammàsambuddhassa Con đem hết lòng thành kính cúi đầu làm lễ Đức Bhagavà, Ngài là bậc Arahan cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri, do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy.(3 lần). * KHAI BÚT Không là Thi Sĩ, không là Văn Sĩ, không là Đạo Sĩ, và cũng không là Tu sĩ, mà chỉ là một Nghệ Sĩ chân chánh, một Phật tử với đầy lòng yêu thương Đấng Từ Phụ, Đấng Cha lành, con đã rơi lệ vì cảm nhận được một sự hy sinh vô bờ bến của Ngài, lòng Từ Bi vô lượng vô biên của Ngài đối với tất cả chúng sanh, Ngài không quảng ngại bao gian khổ, bao truân chuyên không ngoài mục đích cứu độ chúng sanh thoát khỏi sông mê bể khổ. Con xin dập đầu đãnh lễ tri ân Ngài vạn vạn lần, không có Ngài con sẽ mãi đắm chìm trong vũng lầy nhơ nhuốt. Nhờ vào giáo pháp thậm thâm vi diệu của Ngài đã soi sáng cho con biết đâu là bờ mê, đâu là bến giác, con xin toàn thân cúi rạp đãnh lễ giáo pháp của Ngài. Nhờ vào Chư Thánh Tăng, Phàm tăng đệ tử của Ngài đã từ bi chỉ đường dẩn lối cho con biết đâu là đường ngay nẻo chánh, con xin cuối đầu đãnh lễ Chư Thánh Tăng và Phàm Tăng đó. Nhớ lại lời vàng của Đấng Từ Phụ thuyết rằng:“ Ai thấy được lý duyên khởi, người đó thấy pháp, ai thấy được pháp, người đó thấy được lý duyên khởi" Đầy lòng hoan hỷ với câu pháp trên, con, với trí tuệ và sự hiểu biết nông cạn mạo muội biên soạn quyển sách nói về Lý Duyên Khởi nầy ước mong trong khi viết sẽ phát sanh được trí tuệ thấy được lý duyên khởi nầy và cũng mong rằng sau khi hoàn tất xong, những ai hữu duyên đọc được, trí tuệ phát sanh đến với quý vị , phần phước nầy xin nguyện chảy vào cho tất cả chúng sanh trong tam giới muôn loài mãi đầy tràn không dứt. Là một cư sĩ với đầy bận bịu trong cuộc sống, do vậy nếu có gì sơ thất cúi xin các bậc cao nhân niệm tình hỷ xả cho. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Indianapolis, October 20, 2005 - ooOoo CẢM HỨNG Tuần Lễ Đầu Tiên (sau khi Đức Phật Thành Đạo) Trong suốt thời gian bảy ngày đầu, sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài ngồi tỉnh lặng dưới tàng cây Bồ Đề để chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát (Vimutti Sukha). Và trong đêm cuối của tuần, Ngài xuất thiền và suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên (Paticca Samuppada, Duyeân Sinh) theo chiều xuôi như sau: "Khi có cái (nhaân) này , thì cái (quaû) naày có. Với sự phát sanh của cái này (nhân), cái naày(quả) phát sanh". - Tùy thuộc nơi Vô Minh (avijja), Hành (samkhara), thiện và bất thiện, phát sanh - Tùy thuộc nơi Hành, Thức (vinnana) phát sanh ... Lúc bấy giờ đã thấu hiểu ý nghĩa của điều này, Đức Thế Tôn đọc lên bài kệ hoan hỷ như sau: "Quả thật vậy, khi các Chân Lý phát hiện hiển nhiên đến bậc thánh nhân (Brahmana) đã kiên trì cố gắng và suy niệm thâm sâu, bao nhiêu hoài nghi đều tan biến vì vị này đã thấu triệt chân lý cùng với các nguyên nhân". Khoảng canh giữa trong đêm, Đức Phật suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên theo chiều ngược như sau: "Khi nguyên nhân này không còn thì hậu quả này cũng không còn. Với sự chấm dứt của nhân này, quả này cũng chấm dứt". - Với sự chấm dứt của Vô Minh, Hành chấm dứt. - Với sự chấm dứt của Hành, Thức chấm dứt... Lúc bấy giờ đã thấu hiểu ý nghĩa của điều này, Đức Thế Tôn đọc lên bài kệ hoan hỷ như sau: "Quả thật vậy, khi các Chân Lý phát hiện hiển nhiên đến bậc thánh nhân (Brahmana) đã kiên trì cố gắng và suy niệm thâm sâu, bao nhiêu hoài nghi đều tan biến vì vị này đã thấu triệt sự tận diệt các nguyên nhân". Đến canh ba, Đức Thế Tôn suy niệm về pháp "Tùy Thuộc Phát Sanh" theo chiều xuôi và chiều ngược như sau: "Khi nhân này có, thì quả này có. Với sự phát sanh của nhân này, quả này phát sanh. khi nhân này không có thì quả này không có. Với sự chấm dứt này, quả này chấm dứt." - Tùy thuộc nơi Vô Minh, Hành phát sanh v.v... Như thế ấy, toàn thể khối đau khổ phát sanh. - Với sự chấm dứt của Vô Minh, Hành chấm dứt v.v... Lúc bấy giờ đã thấu hiểu ý nghĩa của điều này, Đức Thế Tôn đọc lên bài kệ hoan hỷ như sau: "Quả thật vậy, khi các Chân Lý phát hiện hiển nhiên đến bậc thánh nhân (Brahmana) đã kiên trì cố gắng và suy niệm thâm sâu, thì Ngài vững vàng phá tan vây cánh cửa của Ma Vương cũng như ánh sáng thái dương phá tan đêm tối và rọi sáng bầu trời". - ooOoo- Kinh Duyên Sinh
Dependent on Ignorance arise Conditioning Activities. Tùy thuộc nơi Vô Minh phát sanh Hành. Đó là trọn vẹn các yếu tố cấu thành đau khổ. Avijjāya tveva asesa virāganirodhā
sankhāranirodho The complete cessation of Ignorance leads to the cessation of
Conditioning Activities. Tận diệt Vô Minh dẫn đến chấm dứt Hành. Đó là chấm dứt hậu quả của các yếu tố cấu thành Đau Khổ. - ooOoo- Duyên Sinh (Paticcasamuppàda) Paticca: bởi do,bởi lẽ, bởi vì; Samuppàda: phát sinh, phát xuất, phát khởi. Paticcasamuppàda: do bởi lẽ đo mà phát sinh ra, tuỳ thuộc bởi..phát sinh ra hay còn gọi là duyên sinh. Có câu Pali như vầy: Paccayam paticcasamuppajjatiti: Paticcasamupado. Cái gì sanh ra được do nhờ bởi duyên thì được gọi là Duyên Sinh. Một câu Pali khác nữa: imasmimsati,idam hoti; imasmim asati, idam nahoti: cái này có, cái kia có; nếu cái này không, cái kia không. Do vậy, ý nghĩa nầy áp dụng cho toàn thể công thức, trong đó bao gồm mười hai nhân và quả liên quan với nhau, gọi là Paccaya & paccayuppanna. I- Avijj āpaccayā sankhārā: Vô Minh duyên HànhVô Minh được nói lên trước tiên cần được hiểu là sự phát khởi toàn bộ hệ thống Duyên sinh nầy. Đức Thế tơn dạy:"Và này các tỷ kheo, duyên khởi là gì? Vô minh duyên (= làm điều kiện cho) Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Sáu nhập, Sáu nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên già chết, sầu bi khổ ưu não; như vậy có sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Ðây, này các tỷ kheo, gọi là duyên khởi." (Thanh Tịnh Đạo). Một lối trình bày khác là Vô Minh hiện khởi từ 4 Lậu(dục- hữu- kiến- vô minh), do có 4 Lậu, Vô Minh hiện khởi, 4 Lậu diệt, Vô Minh diệt. Trong kinh Chánh Tri Kiến, Tôn Giả Sariputta có thuyết như vầy: Chư Hiền, thế nào là vô minh, thế nào là tập khởi của vô minh, thế nào là đoạn diệt của vô minh, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh? Sự không tuệ tri về khổ, không tuệ tri về khổ tập, không tuệ tri về khổ diệt, không tuệ tri về con đường đưa đến khổ diệt, Chư Hiền, như vậy gọi là vô minh. Từ tập khởi của lậu hoặc, có tập khởi của vô minh; từ đoạn diệt của lậu hoặc, có đoạn diệt của vô minh; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh. Avijjā, Vô Minh. (Ignorance) Có câu Pali như vầy:Antavirahite samsàre satte javàpeti - Cái gì làm nguyên nhân cho chúng sanh mãi mãi lăn trôi theo vòng luân hồi vô tận, là Vô Minh. Vô: không, Minh: sáng; Vô Minh: không sáng suốt, không hiểu biết, không nhận chân ra được sự thật của vạn hữu, nghĩa là thế gian Vô Thường- Khổ- Vô Ngã mà cho là Thường- Lạc- Ngã (linh hồn, tự ngã). Chính vì thế, Vô Minh trở thành nguyên nhân làm cho chúng sanh trôi nổi trong vòng sinh tử, tử sinh. Theo Vi Diệu Pháp, Vô Minh tức Tâm sở Si, một trong 14 Tâm sở Bất Thiện . Moha, Si: Xuất nguyên từ căn “muh”, mê mờ, lầm lạc. Moha chính làcội nguồn, là căn gốc luôn có mặt trong các Tâm Bất Thiện hay nói cách khác, Moha chính là một trong ba nhân bất thiện ( Tham- Sân- Si). Trong Bộ Phân Tích có định nghĩa như vầy:"Sự không hiểu về khổ, sự không hiểu về khổ tập, sự không hiểu về khổ diệt, sự không hiểu về khổ diệt hành lộ. Đây gọi là Vô Minh." Do vậy, chính vì không biết, không hiểu sự thật của vạn pháp nên Hành phát sanh. Sankhārā, Hành: Cái gì, tạo thành, tạo sanh, tạo tác hay cái gì tạo nên những cái được tạo, đó chính là Hành. Pháp bản thể của Hành chính là Tâm Sở Tư. Cetanà, tức Tư tâm sở, một trạng thái cố ý làm,quyết ý làm, cố tâm... Cetana chi phối và quyết định mọi hành , đôn đốc xúi giục các pháp, làm cho các pháp cùng sanh nắm bắt cảnh, và hoàn tất nhiệm vu. là sắp đặt các pháp đồng sanh làm theo được. Nhân gần làphải có Thọ- Tưởng và Thức. Hành có 3: A- Phi phúc hành (Apuddbhisamkhara): Tâm sở Tư phối hợp cùng các tâm sở tương ưng đồng sanh khởi 1 trong 12 Tâm Bất Thiện xui khiến: Thân: Sátsanh (pànàtipàta).Trộm cắp (adinndna), tà hạnh trong dục lạc (kàmesumicchàcàrà). Khẩu: Nói dối(musàvàda), Nói ly gián (pisunàvàcà), Nói độc ác(pharusavàcà), Nói phù phiếm (samphappalàpa). Tâm: Tham lam (abhijjhà), Sân hận (bỳapàda), Tà kiến (micchàditthi). Từ đó chúng sẽ tạo ra các Tâm Quả Bất thiện và Sắc nghiệp Bất Thiện. B- Phúc hành (Punnàbhisamkhàrà): Tâm sở Tư cùng các tâm sở tương ưng đồng sanh 1 trong 8 Thiện Dục Giới, 5 Thiện Sắc Giới vàsẽ tạo ra các Tâm Quả Thiện Dục Giới, Tâm Quả Thiện Sắc Giới và sắc nghiệp thiện. C- Bất Động Hành (Annejàbhisamkhàrà): Tâm sở Tư cùng các Tâm sở tương ưng đồng sanh 1 trong 4 Tâm Thiện Vô Sắc Giới và sẽ tạo ra các Tâm Quả Vô Sắc Giới. TÂM BẤT THIỆN (Akusalà Citta) Akusala – bất thiện có năm nghĩa: bịnh hoạn (rogyattha), không tốt đẹp (asundarattha), không khéo léo (achekattha), có sai lỗi (savajjattha), có quả khổ (dukkhavipàkattha). Citta- Tâm:căn từ "citti";suy nghĩ, hay biết (cinteti = vijànàti), nhận biết sự hiện hữu của đối tượng. Tâm, ở đây chỉ có nghĩa là Biết đơn thuần chưa có pha lẩn thiện hay bất thiện ... Như vậy, Akusala Citta có nghĩa là: sự biết đối tượng trong đó có mang trạng thái bịnh hoạn, không tốt đẹp, không khéo... là nhân cho quả khổ. Pali chú giải: Akusalehi yuttanti = Akusalam: hợp với các pháp chẳng lành = là bất thiện; hoặc Na kusalam = Akusalam: không tốt đẹp = là bất thiện. 12 Tâm Bất Thiện: 8 Tâm Tham – 2 Tâm Sân – 2 Tâm Si (Atthadhā lobhamūlāni - - dosamūlani ca dvidhā- - Mohamulāni ca dve'ti - - dvādasākusalā siyum.) 8 Tâm Tham: (Atthadhā lobhamūlāni) 1- Tâm Tham, Hỷ thọ, ưng Tà, vô trợ 2- Tam Tham, Hỷ thọ, ưng Tà, hữu trợ 3- Tâm Tham, Hỷ thọ, phi ưng Tà, vô trợ 4- Tâm Tham, Hỷ thọ, phi ưng Tà, hữu trợ 5- Tâm Tham, Xả thọ, ưng Tà, vô trợ 6- Tâm Tham, Xả thọ, ưng Tà, hữu trợ 7- Tâm Tham, Xả thọ, phi ưng Tà, vô trợ 8- Tâm Tham, xả thọ, phi ưng Tà, hữu trợ Pali: 1) Somanassa- sahagatam, ditthigatasampayuttam asankhārikam
ekam. Imāni attha'pi Lobhasahagatacittāni nāma. (tptyl) 2 Sân: (dosamūlani ca dvidhā) 1- Tâm Sân, Ưu thọ, ưng Hận, vô trợ 2- Tâm Sân, Ưu thọ, ưng Hận, hữu trợ Pali: Domanassasahagatam patighasampayuttam asankhàrikamekam, sasànkhàrikamekamekam ti imàni dvepi patighacittàni nàma.(tptyl) 2 Tâm si: (Mohamulāni ca dvidhā) 1- Tâm Si, Xả thọ, ưng Nghi 2- Tâm Si, Xả thọ, ưng Trạo Pali: Upekkhàsahagatam vicikicchàsampayuttamekam, upekkhàsahagatam uddhaccasampayuttamekam ti dve pi momùhacittàni nàma. Iccevam sabbathà pi dvàdasàkusalacittàni samattàni.(tptyl) Chú thích: Tâm Tham, Lobhamùla citta; Trong bộ Atthakathà: Cittạm lubhatiti lobha cittam: Tâm ái nhiểm gọi là Tâm Tham. Vậy, Tâm Tham cần được hiểu là một trạng thái "biết" trong đó có sự ái nhiểm, dính mắc vào đối tượng.(sắc- thinh- hương- vị- xúc- pháp). Tâm Sân (Dosamùla Citta): một trạng thái trái ý nghịch lòng, bất bình, bất toại nguyện, bực bội khó chịu... Tính chất của tâm Sân là huỷ diệt đối tượng, nếu tâm Tham là ôm ấp gìn giữ đối tượng thì tâm Sân là đẩy đối tượng ra, tiêu trừ đối tượng. Tâm Si (Mohamùla Citta): một trạng thái tâm u mê tối tăm, thiếu sáng suốt, mù quáng, sai lầm...vì không hiểu rõ chân tướng sự vât. Thọ, Vedanà: có 3 loại: Lạc – Kho - Xả (phân theo kinh); có 5 loại: Hỷ – Lạc – Khổ – Ưu - Xả (a tỳ đàm). Lạc và Khổ thuộc về Thân; Hỷ và Ưu thuộc về Tâm. Đây là bài kệ tóm tắt các loại thọ (có 3, hay 5) và số lượng các tâm câu hữu với lạc, khổ, ưu, hỷ và xả. Sukham dukkham upekkhàti tividhà tattha vedanà. Thọ, tức cảm giác hay cảm thọ, một trong bảy tâm sở thuộc tâm sở biến hành, luôn có mặt trong tất cả loại tâm. "Vedayatīti = vedanā: Hưởng cảnh gọi là thọ". Hỷ thọ (Somanassavedanà): trạng thái hoan hỷ, hân hoan, dể chịu, hài lòng.. khi tiếp nhận đối tượng vừa ý,hài lòng. Khi có sự vui vẽ, hoan hỷ hớn hở nơi tâm thì khi đó có Hỷ thọ. Lạc thọ (Sukhavedanà): khi có cảm giác khoái lạc, thoả thích nơi thân xúc chạm thì khi đó có Lạc thọ. Khổ thọ (Dukhavedanà): sự khổ đau, nhứt nhối, cảm giác khó chịu, khó ưa thích nơi thân khi xúc chạm...thì khi đó có Khổ thọ. Ưu thọ (domanassavedanà): một trạng thái ưu phiền, buồn bực, sầu lo..khi tâm gặp đối tượng không như ý. Xả thọ (Upekkhavedanà): cảm giác không hỷ không ưu, không lạc không khổ. Một trạng thái không vui không buồn, bình thản khi tiếp nhận đối tượng hay còn gọi là Phi khổ phi lạc. Tà kiến (ditthi): từ ngữ căn “dis” nghĩa là thấy, nhận thức. Nhưng ở đây, từ nầy nói lên một sự nhận thức sai lệch, trái với sự thật. Vô thường cho là Thường, Khổ cho là Lạc, Vô Ngã cho là Ngã, Thiện cho là Bất thiện, Tham cho là tốt, sát hại cho là phải lẽ, khổ hạnh ép xác, cúng tế, chay mặn... Vô trợ (Asankhàrikam): khi làm việc một cách tự nhiên nhanh chóng, không đợi đến sự thúc đẩy của người khác, thì được gọi là Vô trợ, còn ngược lại là Hữu trợ (sasankhàrikam). Hận (Patigha): Pati: là đối, Gha: là đánh chạm nhau. Sân là trạng thái tức tối khó chịu thì Hận muốn công kích phá huỷ đối phương. Hoài Nghi (Vicikicchà): trạng thái phân vân lưởng lự, không quyết đoán, nghi ngờ. Pàli có chú giải: "Vichikicchàtìti"= do dự là hoài nghi". Vicikichà. Vici: là tìm hiểu. Kicchati: là chán nản, mệt mỏi, chán nản vì tìm hiểu không có kết quả. Lại có nghĩa khác, Vi là không có, Cikicchà: thuốc đối trị, thiếu thuốc đối trị của hiểu biết. Vậy, vicikicchà có nghĩa làchán nản tìm hiểu vì mệt mỏi do không có kết quả và thiêú thuốc chữa, tức thuốc chánh trí. Trạo hay Trạo cử (Uddhacca): ngữ căn U (trên) + Dhu: giao động nổi lên, hoặc Uddhacca: U nghĩa là cùng khắp + Dhu nghĩa là rung động.Vậy, Trạo cử với ý nghĩa là có sự giao động mạnh, sự nổi sóng, sự bấn loạn, sự tán tâm.. Khi nào tâm có sự chạy nhảy tán loạn, khi đó có Trạo cử. 12 Tâm Bất Thiện lược giải: 1- khi nào có trạng thái Tham "ham muốn" sanh khởi trong tâm đồng thời có cảm giác vui thích, thoả thích (hỷ thọ), cùng với sự hiểu sai, chấp quấy (tà kiến), và được sanh khởi một cách mau chóng không do dự (vô trợ.) 2- như tâm Tham thứ 1, nhưng khác chi cuối là có sự suy nghĩ do dự hay có người xúi bảo, thúc giục (hữu trợ) 3- có Tham, có Hỷ, khởi nhanh lẹ nhưng không hợp Tà Kiến (phi ưng Tà) 4- có Tham, có Hỷ, không hợp Tà Kiến, khởi sanh chậm chạp, do dự hoặc có sự xúi bảo, thúc đẩy của người khác. (hữu trợ). 5- Như tâm 1, nhưng thuộc Xả Thọ; một trạng thái thản nhiên, không vui cũng không buồn. 6- Như tâm 2, nhưng thuộc Xả Thọ 7- Như Tâm 3, Xả Thọ. 8- Như Tâm 4, Xả Thọ. Đó là 8 Tâm Tham, 4 Hỷ, 4 Xả, 4 ưng Tà,4 phi ưng Tà, 4 vô trợ, 4 hữu trợ. 9- khi có sự nóng giận, bất bình, tức tối, ưu phiền sanh khởi nhanh chóng (vô trợ) trong tâm thì khi đó có cảm giác ưu buồn (Ưu thọ) tương ưng Hận, phẩn nộ 10- như tâm 9, nhưng hữu trợ. 11- khi có sự mờ ám, si mê cùng với sự lưởng lự, phân vân của tâm, khi đó có tâm Si Hoài Nghi. Sự hoài nghi ở đây cần phải được hiểu là sự hoài nghi có thể sanh hậu quả tai hại như hoài nghi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng, hoài nghi Tam Học (giới, định, tuệ), hoài nghi Tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai về cái ta), hoài nghi lý Duyên sinh (sự luân hồi sanh tử, sự hiện hữu hay không hiện hữu của chúng sanh ...) 12- khi nào có sự chao đảo, loạn động tối tăm của tâm, khi đó có tâm Si Phóng Dật. TÂM THIỆN (Kusalà Citta) Kusala, Thiện có 5 nghĩa: Không bệnh hoạn (Àrogya) – tốt đẹp (sundara) – khôn khéo (cheka) – không lỗi lầm (anavajja) – có quả vui (sukha vipàka). Như vậy, Tâm Thiện là trạng thái Biết trong đó có sự tốt đẹp không bệnh hoạn, khôn khéo, không lỗi lầm và là nhân cho quả vui. Pali chú giải: Kucchite pàpadhammesala yati kampeti vidhamsetì ti = Kusalà: làm cho các ác pháp phải bị trừ diệt là thiện; hay pháp nào phá vở, đánh đo, chuyển đổi các ác pháp gọi là thiện. Tâm Thiện Dục Giới Tịnh Hảo Hữu Nhân (Kusalakàmavacaracitta): có 8 tâm 1- Tâm Thiện, Hỷ thọ, ưng Trí, vô trợ 2- Tâm Thiện, Hỷ thọ, ưng Trí, hữu trợ 3- Tâm Thiện, Hỷ thọ, phi ưng Trí, vô trợ 4- Tâm Thiện, Hỷ thọ, phi ưng Trí, hữu trợ 5- Tâm Thiện, Xả thọ, ưng Trí, vô trợ 6- Tâm Thiện, Xả thọ, ưng Trí, hữu trợ 7- Tâm Thiện, Xả thọ, phi ưng Trí, vô trợ 8- Tâm Thiện, Xả thọ, phi ưng Trí, hữu trợ Pali: Somanassasahagatam nànasampayuttam asankhàrikamekam, sasankhàrikamekam. Somanassasahagatam nànavippayuttam asankhàrikamekam sasankhàrikamekam. Upekkhàsahagatam nànasampayuttam asankhàrikamekam sasankhàrikamekam. Upekkhàsahgagatam nànavippayuttam asankhàrikamekam sasankhàrikamekam ti imàni attha pi kàmàvacarakusalacittàni nàma.(tptyl) Chú thích: Trong 8 Tâm Thiện có sự khác biệt về Thọ (hỷ, Xả), tương ưng Trí, không tương ưng Trí, vô trợ và hữu trợ. Trí Tuệ (Paññā): Trạng thái sáng suốt, sự hiểu biết sự vật đúng với lẽ thật (chân lý).Với ngữ căn Pa: đứng đắn + nà: biết. Sự biết một cách đúng đắn là Trí Tuệ. Đặc tánh của Tuệ là hiểu biết sự việc đúng như chân như thật. Trí Tuệ có năng lực là chế ngự và phá tan màn Vô Minh nên còn được gọi là Tuệ Quyền. Trong Bộ Pháp Tụ, Tuệ Quyền được diễn đạt như sau: Thế nào là tuệ quyền trong khi ấy? "Trong khi ấy, pháp là trí hiểu biết, hiểu rõ, lựa chọn, cân nhắc, trạch pháp, tham khảo, phân định, khảo sát, thông thái, rành mạch, khôn ngoan, sáng suốt, suy xét, nghiên cứu, minh mẫn, mẫn tiệp, hồi quang, quán minh, tỉnh giác, sắc sảo; tuệ là tuệ quyền tuệ lực, tuệ như vũ khí, tuệ như lâu đài, tuệ như ánh sáng, tuệ như hào quang, tuệ như ngọn đèn, tuệ như bảo vật, vô si, trạch pháp, chánh kiến, trạch pháp giác chi, chi đạo liên quan đạo. Ðây là tuệ quyền trong khi ấy." Đốivới Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), Trí (Ñāna), Tuệ (Paññā) và Vô Si (Amoha) có cùng một nghĩa như nhau. Trí Tuệ được tìm thấy trong các tâm Thiện hợp trí cũng như trong các tâm Quả, tâm Duy Tác hợp trí dục giới cùng với các tâm thuộc Sắc và Vô sắc. Đăc biệt , Trí Tuệ luôn có mặt trong tất cả các tâm Siêu Thế và làm nhiệm vụ là đâm thủng màn vô minh và chứng ngộ hay thấu đạt chân tướng của sự vật. Trong kinh Đại Duyên, thuộc Trường Bộ, Đức Phật thuyết về 44 pháp căn bản của Trí liên hệ dến 12 nhân duyên như sau: Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là 44 căn bản của Trí? Già Chết Trí – Già Chết Tập Trí – Già Chết Diệt trí – Trí về con đường đưa đến Già Chết diệt. Sanh Trí – Sanh Tập Trí – Sanh Diệt trí – Trí về con đường đưa đến Sanh diệt. Hữu Trí..., Thủ Trí..., Ái Trí..., Thọ Trí..., Xúc Trí..., Sáu xứ Trí..., Danh Sắc Trí..., Thức Trí..., Hành Trí... Nầy các Tỳ Kheo, nay là 44 căn bản Trí. 8 Tâm Thiện lược giải: 1- Trạng thái tâm tốt đẹp sanh khởi (thiện) đồng sanh có cảm giác vui vẻ, hoan hỉ (hỷ thọ), có sự sáng suốt biết rỏ việc thiện đang làm (Trí) và thực hiện một cách nhanh chóng (vô trợ). 2- Như tâm 1, nhưng hữu trợ. 3- Có tâm Thiện sanh cùng Hỷ thọ, khởi nhanh chóng nhưng không có Trí tuệ. 4- Như tâm 3, nhưng hữu trợ. 5- 6- 7- 8 như 1- 2- 3- 4; nhưng thuộc Xả Thọ, một trạng thái thản nhiên trong khi hành thiện sự công đức. Tâm Thiện Sắc Giới (Kusalarūpavacaracitta): Được định danh là Tâm Thiện sắc giới vì có 3 lý do như sau: 1- vì tâm này nương nơi đề mục Sắc pháp để làm đối tượng cho sự thành tựu thiền. 2- vì tâm này là nhân sẽ cho Quả tái sanh về Cõi Trời Sắc Giới và làm Phạm Thiên Sắc Giới. 3- vì kết quả thành tựu của các tâm nầy là cảnh giới thuộc Cõi Sắc Giới và Sắc ở nơi nầy là sắc tế, không thô như sắc thuộc Cõi Dục Giới. Có 5 Tâm Thiền Sắc Giới: 1. Tâm Thiện Sơ Thiền: có 5 chi: Tầm- Tứ- Hỷ- Lạc- Định 2. Tâm Thiện Nhị Thiền: có 4 chi: Tứ- Hỷ- Lạc- Định 3. Tâm Thiện Tam Thiền: có 3 chi: Hỷ- Lạc- Định 4. Tâm Thiện Tứ Thiền: có 2 chi: Lạc- Định 5. Tâm Thiện Ngủ Thiền: có 2 chi: Xã- Định. Pali: Vitakka- vicàra - pìtisukhekaggatàsahitam pathamajjhànakusalacittam. Vicàrapìtisukhekaggatàsahitam dutiyajjhàna- kusalacittam. Pìtisukhekaggatàsahitam tatiyajjhànakusalacittam. Sukhekaggatàsahitam catutthajjhànakusalacittam. Upekkhekaggatàsahitam pancamajjhànakusalacittam ceti imàni pancapi rùpàvacarakusalacittàni nàma.(tptyl) Chú Thích: Đồng hiện hữu với các tâm thiền có 5 Tâm Sở cực kỳ quan trọng, đó là các Tâm Sở: Tầm –Tư - Hy - Lạc - Định. Ngoài ra còn có rất nhiều tâm sở khác cùng sanh để hổ trợ bổ túc cho tâm được thành tựu tốt đẹp. Tầm (Vitakka): Từ ngữ căn “Vi” + “Takk” có nghĩa là Suy Nghĩ, suy tư, suy gẫm...Tầm ở trong tâm nầy có một trạng thái rất đặc biệt qua câu Pali sau đây: Àrammanam vitakketi sampayutta- dhamme abhiniropeti’ti vitakko; Đó là cái mà hướng những trạng thái cùng phát sanh đồng lúc về với đối tượng. Tầm ở đây đã được phát triển tương đối khá cao, nó trở thành 1 trong 5 chi thiền, do vậy, Tầm trong tình trạng nầy cần được hiểu là một trạng thái tâm sở làm phận sự là áp chặt các Tâm cùng Tâm sở quy trên một đối tượng duy nhất và có khả năng khắc chế hai tâm sở bất thiện là Hôn Trầm và Thuỵ Miên (Thìna- Middha), tức 1 trong 5 Triền Cái (Tham- Sân- Hôn Thuỵ- Trạo Hối- Nghi) hoặc còn được gọi là 5 chướng ngại của tinh thần. (Nìvarana). Tầm, bản chất của nó không phải là Thiện mà củng không là Bất Thiện, nhưng khi nó làm việc chung với pháp Bất Thiện thì nó trở nên bất thiện, chung với pháp Thiện thì nó trở thành Thiện, chung với các Tâm Thiền Sắc thì nó trở thành Chi Thiền và khi nó cộng trú chung với các Tâm Siêu Thế thì nó trở thành Chánh Tư Duy, tức một trong Bát Chánh Đạo. Trong Bộ Pháp Tụ có nói như vầy: Thế nào là tầm trong khi ấy? "Trong khi ấy, pháp là sự tìm cảnh, sự nghĩ ngợi, sự suy xét, sự chuyên chú, sự hướng tâm, sự đem tâm khắn khít cảnh, chánh tư duy, chi đạo liên quan đạo. Ðây là tầm trong khi ấy." Tứ (vicàra): "vi + car": có nghĩa là di chuyển, lang thang... Ở đây, Tứ cần được hiểu là quan sát liên tục trên một đối tượng duy nhất. Chi Tứ tạm thời khắc chế Hoài Nghi Cái (Vicikicchā). Thế nào là tứ trong khi ấy? "Trong khi ấy, pháp là sự gìn giữ, sự giám sát, sự bám sát, sự chăm nom, trạng thái khắn khít, trạng thái xem xét của tâm. Ðây là tứ trong khi ấy." (pt) Hỷ (Pìti): Căn "Pi" thích thú, hoan hỉ...Pìti ở đây là một tâm sở Hỷ chớ không phải là cảm thọ (vedana) như thọ Hỷ- Lạc. Do vậy, Pìti ở đây có chức năng đặc biệt là tạo nên những trạng thái vui sướng một cách riêng biệt. Có 5 loại Pìti: 1. Khuddaka Pīti, cái vui làm rùng mình, rởn óc, hay "nổi da gà". 2. Khanika Pīti, cái vui thoáng qua mau lẹ như trời chớp. 3. Okkantika Pīti, cái vui tràn ngập như sóng biển trườn lên bãi. 4. Ubbega Pīti, cái vui thanh thoát đem lại cho hành giả cảm giác nhẹ nhàng như bông gòn lững lơ bay theo chiều gió. 5. Pharana Pīti, cái vui thấm nhuần toàn thể châu thân như bong bóng được thổi phồng hay trận lục tràn lan làm ngập cả ao vũng. Thế nào là hỷ trong khi ấy? "Trong khi ấy, pháp là sự vui mừng, sự no vui, sự hân hoan, sự hỷ duyệt, sự hài lòng, sự vui vẻ, sự phấn khởi, sự thích thú, sự hoan hỷ của tâm, hỷ giác chi. Ðây là hỷ trong khi ấy." Lạc (sukha): Một cảm giác an lạc, yên tĩnh hay nói cách khác Lạc ở đây là một trạng thái đang hưởng cảnh an lạc thanh bình vắng lặng nơi tâm, không giống như cảm giác khoái Lạc được xúc chạm nơi Thân khi tiếp xúc vào đối tượng khả ái khả lạc. Chi Lạc có khả năng khống chế Trạo Hối Cái hay còn gọi là Phóng Dật và Lo âu. Pìti tạo cho tâm trạng thái hưng phấn vui thích còn Lạc tạo cho tâm một trạng thái an lạc thoả thích trong đối tượng. Có thí dụ như sau về 2 trạng thái Hỷ và Lạc nầy: Một người đi trên sa mạc đang mệt mỏi, chợt thấy xa xa có cây to bóng mát và ao hồ, lúc đó lòng phát sanh hoan hỷ trước khi được thọ hưởng (pìti), rồi khi đến tận nơi được hưởng thụ những giòng nước trong lành và nằm nghĩ dưới bóng mát của cây to, lúc đó thật sự là an lạc (sukha). Thế nào là lạc trong khi ấy? "Trong khi ấy, pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, sự dễ chịu thuộc về tâm, trạng thái cảm thọ dễ chịu, sảng khoái sanh từ tâm xúc, sư cảm giác sảng khoái dễ chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là lạc trong khi ấy." (pt) Định (Ekaggatà): Từ căn “eka+agga+tà" có nghĩa là trạng thái gom tâm vào một điểm duy nhất, an trụ vào một đối tượng duy nhất. Định khi hiện hữu trong các tâm bất thiện thì có thể gọi là Tà Định, nhưng khi được đặc vào trong pháp thiện và được phát triển đến cao độ như trong Thiền thì nó trở thành 1 trong 5 chi của Thiền Định có khả năng khắc chế Tham Dục Cái và khi nó hiện hữu trong Tâm Đạo thì trở thành Sammà Samàdhi (Chánh Định), một trong Bát Chi Đạo. Thế nào là nhất hành tâm trong khi ấy? "Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định, định giác chi, chi đạo liên quan đạo. Ðây là nhất hành tâm trong khi ấy." Xả (Upekkhà): Trạng thái vô tư, quân bình, không thiên về của Tâm. Xả trong tâm bất thiện hay tâm vô nhân thì chỉ là những cảm giác suông hay còn gọi là sự lãnh đạm không vui không buồn của tâm. Xả trong các tâm thiện củng có thể là cảm giác suông, quân bình nhưng không thể là lảnh đạm. Xả, đặc biệt trong trường hợp của tâm Thiền không thể được coi là loại cảm thọ vô ký suông mà đó là một loại cảm thọ được phát triển đến đỉnh cao của Thiền và qua sự nhận thức được sự thô kệch của chi Lạc trong Tứ thiền, muốn thành tựu Ngũ thiền phải loại trừ luôn chi Lạc nầy để đạt đến một trạng thái tế nhị tuyệt vời, bình an tĩnh lạc và đặc biệt hơn nữa là khi đắc ngũ thiền thì hơi thở cũng ngưng. Xả có ý nghĩa khác nhau là tuỳ loại Tâm mà Xả đồng chung cộng hưởng, chẳng hạn như Xả trong 6 Tâm Bất Thiện thì chỉ là cảm giác suông, còn trong các Tâm Quả thì mang tính trạng tiêu cực, trong các Tâm Thiện Dục Giới thì mang tính đạo đức, nếu trong Tâm hợp trí thì Xả thuộc tánh trí thức lẩn đạo đức, còn trong các Tâm Thiền thì Xả nầy có tánh thanh tịnh vô lượng, Xả vô lượng Tâm (Brahmavihārupekkhā) , và Xả một khi có mặt trong các Tâm Duy Tác (Alahán) thì thuộc đặc tánh Xả Tuệ vô lậu. Tâm Thiện Vô Sắc giới (kusala arùpavaccara citta): Những sự chứng đắc Thiền mà đối tượng của nó là Tâm pháp và chế định, loại trừ cảnh sắc vượt lên cảnh giới Vô Sắc, được gọi là Tâm Thiện Vô Sắc. Nói cách khác, Tâm nầy là Nhân sẽ cho Quả được sanh làm Phạm Thiên cõi vô sắc. Tâm Thiện Vô Sắc có 4: 1. Không Vô Biên xứ 2. Thức Vô Biên xứ 3. Vô Sở Hữu xứ 4. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ Pali: "Àkàsànancàyatanakusalacittam. Vinnànancàyatanakusalacittam. Àkincannàyatanakusalacittam. Nevasannànàsannàyatanakusalacittam ceti imàni cattàri pi arùpàvacarakusalacittàni nàma"(tptyl) Chú Thích: Tâm 1: Với sự thuần thục trong Thiền Sắc, khởi tâm nhàm chán sắc, muốn xả ly sắc và khởi ý đạt đến bậc thiền vô sắc; lấy Quang Tướng của thiền sắc, tập trung vào đề mục đó, rồi một điểm nhỏ như ánh sáng đom đóm xuất hiện từ quang tướng đó. Sau đó khởi tác ý cho ánh sáng lan tràn khắp hư không, rồi niệm: Akàsa ananto...Hư Không Vô Biên..., niệm như vậy cho đến khi tâm hoàn toàn an định vào đề mục đó. Sự lan tràn ánh sáng khắp hư không đó chỉ là khái niệm trừu tượng không thực có, do vậy nó chỉ là tục đế. Kasinagghatimàkàsa (hư không phát sanh từ Kasina). Tâm 2: chú tâm suy niệm: "Viññānam ananto ... Thức Vô Biên.., một loại suy niệm xét lại thiền thứ nhất, tức lấy Tâm Không vô biên làm đối tượng và an trú trên Tâm nầy rồi suy niệm Thức vô biên ...Thức là Tâm, do vậy nó thuộc cảnh chân đế. Tâm 3: Sau khi chứng đạt thiền thứ 2, lấy thiền thứ 1 làm đối tượng rồi một ý niệm khác được khởi lên: Natthi Kinci...không có chi(vô hữu...) cứ như vậy cho đến khi thành tựu tầng thiền nầy. Đề mục nầy do từ ý tạo. Nó không phải thực có nên không là pháp chân đế. Tâm 4: Vượt lên tầng cuối của thiền vô sắc, sau khi quán xét lại thiền thứ 3 "không có gì", nhưng cái mà nhận thức được “không có chi” lại là có. Do vậy, vì muốn vượt qua trang thái nầy chúng ta cần phải suy niệm rằng: "Satametam panitametam." Chẳng phải có tưởng, chẳng phải không có tưởng... Tâm nầy xét lại tâm trước thuộc quá khứ của chính nội thân nên thuộc cảnh nội và lấy Tâm vô sở hữu làm đối tượng nên là cảnh chân đế. Tâm nầy là tâm cuối của thiền vô sắc, một loại thiền chỉ cao nhất trong các tâm thiền hiệp thế. Tóm lại: Vô Minh duyên Hành, tức do Vô Minh làm điều kiện trợ cho tâm sở Tư cùng các tâm sở tương ưng đồng sanh với 1 trong các Tâm trên tạo nên Hành rồi từ đó tạo nên sự luân lưu tái sanh trong tam giới(dục giới, sắc giới, vô sắc giới). Nếu Vô Minh – Hành là Nhân Quá Khứ thì Thức – Danh Sắc – 6 Nhập – Xúc - Thọ là Quả hiện tại. Do vậy, Hành và Thức là 2 mối nối từ quá khứ sang hiện tại cần được hiểu như vậy. Vô Minh duyên Hành tính theo 24 Duyên Hệ (paccayo) thì có rất nhiều duyên trợ tạo, chẳng hạn như Vô Minh duyên Phi Phúc Hành có Nhân duyên (nhân Si), Cảnh duyên, Vô gián duyên, Hổ tương duyên... II- Sankhàra- paccayà vinnànam: Hành duyên Thức Hành như đã được nói ở trên, tức tâm sở Tư cùng hoạt động chung với các tâm sở tương ưng và các Tâm Thiện, Bất Thiện hiệp thế, từ đó tạo ra các Quả Tâm hiệp thế, như vậy là Thức Quả Tâm hiệp thế; hay nói cách khác, Thức ở đây được tạo ra do Hành là Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức. Đây được gọi là Thức do duyên bởi Hành. Tâm Quả Hiệp Thế: có 32 Tâm Tâm Quả Bất Thiện Vô Nhân: có 7 Tâm, phát sanh do bởi Phi phúc hành, tức 11 Tâm Bất Thiện (trừ Tâm Si Phóng Dật, không có khả năng tạo quả) 1. Nhãn Thức Xả Thọ Bất Thiện Tâm Quả, Vô Nhân 2. Nhĩ Thức 3. Tỹ Thức 4. Thiệt Thức 5. Thân Thức 6. Tiếp Thu Thức 7. Quan Sát Thức Tâm Quả Thiện Vô Nhân: có 8 tâm, phát sanh do Phúc Hành. tức 4 Tâm Thiện Dục Giơí Ly Trí và thiếu tam Tư ( tư tiền- tư hiện- tư hậu ). 1. Nhãn Thức Xả Thọ Thiện tâm Quả, Vô Nhân 2. Nhĩ Thức 3. Tỹ Thức 4. Thiệt Thức 5. Thân Thức 6. Tiếp Thu Thức 7. Quan Sát Thức 8. Quan Sát Thức Hỷ Thọ... Tâm Quả Thiện Dục Giới Hữu Nhân: có 8 Tâm, phát sanh do 8 tâm Thiện Dục Giới Tịnh Hảo Hữu Nhân. 1. Tâm Quả Thiện Hỷ Thọ ưng Trí vô trợ 2. Tâm Quả Thiện Hỷ Thọ ưng Trí hữu trợ 3. Tâm Quả Thiện Hỷ Thọ phi ưng Trí vô trợ 4. Tâm Quả Thiện Hỷ Thọ phi ưng Trí hữu trợ 5. - 6. - 7. - 8. cũng vậy, nhưng thuộc Xả Thọ 4 Tâm Thiện phi tương ưng Trí, đủ 3 Tư, cho ra 12 Quả ( 8 tâm quả vô nhân + 4 tâm quả thiện dục giới phi ưng trí) 4 Tâm Thiện tương ưng Trí, thiếu 3 Tư, cho ra 12 Quả như trên. 4 Tâm Thiện tương ưng Trí, đủ 3 Tư, cho ra 16 Quả ( 8 tâm quả Vô nhân + 8 tâm quả thiện dục giới hữu nhân). Tâm Quả Thiện Sắc Giới: có 5 tâm, phát sanh do bởi 5 Tâm Thiền Thiện Sắc Giới. 1. Tâm Quả Thiện Sơ Thiền 2. Tâm Quả Thiện Nhị Thiền 3. Tâm Quả Thiện Tam Thiền 4. Tâm Quả Thiện Tứ Thiền 5. Tâm Quả Thiện Ngũ Thiền Tâm Quả Thiện Vô Sắc Giới: có 4 tâm, phát sanh do bởi Bất Động hành, tức 4 Tâm Thiền Thiện Vô Sắc Giới. 1. Không Vô Biên Xứ Quả Tâm 2. Thức Vô Biên Xứ Quả Tâm 3. Vô Sở Hữu Xứ Quả Tâm 4. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Quả Tâm Trong 32 Tâm Quả nầy, có 19 Tâm Quả làm việc Tục Sinh (thức tái tục, Patisandhi vinnana) sang kiếp sống mới là: 2 Tâm Quả Quan Sát Xả Thọ Vô Nhân (bất thiện,Thiện) + 8 Tâm Quả Thiện Dục Giới hữu nhân + 5 Tâm Quả Thiện Sắc + 4 Tâm Quả Thiện Vô Sắc. Ở đây, khi nói đến Hành duyên Thức, thì Thức nầy chính là 19 Thức Tái Tục cần được hiểu như thế. Đối với Duyên Hệ, Hành duyên Thức có 2 duyên: Di.Thời Nghiệp duyên và Thường Cận Y Duyên . Chú Thích: 7 Tâm Quả Bất Thiện Vô Nhân và 8 Tâm Quả Thiện Vô Nhân là 15 Tâm Dị Thục Vô Nhân. Thật ra Tâm Vô Nhân có 18 Tâm tức cộng thêm 3 Tâm Duy Tác Vô Nhân là: Khán Ngũ Môn, Khán Ý Môn và Ưng Cúng Vi Tiếu. Vô Nhân Tâm (ahetukacitta): trong các Tâm nầy không tìm thấy có các Nhân đồng sanh nên được gọi là Vô Nhân, hay nói cách khác là các tâm nầy không có các nhân đồng sanh. Nhân: tức chủng tử, căn gốc của các pháp, Nhân có 2 thể loại, một Thiện một Bất Thiện và mỗi thể loại có 3 Nhân, tổng cộng có 6 Nhân là: Tham- Sân- Si (bất thiện) và Vô Tham- Vô Sân- Vô Si (thiện). Dị Thục (Vipàka): tất cả những Nhân Thiện, Bất Thiện phát xuất từ đời trước đưa đến kết quả Lạc - Khổ trong đời hiện tại mà những Quả nầy thuộc tánh Vô Ký nên bị biến dị mà thục , do vậy được gọi là Di Thục, lại nữa, Nhân được tạo ở một thời điểm khác và Quả thành tựu lại ở một thời khác, do vậy nên được gọi là dị thời mà thục. 5 Quả Thức Bất Thiện và 5 Quả Thức Thiện: Nhãn thức (cakkhuvinnàna), Nhĩ thức (sotavinnàna), Tỷ thức (ghànavinnàna), Thiệt thức (Jivhàvinnàna), Thân thức (kaỳavinnàna), thường được định danh là Ngũ Song Thức (Dvipancavinnàna). Tiếp thu thức (sampaticchana): là một loại tâm sanh lên sau một trong ngũ song thức làm phận sự tiếp nhận cảnh (sắc, thinh, hương, vị, xúc) từ ngoài vào. Quan Sát thức (santìrana): sanh lên sau Tâm tiếp thu để làm nhiệm vụ suy xét cảnh. 8 Tâm quả thiện dục giới hữu nhân là quả dị thục của 8 tâm Thiện dục giới hữu nhân, 8 Tâm quả Thiện Vô Nhân cũng là quả dị thục của 8 tâm thiện nầy. Như vậy, 16 tâm quả thiện được tạo ra do 8 tâm thiện dục giới hữu nhân và 7 tâm quả bất thiện vô nhân có đuợc là do 11 tâm bất thiện. Hữu nhân (sahetuka): trong các loại tâm nào mà trong nó được tìm thấy có các nhân đồng sanh thì được gọi là hữu nhân. 5 Tâm Quả Sắc Giới: là kết quả thành tựu do 5 tâm thiền sắc, mặc dù là hệ quả nhưng chúng đều có các chi thiền giống hệt như các tâm thiền do công năng của các tâm thiền và đặc biệt các tâm quả nầy chỉ sanh khởi ở đời sau khi được sanh làm Phạm Thiên cõi sắc giới nếu không bị hoại thiền trong kiếp sống hiện tại. 4 Tâm Quả Vô Sắc: một sự thành tựu đặc biệt giống hệt như thiền tâm vô sắc được hiện khởi khi sanh về cõi trời Phạm Thiên Vô Sắc. III Vinnànapaccayà nàmarùpam: Thức duyên Danh – Sắc Danh (nàma) và Sắc (rùpa) là 2 thành phần riêng nhưng được sanh khởi do từ Thức. Danh, nói một cách tổng quát là Thọ, Tưởng, Hành đồng hiện khởi với Thức, do vậy, Thức có mặt thì Danh có mặt, 4 pháp nầy là 4 pháp bất khả phân ly còn được gọi là Tứ Danh Uẩn. Ở cõi Vô sắc thì Thức duyên Danh, cõi Vô Tưởng thì Thức duyên Sắc, cõi Sắc giới và Dục giới thì Thức duyên đủ cả Danh và Sắc. Thức duyên Danh: Danh, phân chi tiết là: 13 tâm sở tợ tha + 19 tâm sở tịnh hảo biến hành + 2 tâm sở Bi- Hỷ và 1 tâm sở Trí tuệ. Tổng cộng có 35 tâm sở được sanh khởi do duyên từ Thức. Thật ra, toàn bộ tâm sở có được là 52: 13 tợ tha + 14 bất thiện + 25 tịnh hảo. Do bởi có sự khiếm khuyết trên vì các Tâm sở Bất thiện không thể có mặt trong các Tâm Quả Bất Thiện vô nhân vì chúng là những tâm quả không có Nhân chủng như những Tâm quả hữu nhân và chức năng của chúng chỉ làm những phận sự đơn thuần là"thấy, nghe, ngữi, nếm, xúc, tiếp thâu và quan sát" nên không thể có các tâm sở bất thiện can dự vào. Riêng phần Tịnh hảo tâm sở thì thiếu 3 Giới phần vì giới phần chỉ sanh khởi khi nào có tác ý trì giới. Nói cách khác, thì Tâm sở Giới phần (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng) chỉ phối hợp trong 40 tâm siêu thế (3 chi phần trong Bát chánh đạo) và 8 tâm dục giới tịnh hảo để làm nhiệm vụ duy trì giới hạnh, còn ở đây thì chỉ là những tâm quả nên giới phần không sanh chung . Tâm Sở, cetasika, (mental factors): Những trạng thái nào sanh lên có 4 đặc tính phụ thuộc vào Tâm là: đồng sanh (ekuppàda), đồng diệt (ekanirodha), đồng biết cảnh (ekàlambana), đồng nương vật (ekavatthika) thì được gọi là Tâm Sở. Đặc biệt riêng chúng sanh cõi Vô sắc vì không có thành phần sắc nên chỉ có 3 sự đồng, trừ ra đồng nương vật. Nói cách khác, Tâm sở được gọi như vậy vì nó là những thành phần phụ thuộc vào Tâm, nương gá nơi Tâm, sanh trong Tâm (Cetasi bhavam cetasikam). Tứ ý Nghĩa: Trạng thái (lakkhana): là có sự nương gá nơi Tâm Phận sự (rasa): là không xa rời Tâm Sự thành tựu (paccupatthàna): có cùng cảnh với Tâm Nhân gần (padtthàna): phải có sự hiện diện của Tâm Tâm Sở Tợ Tha, aññasamāna cetasika (ethically variables): Añña: một cái khác, samāna: chung.Añña samāna: chung với cái khác. Như vậy, Tâm sở tợ tha là một nhóm tâm sở mang tính hợp chung với các tâm và tâm sở khác và đồng tính với cái mà nó hoàhợp. Nếu nó hợp với những tâm, tâm sở tốt, thì nó mang tính đó, còn khi hợp với những tâm xấu, ác thì nó mang tính ác, xấu và khi nó hợp với những tâm vô ký, không thiện không ác thì nó đồng tính với các tâm đó, do vậy, chúng được định danh là Tâm sở tợ tha. 13 Tâm sở tợ tha phân thành 2 nhóm: Tâm sở biến hành và Tâm sở biệt cảnh Tâm Sở Biến Hành,sabbacittasàdhàrana, (universals): Là sự vận hành biến mãn có mặt trong tất cả các loại Tâm. Có 7 Tâm sở biến hành: Xúc (phassa) – Thọ (vedanà) – Tưởng (saññā) – Tư (cetanà) – Nhất hành (ekaggatà) – Mạng quyền (jìvitindriya) – Tác ý (manasikàra). Bảy Tâm sở nầy là thành phần nồng cốt của Tâm. Bất cứ một loại Tâm nào cũng đều phải có sự hiện diện của chúng, nếu không thì không thể thành tựu được 1 loại Tâm. Điều tất yếu của các pháp Hữu Vi là phải có ít nhất là 8 thành tố đồng tương hợp. Tâm và 7 Tâm sở biến hành = 8; Sắc pháp cũng vậy, dù là 1 đơn vị nhỏ nhất hay một vật thể lớn nhất cũng phải có 8 sắc đồng tương hợp, đó là Đoàn Bát Thuần (đất- nước- lửa- gió- sắc- khí- vị- vật thực ). Tâm sở biệt cảnh, pakinnaka cetasika, (occasionals): Là một loại tâm sở chỉ sanh hợp tuỳ theo Tâm. Có 6 Tâm sở biệt cảnh: Tầm (vitakka) – Tứ (vicàra) – Thắng giải (adhimokkha) – Cần (viriya) – Hỷ (pìti) – Dục (chanda). Sáu tâm sở nầy có mặt tuỳ theo loại Tâm, chẳng hạn như: Tầm không có trong Tâm nhị thiền, Thắng giải(quyết định) không có mặt trong tâm Si hoài nghi, Hỷ không có mặt trong các Tâm thọ Xả. Chú thích: - Xúc, phassa, (contact): Là sự xúc chạm của Tâm sở (chủ thể) với đối tượng vật chất hay tâm linh. Xúc được tiên khởi vì nếu không có xúc thì không thể có sự tiếp cận đối tượng. Xúc cũng là một chi phần quan trọng trong 12 Nhân Duyên, không có xúc thì Thọ không sanh. Đối với cõi ngũ uẩn, Xúc tức sự tiếp giáp của 3 pháp Căn + Cảnh + Thức, chẳng hạn như: Mắt xúc Cảnh sắc, Nhãn thức sanh lên, khi hội đủ 3 pháp nầy thì được gọi là Nhãn xúc. Cũng vậy, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân. Nói một cách chính xác là khi Tâm tiếp xúc cảnh thì ngay khi đó Tâm sở Xúc sanh ngay dù ở bất kỳ cảnh giới nào, ngoại trừ cõi Vô Tưởng. Phân tích sự hiện khởi của Xúc qua 5 giác quan: Trước tiên, các căn môn cần phải có đầy đủ (thần kinh Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân) và cả Sắc Ý Vật là nơi Tâm nương. Cái thấy được hình thành: Thần kinh Nhãn tiếp xúc cảnh sắc khi hội đủ 4 yếu tố như: cảnh sắc, ánh sáng, khoảng không và sự chú ý. Khi cảnh sắc do nhờ đủ các điều kiện trên rồi soi chiếu vào Nhãn căn, lúc nầy vẫn chưa có sự thấy hình thành vì cảnh chưa xúc chạm vào Tâm Hộ Kiếp (một loại tâm làm nhiệm vụ duy trì kiếp sống), cho đến khi cảnh và Tâm hộ kiếp nầy chạm nhau thì khi đó Tâm Nhãn thức sanh lên đồng thời Xúc cũng hiện khởi, ngay tại lúc nầy đây, sự thấy được hình thành. Thật ra, trước khi Nhãn thức sanh lên phải có một vài sátna tâm khác sanh lên trước trong quá trình diễn tiến của lộ tâm như: sát na Hộ kiếp bị rúng động do bỡi sự xúc chạm của cảnh rồi dứt vòng Hộ kiếp, tiếp đến 1 sát na tâm làm phận sự hướng môn ( ngũ môn hướng tâm) hướng về căn môn nào đang tiếp nhận cảnh, ở đây là cảnh sắc nên tâm hướng về mắt, lúc nầy Nhãn thức mới thật sự sanh khởi để làm phận sự Thấy biết cảnh. Cũng vậy, Cái Nghe cần phải có đầy đủ các yếu tố như: Thần kinh Nhĩ, âm thanh, khoảng không ( không bị cách âm), có sự chú ý. Cái Ngữi gồm có: Thần kinh Tỷ, hơi mùi, có gió đúng hướng, sự chú ý. Cái Nếm gồm có: Thần kinh Thiệt, cảnh vị, có nước miếng hoà vị, sự chú ý. Cái Xúc chạm thân gồm có: Thần kinh Thân, cảnh đụng chạm(nóng, lạnh, mềm, cứng..), chất cứng của Đất và sự chú ý. Khi có đủ các yếu tố trên, Thức và Xúc sanh khởi. Phật ngôn dạy: "Tất cả các pháp lấy Xúc làm tập khởi". Tứ ý nghĩa: Trạng thái (lakkhana): sự va chạm, xúc chạm giữa Tâm và Cảnh Phận sự (rasa): làm nối liền tâm – cảnh – căn (cõi 5 uẩn), tâm – cảnh ( cõi 4 uẩn) Sự thành tựu (paccupatthàna): thực hiện được sự kết hợp cả 3 pháp Căn – cảnh –Thức; 2 pháp Cảnh – Thức . Nhân gần: padatthàna): phải có cảnh hiện bày. Xúc phân theo Căn, Môn có 6 (nhãn,nhĩ,tỷ,thiệt,thân,ý); theo Tâm có 121. - Thọ,vedanà,(feeling): Thọ lảnh, hưởng cảnh, nhận lảnh, cảm thọ, kinh nghiệm...được giải thích là Thọ. Từ căn Vid có nghĩa là thọ lãnh hay từ chữ Pali Vedayatìti, tức Vedanà: thụ hưởng cảnh là Thọ. Thọ sanh từ Xúc, do có Xúc, Thọ sanh. Ở đây không có nghĩa là Thọ sanh sau Xúc mà cả hai đều đồng hiện hữu không trước không sau. Sở dĩ Xúc được thuyết lên trước là vì: a- nói theo lý tánh là phải có sự xúc chạm cảnh thì tâm mới sanh, chẳng hạn như khi có gió thổi đụng vào thân, thì ngay lúc đó có sự xúc chạm giữa gió và thân nhưng đồng thời sự cảm nhận lạnh hay mát tức là cảm thọ vậy. b- Xúc được tiên khởi là để phù hợp cho sự giảng. c- Xúc là duyên cho Thọ, nói theo 12 duyên khởi. Thọ có 2: Tâm và Thân . Thọ có 3 loại nói theo kinh: Khổ- Lạc- Xả. (khi có cảnh khả ái khả hỷ, thì đa phần có sự hoan hỷ nơi tâm và cả sự an lạc nơi thân, hoặc khi có đối tượng không ưa thích, không hài lòng..thì thường có cảm thọ khó chịu ưu phiền nơi tâm và có sự uể oải nơi thân ) Theo Abhidhamma có 5: Khổ- Lạc- Hỷ- Ưu- Xả.( Đối với Tâm có 3: Hỷ- Ưu- Xả. Thân có 2: Khổ và Lạc. (xem phần Thọ ở trên). Thọ tính theo môn có 6: nhãn thọ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thọ . Thọ liên hệ 6 trần cảnh (sắc- thinh- hương- vị- xúc- pháp) 3 Thọ x 6 cảnh = 18. Thọ có 108 là: 18 thọ x 2 (nhiễm đắm và không nhiễm qua 6 cảnh) = 36 thọ; 36 thọ x 3 thời (quá khứ,hiện tại, vị lai) = 108 Thọ . Tứ ý nghĩa của 5 Thọ: - Thọ Lạc: là những cảm thọ khoái lạc phát sanh từ sự xúc cham nơi thân. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: là sự hưởng thọ, sự lảnh nhận cảnh tốt từ xúc Phận sự: là tạo cho các pháp đồng sanh được phát triển tương hợp Sự thành tựu: tạo cho thân có được sự an lạc Nhân cần: có Thần kinh thân - Thọ Khổ: là những cảm thọ đau đớn khó chịu, bất toại nguyện phát sanh từ thân xúc. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: có sự xúc chạm cảnh xấu nơi thân. Phận sự: tạo cho các pháp cùng sanh bị lảnh chung cảm thọ. Sự thành tựu: thân khi bị đau đớn hay nhức nhối khó chịu. Nhân cần: có thần kinh thân - Thọ Hỷ: trạng thái hân hoan, vui thích, phấn khởi nơi tâm khi có sự xúc nơi đối tượng thích hợp, vừa ý. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: có sự hoan hỷ vui thích, hài lòng khi thọ hưởng được cảnh như ý Phận sự: làm cho các pháp đồng sanh hưởng được cảnh hài ý. Sự thành tựu: có được trạng thái vui vẽ, hớn hở. Nhân cần: có thân tâm yên tịnh. ( thân không bệnh, tâm yên ổn không bị suy sụp, tổn hại về tài sản, thân tộc, nỗi bất hạnh về bệnh ngặt nghèo, hoặc giới bị lung rách, tri kiến bị hư hoại, hay do tâm rối loạn vì phiền não. - Thọ Ưu: trạng thái ưu uất, sầu não, ưu bi, suy sụp của tâm khi xúc cảnh bất toại. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: sự thọ nhận cảnh bất toại, không ưa thích. Phận sự: làm cho các pháp đồng chịu chung trạng thái ưu buồn Sự thành tựu: có tâm đau khổ, ưu sầu. Nhân cần: phải có Tâm sắc (sắc ý vật, hadayavatthu; ưu thọ là kẻ thù của tâm, tâm không hoan hỷ khi có ưu, do vậy, nhân gần của ưu thọ không thể là danh pháp mà phải là sắc pháp, tức sắc ý vật là nơi nương gá của tâm và tâm sở.) - Thọ Xả: khi có trạng thái không vui không buồn, không khổ không lạc, khi đó có thọ xả tức phi khổ phi lạc thọ. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: sự tiếp nhận cảnh một cách thản nhiên (dù cảnh tốt hay xấu, không nên hiểu là cảnh trung bình không tốt không xấu) Phận sự: làm quân bình các pháp tương ưng Sự thành tựu: có trạng thái quân bình thản nhiên (tâm ,cảnh có sự yên tinh.) Nhân cần: loại trừ pháp (tâm sở) Hỷ.( xa lìa sự hoan hỷ và đương nhiên phải hiểu là cả khổ và lạc không có). - Tưởng, sannà, (perception): Là sự nhớ, nhận thức một cái gì đó đã từng biết qua các giác quan. Saññā từ căn sam + nà: biết; sam: mất, suy nghĩ...; vậy Tưởng có nghĩa là biết lại cái gì đã mất, đã qua. Tâm sở Tưởng làm nhiệm vụ trợ giúp cho tâm nhận biết đối tượng mà tâm đã từng gặp xuyên qua các căn, môn. Nói cách khác, Tưởng là sự nhận biết đối tượng, nhớ lại trạng lại qua dấu hiệu đã từng biết, từng gặp, như một người thợ làm nhà nhận ra được cột nầy làm cho chổ nào cột kia đặt nơi đâu...qua dấu được đánh lên. Tưởng là 1 trong những tâm sở rất quan trọng, tưởng là 1 uẩn riêng biệt trong 5 uẩn, tưởng dẩn tâm lang thang trong muôn vàn hiện tượng, tưởng ghi nhớ đối tượng rồi dẩn đến sự suy diển, nếu xa hơn sẽ trở thành tưởng tượng, bóp méo sự vật, nếu tưởng được đặt đúng hướng thì sẽ dẩn đến lợi ích thiết thực trong công việc tu tập chẳng hạn như tưởng bất tịnh, tưởng vô thường, khổ, vô ngã..mặc dù tưởng không thể làm phận sự thấy được chân tướng các pháp nhưng chính nhờ tưởng trợ cho Thức tri rồi thức tri dẩn đến Tuệ tri để từ đó thực chứng được các pháp đúng theo thực tính của nó. Trong kinh Căn bản pháp môn (trung bộ) Đức Phật có thuyết như sau: - - " Này các Tỷ- kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.”“Này các Tỷ- kheo, có Tỷ- kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: "Ðịa đại là của ta", - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.” Qua 2 câu kinh trên chúng ta thấy rằng: nếu dùng Tưởng tri thì không thể nào nhận chân ra được thực tính pháp, chỉ có Thắng tri và Tuệ tri mới có đủ năng lực phá vỡ bức màn vô minh và soi thấu thực tánh của vạn pháp. Tưởng có 6 loại: Sắc tưởng – Thinh tưởng – Khí tưởng – Vị tưởng – Xúc tưởng – Pháp tưởng . Tứ ý nghĩa: Trạng thái: có sự trạng lại, nhớ lại Phận sự: làm cho nhớ lại qua các dấu tích đã từng gặp Sự thành tựu: đã nhớ lại được cảnh đã gặp Nhân cần: có cảnh hiện bày trợ tạo - Tư, cetanà,(volition): Là một loại tâm sở rất quan trọng trong 50 tâm sở thuộc hành uẩn, nó mang đặc tính tạo tác, hành động, gây nên nghiệp thiện hay bất thiện. Phật ngôn: "Cetanànam Bhikhave kammam vadàmi": Nầy các thầy Tỳ Khưu, Nghiệp chính là Sở hữu Tư . Cetana được biết xuất nguyên từ ngữ căn “Cit” giống như Citta hay Cetasika, đươc dịch là: suy gẫm hay suy tư. Ở đây, sự suy tính mang tính đặc biệt là sự suy tính có tánh tạo tác phối hợp với các pháp đồng sanh thúc giục tiến hành tạo thành nghiệp thân, khẩu, ý thiện hay bất thiện. (xem phần Vô Minh duyên Hành). Khi Tư phối hợp trong các tâm hiệp thế thì nó ở một vị thế chủ động dẩn đến sự chất chứa nghiệp (nghiệp là thai tạng). Nhưng đối với Siêu thế tâm, một loại tâm đưa đến sự đoạn trừ các Nghiệp nên Tư vô hiệu lực không tác thành nghiệp và được thay vào bằng tâm sở Trí tuệ có công năng đoạn trừ nghiệp và đâm thủng vô minh. Cùng thế ấy, đối với các tâm thuộc hệ quả thì Tư không tác thành phận sự của mình vì tâm quả có tánh thụ động. Do vậy ở đây Tư mang ý nghĩa là liên kết các pháp đồng sanh không mang nghĩa tạo tác hay tích trữ nghiệp để cho quả về sau. Có 6 loại Tư: Sắc tư – Thinh tư - Khí tư – Vị tư – Xúc tư – Pháp tư . Tứ ý nghĩa: Trạng thái: thúc giục, đôn đốc, kích thích các pháp đồng sanh. Phận sự: là làm cho các pháp tương ưng đồng hướng bắt đối tượng Sự thành tựu: sắp đặt được, phối hợp được các pháp đồng sanh Nhân cần: có 3 danh uẩn ( thọ- tưởng- thức). - Nhất Hành, Ekaggatà, (one- pointedness): Được hiểu là trạng thái đứng yên, không lay động, nhất điểm. Ekaggatà; eka= một, + agga = cao cùng tột; vậy ekaggalà một điểm cao cùng tột và được dịch là nhất điểm hay nhất hành. Lại nữa, Ekaggatà cần được hiểu là một loại tâm sở mang tính trợ cho các tâm, tâm sở liên kết gìn giữ không cho bị rời rạc để cùng an trú vào một cảnh và khi được trao luyện sẽ dẩn tiến đến trạng thái được gọi là Định (samàdhi) và từ đó sẽ phát triển các loại Thông (diệu trí; abhinnà). Pali: "Àrammana cittam samamàdhiyati= Ekaggatà". "Giữ tâm quân bình không lay động trong cảnh, gọi là Nhất Hành". Tứ ý nghĩa: Trạng thái: không loan động, không chao động trước đối tượng Phận sự: gom tụ các danh pháp đồng sanh Sự thành tựu: có sự yên tỉnh. Nhân cần: thọ Lạc (có sự yên vui, không chao đảo) - Mạng Quyền, Jìvitindriya,(life faculty): "Jivanti sahàjàta dhammà etenàti = Jivitam: Giữ được các danh pháp đồng sanh tồn tại, nên gọi là Mạng". "Indanti parama issariyam karontìti = Indriỳani: Nhiều sự kiểm soát cao nhất đang được thực hiện, nên được gọi là Quyền". Vậy Jìvitindriya cần được hiểu là: Cai quản, kiểm soát và gìn giữ các pháp đồng sanh được tồn tại. Một lối giải thích khác: Jivita là Mạng vì nuôi dưởng các pháp cùng hiện hữu tồn tại tròn đủ 3 sát na tiểu sanh - trụ – diệt. Indriya là Quyền vì nó có khả năng điều hành và cai quản được các pháp cùng sanh. Có 2 loại mạng quyền: Danh mạng quyền và Sắc mạng quyền Riêng Sắc mạng quyền là loại sắc do nghiệp tạo, nó có khả năng bảo tồn đời sống các sắc được duy trì trong 51 sát na tiểu = thời gian 17 sát na Tâm sanh và diệt. Loài cây cỏ v.v. không có loại sắc nầy, sự tồn tại của chúng nương vào thời tiết và vật thực riêng vì chúng phát sinh không từ nghiệp tạo hay tâm tạo. Sự sanh khởi 2 pháp nầy đối với người 5 uẩn là chúng cùng sanh khi tâm tục sinh sanh (khởi đầu kiếp sống mới) và chúng đồng diệt với tâm tử (chấm dứt toàn bộ 1 kiếp sống); còn với Phạm Thiên cõi Vô sắc ( 4 danh uẩn) thì chỉ có Danh mạng quyền đồng sanh với tâm tục sinh; riêng người Vô tưởng thì chỉ có sắc mạng quyền làm phận sự tục sinh. Do đó, Chết là sự chấm dứt Danh mạng, Sắc mạng hoặc cả hai. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: bảo tồn nuôi dưỡng các pháp đồng sanh.(như mẹ nuôi con) Phận sự: duy trì các pháp đồng sanh cho được sống còn trong 3 sát na tiểu. Sự thành tựu: gìn giữ được các pháp đồng sanh tồn tại tròn đủ tuổi thọ Nhân cần: 3 danh uẩn (thọ, tưởng, thức) - Tác Ý, Manasikàra,(attention): Manasi: nơi tâm ý; Kara: tạo tác, làm ra. Manasikàra: Tác ý. Một cách chính xác, manasikàra là sự hướng tâm, tâm sở đến đối tượng , đưa tâm cùng các tâm sở tương ưng đến với đối tượng, giống như tay lái đưa xe đi đến đúng hướng đúng nơi. Pali: rammanam manasipatipdyatỵti: Manasikra = gom thâu đối tượng làm thành cảnh cho tâm= Tác ý đưa tâm đến đối tượng. Như vậy, tác ý còn được hiểu như là một ống kính hội tụ hướng đến gom thâu cảnh laị trong một phạm vi thích hợp nào đó để làm thành cảnh cho tâm biết được. Ngoài ý nghiã làm thành cảnh cho tâm, tác ý còn có nghĩa tác thành tâm lộ, tức tác ý hướng đến 1 trong 5 cảnh qua 1 trong 5 môn bằng Tâm hướng ngủ môn trợ cho lộ tâm được sanh khởi và một ý khác nữa là tác ý thành lộ Đổng tốc(javana), đây là nói đến phận sự của Ý môn hướng tâm trợ cho đổng tốc sanh. Có 2 loại tác ý: Như lý tác ý và phi như lý tác ý. Như lý tác ý (Yoniso manasikàra): Yoni là trung điềm, nguyên nhân, điều kiện tạo tác, nhân duyên; So: là đúng cách, đúng phương thức. Vậy, Yoniso Mansikàra là chú ý hướng tâm đúng pháp , chú ý đúng trọng tâm, đúng nhân duyên, nhân quả, hay nói cách khác là chú ý đúng theo thực tánh pháp. Ngược lại, ayoniso manasikàra là sự chú ý không đúng pháp, không có chuyên chú trên thực tánh lý, tác ý sai không theo lý nhân quả, nhân duyên. Do vậy, thiện pháp hay bất thiện pháp tăng trưởng, giảm thiểu là cũng từ 2 pháp nầy. Nếu như lý tác ý thì thiện pháp sanh, phi như lý tác ý thì bất thiện sanh. Tăng chi bộ kinh: "Ta không thấy một pháp nào khác, này các tỷ kheo, do pháp ấy các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các tỷ kheo như "như lý tác ý""Ta không thấy một pháp nào khác, này các tỷ kheo, do pháp ấy các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi và các pháp thiện đã sanh được đoạn tận, này các tỷ kheo như "phi như lý tác ý" "Có hai duyên này, này các Tỷ- kheo, khiến tham sanh khởi. Thế nào là hai? Tịnh tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ- kheo, là hai duyên khiến tham sanh khởi. Có hai duyên này, này các Tỷ- kheo, khiến sân sanh khởi. Thế nào là hai? Chướng ngại tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ- kheo, là hai duyên khiến sân sanh khởi. Có hai duyên này, này các Tỷ- kheo, khiến tà kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ- kheo, là hai duyên khiến tà kiến sanh khởi." Các điều cần chú ý: tâm sở Tác ý và tâm sở Tầm hoàn toàn khác nhau, tác ý thì hướng tâm, tâm sở đến đối tượng , Tầm thì có tánh cách là quăng tâm, tâm sở lên trên đối tượng. Tác ý đúng hướng làm duyên cho Trí tuệ sanh chứ không phải Tác ý là trí tuệ. Đức Phật có dạy: "Này các tỷ kheo, điềm đi trước là tướng báo trước bảy giác chi sanh khởi, tức là như lý tác ý. Tỷ kheo thành tựu như lý tác ý, này các tỷ kheo, được chờ đợi rằng: Bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn" Và: "Này các tỷ kheo, cái đi trước và điềm tướng báo trước Thánh Đạo tám ngành sanh khởi chính là đầy đủ như lý tác ý (yonisomanasikārasampadā)”. Nhân duyên để phát khởi Như lý tác ý: gồm 1 nhân trong quá khứ và 4 nhân trong hiện tại. Thiện nghiệp được tu tập tích luỹ trong quá khứ và 4 nhân hiện tại là ở nơi thích hợp (có chánh pháp), thân cận các bậc thiện trí (bậc có tri kiến đúng đắn), nghe nhiều học rộng(chánh pháp), và luôn an trú thân tâm trong chánh pháp(thân- khẩu- ý hợp với thiện pháp, giới trong sạch, tri kiến đúng đắn). Tứ ý nghĩa: Trạng thái: hướng các pháp đồng sanh đến đôí tượng (nhản căn tiếp xúc cảnh sắc, Ngủ môn hướng tâm sanh, trong nó tâm sở Tác ý đồng sanh hướng các tâm sở tương ưng cùng hướng về đối tượng như chính nó.) Phận sự: làm cho các pháp đồng sanh hướng đến cảnh liên tục Sự thành tựu: hoàn thành việc hướng tâm, tâm sở đến cảnh Nhân cần: có cảnh hiện bày ( hiện tại hoặc cả 3 thời). (xong phần 7 tâm sở Biến hành) - Tầm, Vitakka, (initial application): Vitakka = vi + takk: suy tư, suy nghĩ. Vitakkam= vitkka: tìm kiếm cảnh, tầm cảnh Trong Kinh tạng thì vitakka được dùng với nghĩa" tư tưởng" còn trong tạng Abhidhamma thì vitakka cần được hiểu là dán áp tâm, tâm sở lên đối tượng hay đem tâm đến đối tượng. Tầm, khi phát triển trong sự tu tập thì sẽ trở thành một tâm sở khá quan trọng, trong Sơ thiền, Tầm được gọi là Appanàvitakka" an chỉ Tầm"vàcó công năng đối trị Hôn Thụy. Khi đạt đến đạo quả thì Tầm trở thành 1 trong bát chi đạo, tức Chánh Tư Duy. Tầm được đặt vào nhóm tâm sở biệt cảnh là vì có một số tâm không cần sự hiện hữu của nó, không giống như các tâm sở biến hành luôn có mặt trong tất cả tâm. Tầm không có mặt trong Ngũ song thức (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân; "thiện,bất htiện") vì 1 trong 5 cảnh trần xúc đối với 1 trong 5 căn trực tiếp, có cảnh rỏ, đồng nương một vật và ngay trong thời hiện tại, do các nhân duyên nầy 1 trong 5 Thức sanh do duyên từ Căn + Cảnh trợ tạo một cách tự nhiên không cần suy tư tìm kiếm. Trong các tâm thuộc Nhị thiền, Tầm cũng không có mặt vì bị coi là thô pháp nên bị loại bỏ trong tâm nhị thiền. Tầm chỉ có trong các Tâm đại thiện trong lộ cận định của Nhị thiền, các tâm ở giai đoạn Chuẩn bị - Cận hành - Thuận thứ - Chuyển tộc đều có Tầm, nhưng khi bước qua Tâm nhị thiền thì Tầm bị loại bỏ. Tầmkhông có trong Nhị thiền mà vẩn an trú trong đối tượng cũng là nhờ đối tượng (quang tướng) rất rõ và nhờ Tầm trong các tâm ở giai đoạn cận định hỗ trợ. Có 6 loại Tầm: Sắc tầm - Thinh tầm - Khí tầm - Vị tầm - Xúc tầm - Pháp tầm. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: đem các tâm,tâm sở tương ưng đến cảnh Phận sự: làm cho các tâm, tâm sở hướng đến cảnh Sự thành tựu: tâm, tâm sở đồng sanh đến được cảnh Nhân cần: có cảnh hiện bày và 3 danh uẩn. - Tứ, Vicàra, (sustained application): Ngữ căn Vicar:kềm giữ cảnh, giữ tâm khắn khít cảnh. Vicranam = vicàro: Kềm giữ cảnh gọi là Tứ. Vicàra còn có một nghĩa đặc biệt trong Abhidhamma là một trạng thái suy xét, quán sát đối tượng từ sự dán áp tâm trên đối tượng của Tầm. Tứ, khi phát triển đạt đến một trong 5 chi thiền thì nó có công năng đối trị sự Hoài Nghi vì qua sự quán sát cảnh thấy cảnh một cách thiết thực rõ ràng trong thiền định, do đó sự hoài nghi bị loại trừ. Tâm sở Tứ có 6: Sắc Tư - Thinh Tư - Khí Tứ - Vị Tứ - Xúc Tứ - Pháp Tứ. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: sự quan sát trông nom cảnh Phận sự: làm cho tâm, tâm sở khắn chặt liên tục trên cảnh Sự thành tựu: bó chặc được các pháp tương ưng không cho xa lìa cảnh Nhân cần: có đối tượng và 3 danh uẩn.(thọ- tưởng- thức) - Thắng giải, Adhimokkha, (decision): Adhi + muc: khẳng định, quyết định, phán quyết.(pali text dictionary:firm resolve, determination, decision). Trong Vi diệu pháp toát yếu thì Adhi+muc = phóng thích; như vậy chúng ta có thể hiểu Adhimokkha là phóng thích tâm,tâm sở ra khỏi sự nghi hoặc để đến thẳng được đối tượng bằng sự quyết định. Không có Adhimokkha thì mọi việc không thể thực hiện được. Sự quyết nầy ví như sự phán quyết của một vị quan toà khi đã quyết án thì mọi sự đều phải tuân theo. Imam’eva’ti sannitthàna karanam = Adhimokkha:sự khẳng định, quả quyết “ quả thật là cái nầy, đúng là cái nầy" tức Thắng Giải. Nên nhớ rằng sự quả quyết nầy có cả hai mặt "thiện, ác" và đặc biệt là nó không có mặt trong Tâm Si Hoài nghi vì nó đối nghịch với hoài nghi, có nghi thì không thể quyết và ngược lại đã quyết thì không còn nghi. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: sự quyết định, cách quả quyết. Phận sự: loại trừ sự lưỡng lự, có sự đoan chắc trong trong cảnh. Sự thành tựu: cảnh được xác định, phân đoán chắc chắn. Nhân cần: cảnh hiện bày thích ứng để quyết định (không bị phân vân) - Tinh Tấn,"cần", Viriya, (energy): từ căn ‘aj’+ ìr; ‘aj’= đi; ‘vi’thế cho ‘aj’= Vìra, với nghĩa là cuơng quyết, dũng mãnh. Do vậy, Viriya có thể hiểu qua câu Pali: Vìrànam bhàvo, kammam:hành động của người quả quyết, cương quyết. (không lui sụt). Tính nâng đỡ (upatthambana), cần mẫn (ussàhana), giữ vững (paggahana), là những từ mang tính gần nhất đối với Viriya. Vậy, Viriya là một tâm sở mang đặc tính là tích cực, siêng năng, cần mẩn không lui sụt của tâm trước mọi khó khăn. Tinh tấn có mặt hầu hết trong 37 Phẩm trợ đạo ( tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn , ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo; ngoại trừ Tứ niệm xứ). Cần không phải chỉ toàn là thiện mà nó cũng có mặt trong các pháp bất thiện, do vậy, chúng ta có 2 loại cần: Tà cần và Chánh cần. Tà cần: tâm sở Cần đồng sanh trong các Tâm bất thiện cùng các tâm sở tương ưng tạo nên những sự tích cực hăng hái trong thân hành động hay khẩu, ý. Hay nói cách khác, tà cần là sự cố gắng tích cực tạo ra các ác nghiệp thuộc thân, khẩu và cố duy trì các ác tà kiến. Chánh cần: sự tích cực tinh cần diệt trừ ác pháp và làm sanh khởi, tăng trưởng thiện pháp. Tứ Chánh Cần: Thận cần (thận trọng tích cực cố gắng không cho pháp bất thiện sanh) Trừ cần ( cố gắng loại trừ các ác pháp đã sanh). Tu cần (tích cực tu tập làm cho các thiện pháp chưa sanh, được sanh). Bảo cần ( gìn giữ bảo bọc các thiện pháp và làm cho phát triễn thêm lên). Trích lục Bộ Phân tích: Tứ Chánh cần: Nơi đây, vi. Tỳ khưu ước vọng tinh tấn chuyên cần kiên tâm phấn đấu để không cho sanh các Ác bất thiện pháp chưa sanh. Ước vọng tinh tấn chuyên cần kiên tâm phấn đấu để đoạn trừ các Ác bất thiện pháp đã sanh.Ước vọng tinh tấn chuyên cần kiên tâm phấn đấu để phát sanh các thiện pháp chưa sanh.Ước vọng tinh tấn chuyên cần kiên tâm phấn đấu để duy trì không cho sút giảm, gia tăng, tiến triễn, phát triễn, bổ túc các thiện pháp đã sanh. Trong Tứ như ý túc, Cần đóng vai trò Cần như ý túc . Trong 5 căn: Tấn căn. Trong 5 Lực: Tấn lực. Trong Thất giác chi: Cần giác chi và Trong Bát chánh Đạo chính là Chánh Tinh tấn. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: sự tích cực chịu đựng. Phận sự: thúc đẩy trợ lực cho tâm,tâm sở đồng sanh không chùn bước. Sự thành tựu: có sự không lùi sụt. Nhân cần: có cảnh tác động làm rúng động. - Hỷ, Pìti, (zest): Ngữ căn Pi: hoan hỷ, vui thích, hân hoan. Vậy, Pìti là một tâm sở có tính trạng phấn khởi, phấn chấn, hoan hỷ với đối tượng. Nên nhớ, tâm sở Hỷ là một tâm sở riêng biệt không phải là Thọ hỷ, tâm sở Hỷ thì hoan hỷ với đối tượng còn thọ hỷ thì hưởng thọ cảnh một cách thích thú vui vẻ. ( như người khát nước thấy nước Hỷ sanh và khi uống được nước thì khi đó Hỷ thọ hay Lạc thọ sanh). Hỷ được tìm thấy trong 3 loại tâm Bất thiện, Thiện và Vô ký. Hỷ phân loại có 5: 1- Tiểu hỷ (Khuddakapìti): phát hỷ nổi da gà khắp châu thân. 2- Sát na hỷ (Khanika pìti): hỷ phát sanh nhanh như điển chớp có ánh sáng phát ra từ thân. 3- Hải triều hỷ (Okhantikapìti): hỷ sanh lên như hải triều dâng. 4- Khinh hỷ (Ubbegàpìti): hỷ sanh làm cho cảm giác toàn thân nhẹ nhàng bay bổng. 5- Sung mãn hỷ (Pharanapìti): hỷ sanh mạnh mẻ lâu dài thắm nhuần cả châu thân. Tứ ý nghĩa: Trạng thái: có sự hoan hỷ, vui mừng. Phận sự: làm cho tâm được hoan hỉ, thân được an lạc. Sự thành tựu: có được sự hân hoan, cảm giác nhẹ nhàng, tâm được no đủ hăng say. Nhân cần: có 3 uẩn ( thọ, tưởng, thức). - Dục, chanda, (desire): Từ căn chad: ước ao mong muốn, muốn thực hiện. Nên ghi nhận, Dục ở đây chỉ là một trạng thái mong muốn đơn thuần không phải là tham dục. Do đó Dục được phân thành 3 loại: 1- Tham dục (Kàmacchanda):khi nào có Dục |